Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài ngoại thương và Hội đồng Trọng
tài thương mại hàng hải. Mô hình trọng tài thứ hai là các trung tâm trọng tài kinh tế được
thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ.
Điểm đáng lưu ý là, các văn bản pháp luật về trọng tài trong thời điểm này đều có
hiệu lực pháp lý thấp, mới dừng ở mức cao nhất là nghị định. Nội dung văn bản còn có nhiều
điểm bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có cơ chế đảm bảo cần thiết để vận hành có hiệu quả.
Trong bối cảnh nền kinh tế mới trong giai đoạn bắt đầu chuyển đổi từ cơ chế kế
hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường, hệ thống pháp luật thương mại chưa được hình
thành một cách đồng bộ, chưa điều chỉnh kịp thời các quan hệ thương mại phát sinh trong
thực tiễn, Pháp lệnh TTTM 2003 ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc hình thành
và hoàn thiện pháp luật về trọng tài tại Việt Nam. Có thể nói, hầu hết các bất cập trước đây
đã được Pháp lệnh khắc phục và về cơ bản phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế, đặc
biệt là sự hoàn thiện các quy định về vai trò hỗ trợ và giám sát của tòa án đối với trọng tài
cũng như xác định hiệu lực pháp lý của Quyết định trọng tài và cơ chế thi hành Quyết định
trọng tài. Điều này làm cho các doanh nghiệp tin tưởng lựa chọn và sử dụng trọng tài nhiều
hơn.
Không những thế, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 về cơ bản phù hợp với pháp
luật và thông lệ quốc tế trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu của Trọng tài như: quy định
về hiệu lực của thoả thuận trọng tài, điều kiện trở thành Trọng tài viên, về trọng tài vụ việc,
mở rộng thẩm quyền chọn trọng tài viên, ghi nhận mối quan hệ giữa Trọng tài và Toà án bằng
một loạt các quy định cụ thể như hỗ trợ thi hành thoả thuận trọng tài, chỉ định Trọng tài viên,
giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời, giải quyết yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài v.v.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên, qua hơn sáu năm thực hiện, Pháp lệnh
này đã bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập như: Phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của trọng tài; chủ thể của các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài; giá trị pháp lý
của thỏa thuận trọng tài về mặt nội dung và hình thức; việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời; việc triệu tập nhân chứng; vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng
trọng tài; việc hủy quyết định trọng tài, vấn đề địa điểm tiến hành trọng tài; cách tính thời hiệu
khởi kiện v.v…
Theo thống kê của Trung tâm trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VIAC), trong năm 2007 TAND Thành phố Hà nội đã xử gần 9.000 vụ án
trong đó có khoảng 300 vụ tranh chấp kinh tế và TAND Tp. Hồ Chí Minh xử gần 42.000 vụ
3
án, trong đó có 1000 vụ tranh chấp kinh tế thì VIAC với tư cách là tổ chức trọng tài lớn nhất
Việt Nam cũng chỉ tiếp nhận 30 vụ tranh chấp trong năm 2007 và 58 vụ trong năm 2008.
Trong khi mỗi thẩm phán ở Toà kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm, ở Toà kinh tế
Tp. Hồ Chí Minh xử 50 vụ một năm thì mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0,25 vụ một
năm. Như vậy, một trong những nguyên nhân Trọng tài ít được các bên sử dụng phổ biến ở
nước ta là do chưa có những cơ sở pháp lý cần thiết cho việc thực hiện chính sách nhất quán
khuyến khích sử dụng Trọng tài; trong các quy định của Pháp luật hiện hành còn có nhiều rủi
ro cho việc huỷ phán quyết trọng tài và tạo tâm lý e ngại về hiệu lực của phán quyết trọng
tài. Những yếu tố đó đã làm cho độ tin cậy của các bên tranh chấp vào Trọng tài chưa chắc
chắn, chưa cao.
Mặc dù đã có những quy định khá tiến bộ so với trước đây, Pháp lệnh Trọng tài
thương mại năm 2003 vẫn chưa tạo được cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện chủ trương
của Nhà nước khuyến khích các bên sử dụng Trọng tài trong giải quyết các tranh chấp
thương mại và các tranh chấp khác, cần được khắc phục bằng việc ban hành một đạo luật mới
về trọng tài thương mại - Luật Trọng tài thương mại để thay thế Pháp lệnh Trọng tài Thương
mại 2003 trên cơ sở kế thừa những chế định tiến bộ, phù hợp kết hợp với những quy định mới,
hoàn chỉnh hơn.
Dự thảo Luật TTTM 2010 được Quốc hội Quốc hội khóa VII thông qua tại kỳ họp
thứ 7 ngày 17 tháng 6 năm 2010. Theo đó, Luật trọng tài Thương mại 2010 được thông qua
sẽ khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003, đáp ứng nhu
cầu thực tiễn Việt Nam và hội nhập với pháp luật Trọng tài trong khu vực và thế giới. Khi
Luật có hiệu lực (từ ngày 01 tháng 01 năm 2011), hoạt động của trọng tài thương mại tại
Việt Nam sẽ bước sang một giai đoạn phát triển mới.
2. Mục đích, quan điểm chủ đạo và cấu trúc của Luật Trọng tài Thương mại
a. Mục đích
Mục đích quan trọng của việc xây dựng Luật Trọng tài thương mại là thể chế hoá kịp
thời và đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Theo đó, Luật này ghi nhận chủ trương mở rộng các hình thức giải quyết
trong tranh chấp trong các hoạt động kinh doanh, thương mại và một số các quan hệ dân sự
khác, khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng hình thức Trọng tài.
Chủ trương khuyến khích sử dụng Trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp giữa
các bên trước hết xuất phát từ nhu cầu của các chủ thể kinh doanh, các thể nhân và pháp
4
nhân dân sự muốn giải quyết vụ việc của mình một cách thuận lợi, nhanh chóng và có hiệu
quả.
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài góp phần làm giảm tải hoạt động xét xử của Toà
án ở nước ta hiện nay. Theo thống kê của các cơ quan tư pháp, tại Toà kinh tế Toà án nhân
dân Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2005 đến nay năm nào số lượng vụ việc năm
sau cũng tăng gấp đôi năm trước. Tình hình đó ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, gây áp lực
cao đối với các thẩm phán, ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của các doanh nghiệp về mức
độ an toàn pháp lý trong hoạt động kinh doanh, thương mại.
Thực tiễn áp dụng các hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn ở các nước trong khu
vực và trên thế giới cho thấy việc khuyến khích sử dụng Trọng tài trong giải quyết các loại
tranh chấp đang là một xu thế tất yếu. Ví dụ: trong năm 2007 Trung tâm trọng tài quốc tế
Singapore đã giải quyết 119 vụ tranh chấp, Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ - 621 vụ, Toà án
Trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại quốc tế (ICC) - 599 vụ, Hội đồng Trọng tài
thương mại và Kinh tế Trung quốc - 1118 vụ, Trung tâm Trọng tài quốc tế Hồng Kông - 448
vụ. Ở nhiều nước và khu vực lãnh thổ đều có quy định Toà án phải từ chối thụ lý vụ tranh
chấp nếu các bên đã có thoả thuận trọng tài. Thậm chí, ở Anh, Hồng Kông, Ấn Độ, Ảrập-Sê
út còn có quy định rằng, kể cả trong trường hợp không có thoả thuận trọng tài thì các bên
tranh chấp cũng phải đưa vụ việc ra Trọng tài trước, nếu không, các bên phải có sự lý giải
thoả đáng thì Toà án mới chấp nhận thụ lý vụ tranh chấp.
b. Quan điểm chủ đạo
Quan điểm chủ đạo của việc xây dựng Luật Trọng tài là trên cơ sở nghiên cứu lý
luận, tổng kết thực tiễn áp dụng Pháp lệnh Trọng tài thương mại, kế thừa và phát triển các
quy định phù hợp đã đi vào cuộc sống, Luật Trọng tài thương mại phải tạo cơ sở pháp lý đầy
đủ và thuận lợi cho việc lựa chọn Trọng tài để giải quyết các tranh chấp.
c. Cấu trúc của Luật
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 gồm 13 chương với 82 Điều bao gồm những nội
dung chính:
- Về phạm vi thẩm quyền của Trọng tài thương mại;
- Về các hình thức Trọng tài;
- Về trọng tài viên;
- Mối quan hệ giữa Trọng tài và Tòa án, Viện Kiểm sát, Cơ quan thi hành án;
- Quản lý Nhà nước về trọng tài.
5
3. Những điểm mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010
Như đã nói từ đầu, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 còn khá nhiều bất cập sau
thời gian áp dụng nên Hội Luật gia Việt Nam đã điều chỉnh và đưa ra Luật trọng tài thương
mại 2010 để khắc phục các hạn chế đó.
Dưới đây chúng tôi xin tóm tắt những điểm mới cơ bản của Luật trọng Tài thương
mại 2010 để các bạn cùng thấy được sự tiến bộ và thuận lợi cho các nhà kinh doanh, các
doanh nghiệp trong nước và nước ngoài trong quá trình tham gia việc tranh chấp:
- Khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài đối
với các tranh chấp thương mại: Luật TTTM đã dỡ bỏ hạn chế của Pháp lệnh TTTM về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp thương mại của Trọng tài thông qua việc mở rộng phạm vi
thẩm quyền của Trọng tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các
bên (Điều 2 Luật TTTM). Đây là một trong những điểm mới quan trọng nhất của Luật
TTTM so với Pháp lệnh TTTM và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn sử dụng Trọng tài của
các nước trên thế giới.
- Khắc phục sự không rõ ràng của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 về các
tình huống có thể làm vô hiệu thoả thuận trọng tài. Điều 18 của Luật TTTM giới hạn 6 tình
huống theo đó thoả thuận trọng tài vô hiệu. Đặc biệt, còn có quy định trường hợp thỏa thuận
trọng tài không rõ ràng thì bên khởi kiện (nguyên đơn) có quyền được tự do lựa chọn tổ chức
trọng tài thích hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Với quy
định này sẽ ngăn chặn và giảm bớt tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc tình trạng
không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp.
- Luật TTTM có quy định tại Điều 17 nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong việc lựa
chọn phương thức giải quyết tranh chấp.
Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc
dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá,
dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền
lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ
được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận.
Quy định này dựa trên một thực tế là thông thường người tiêu dùng bị đặt ở một vị
thế có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng in sẵn của
người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ, do vậy cần có quy định bảo vệ họ trong các
tình huống cần thiết.
- Kế thừa Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Điều 20 Luật TTTM có các
quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên nhằm hình thành ở nước ta một đội
ngũ trọng tài viên nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã
hội. Theo đó, cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực
tế công tác từ năm năm trở lên có thể là trọng tài viên. Đặc biệt, Luật dành cho các Trung
6
tâm trọng tài quyền được đưa ra các tiêu chuẩn cao hơn đối với các Trọng tài viên trong
danh sách của mình. Tuy nhiên, về nguyên tắc, Trọng tài viên trong trường hợp vụ tranh
chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài hoặc do Trọng tài vụ việc giải quyết đều do các
bên đương sự tự lựa chọn dựa trên niềm tin của họ vào tính chuyên nghiệp, kiến thức chuyên
môn, uy tín của cá nhân đó và trong trường hợp đó thì nhà chuyên môn nào cũng có thể được
các bên chọn làm Trọng tài cho vụ việc của họ. Đó là quá trình sàng lọc mang tính xã hội.
Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật
Trọng tài thương mại không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Quy định
này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
- Về trọng tài quy chế, so với Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM bổ sung một số điểm
mới sau đây:
+ Thứ nhất, Luật đã đưa ra định nghĩa pháp lý về Trọng tài quy chế để thay cho
khái niệm “Hội đồng trọng tài được thành lập tại Trung tâm trọng tài” do Pháp lệnh năm
2003 quy định. Theo đó, Trọng tài quy chế là hình thức trọng tài được tiến hành tại Trung
tâm trọng tài và theo quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài (khoản 6 Điều 3 Luật TTTM).
+ Thứ hai, Luật cho phép các Trung tâm trọng tài được ban hành quy tắc tố tụng
trọng tài phù hợp với quy định của Luật và đảm bảo đặc thù của mỗi Trung tâm để tăng thêm
tính hấp dẫn đối với các bên tranh chấp.
- Cho phép các tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại
diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên (Chương XII với 07 Điều).
- Nâng cao vị thế của Trọng tài thông qua việc cho phép Hội đồng Trọng tài được
thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng, áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều
47, 48, 49 và 50). Quy định của Luật đã tiếp thu quy định của Luật mẫu UNCITRAL được
thông qua năm 2006 nhằm giúp cho tố tụng trọng tài vận hành có hiệu quả hơn.
- Hạn chế nguy cơ phán quyết của Trọng tài bị Tòa án tuyên hủy bởi quy định không
phù hợp của Pháp lệnh TTTM như quy định về quyền của một bên được gửi đơn lên Toà án
yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu “không đồng ý với quyết định trọng tài”, bởi vì các quy
định này của Pháp lệnh đã làm cho tố tụng trọng tài trở nên rất rủi ro và làm mất đi tính
chung thẩm của phán quyết trọng tài mà pháp luật của hầu hết các nước đều công nhận.
- Luật TTTM là đã tiếp thu nguyên tắc cấm hành vi mâu thuẫn trong tố tụng là
nguyên tắc rất quan trọng đã hình thành lâu đời trong pháp luật tố tụng của các nước phát
triển. Quy định mới của Luật (Điều 13) xác định, khi một bên nhận thấy những quy định của
Luật hoặc của thoả thuận trọng tài bị vi phạm mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và
không phản đối vi phạm đó trong thời hạn luật định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài
hoặc Toà án. Quy định này nhằm ngăn chặn một cách có hiệu quả các hành vi cơ hội trong tố
tụng trọng tài.
7
- Một trong những điểm quan trọng nhất của Luật TTTM là thể hiện rõ nét mối quan
hệ giữa Trọng tài với Toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp của các bên.
Luật đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ pháp lý quan trọng
này: xác định rõ Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài và liệt kê 8 nội dung thẩm
quyền của Toà án trong quan hệ với Trọng tài bao gồm: thu thập chứng cứ, lưu giữ chứng
cứ; đăng ký phán quyết trọng tài; tuyên thoả thuận trọng tài vô hiệu; xác định thẩm quyền
của Hội đồng trọng tài; giải quyết và yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài; bảo đảm sự có mặt
của người làm chứng; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; chỉ định, thay đổi trọng tài viên.
Quy định tại các điều luật khác liên quan đã cụ thể hoá nội dung những thẩm quyền này của
Toà án. Quy định này đã khắc phục được những bất cập của Pháp lệnh TTTM, tạo điều kiện
để các Tòa án và Hội đồng trọng tài cũng như các bên tranh chấp tránh được lúng túng trong
các trường hợp cụ thể, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để trọng tài hoạt động có hiệu quả.
- Quy định phù hợp hơn về thủ tục Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Khác với Pháp lệnh TTTM, thủ tục tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
theo Luật TTTM chỉ có một cấp và có giá trị chung thẩm. Luật quy định một Hội đồng gồm
03 thẩm phán xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và quyết định của Hội đồng là
chung thẩm có hiệu lực thi hành ngay là phù hợp (Điều 71).
- Nhằm khuyến khích hoạt động của các tổ chức trọng tài, tạo điều kiện cho các
Trọng tài viên nâng cao trình độ nghiệp vụ trọng tài, bảo vệ các quyền và thực hiện tốt
nghĩa vụ, Luật TTTM có 01 điều quy định về việc thành lập Hiệp hội trọng tài. Hiệp hội
trọng tài là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Trọng tài viên và các Trung tâm trọng tài. Việc
thành lập và hoạt động của Hiệp hội trọng tài được thực hiện theo quy định của pháp luật về
hội nghề nghiệp (Điều 22 Luật TTTM).
II. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI ÁP DỤNG LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG
MẠI NĂM 2010
1. Những vấn đề vể mặt pháp lý
Luật Trọng tài thương mại 2010 ra đời dựa trên cơ sở của Pháp lệnh trọng tài thương
mại 2003 và có tham khảo Luật mẫu. Các điều khoản được quy định trong luật đã có những
bước tiến mới so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003. Tuy nhiên, một số vấn đề được
quy định trong luật vẫn chưa được cụ thể, rõ ràng, hay một số quy định còn gây tranh cãi khi
đối chiếu với luật khác.
a. Những điều khoản gây tranh cãi
♦ Phạm vi của Trọng tài thương mại: quá rộng nhưng lại quá hẹp:
8
Theo điều 2 của Luật Trọng tài thương mại thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
của Trọng tài bao gồm:
− Tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại: Luật Trọng tài thương mại không
đưa ra một khái niệm cụ thể nào. Luật tố tụng dân sự (Điều 29) có đưa ra Tranh chấp phát
sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh
với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Vì trong luật Việt Nam, chưa có quy định nào về
tranh chấp thương mại, nên có thể coi đây là định nghĩa có thể áp dụng. Tuy nhiên, nếu theo
định nghĩa này và theo quy định về Thoả thuận trọng tài theo Luật này, thì lại không hề phân
định loại tranh chấp theo quan hệ hợp đồng hay ngoài hợp đồng, điều mà Luật về trọng tài
của các nước và Luật mẫu Uncitral đều có nêu (Điều 7 khoản 1).
− Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương
mại: Khi đưa ra quy định này, dường như Luật Trọng tài thương mại định khắc phục những
thiếu sót của tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo Bộ luật tố tụng dân sự
khi chỉ yêu cầu 1 trong các bên tranh chấp tham gia vào hoạt động thương mại. Tuy nhiên,
đây là một phạm vi rất rộng, và khi một bên hoạt động thương mại những tham gia vào
những quan hệ không vì mục đích lợi nhuận, và do đó bao gồm cả các tranh chấp không hề
liên quan đến thương mại như dân sự. Do đó, phạm vi của Luật Trọng tài thương mại lại
vượt quá phạm vi “thương mại” như tên gọi của Luật.
− Các tranh chấp khác theo pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài: có
thể ví dụ như các tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư, tranh chấp về hàng hải, vv. Như thế cũng
đồng nghĩa với việc Luật Trọng tài thương mại một lần nữa vượt ra khỏi ranh giới giải
quyết những tranh chấp về thương mại. Đây cũng là một điểm khó giải quyết, vì khi các
Luật khác quy định tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, thì Luật về trọng tài không thể
bác bỏ quy định đó nếu không sửa đổi Luật tương ứng.
Nhận định: Có thể thấy, với tên gọi Luật Trọng tài Thương Mại, thì phạm vi thẩm
quyền của Trọng tài đã được mở quá rộng bao gồm cả những trường hợp tranh chấp dân sự
và các tranh chấp khác. Trong khi đó, đối với lĩnh vực thương mại, thì lại không hề quy định
rõ tranh chấp thương mại là như thế nào, nếu chỉ áp dụng theo dẫn chiếu từ Bộ luật tố tụng
dân sự thì không hề quy định rõ tranh chấp thương mại đó được xây dựng trên quan hệ hợp
đồng hay ngoài hợp đồng.
♦ Trọng tài nước ngoài:
Luật Trọng tài thương mại đã tiến bộ hơn so với Pháp lệnh trọng tài thương mại khi
dành riêng một chương cho Trọng tài nước ngoài. Tuy nhiên, những quy định gói gọn trong
9
một chương lại không thể giải quyết hết những vấn đề liên quan đến Trọng tài nước ngoài.
Chương XII của luật Trọng tài thương mại 2010 quy định về Tổ chức và hoạt động của trọng
tài nước ngoài tại Việt Nam. Theo quy định, thì Tổ chức trọng tài nước ngoài chỉ được hoạt
động dưới 2 hình thức là văn phòng đại diện và chi nhánh. Theo đó, sẽ không có trung tâm
trọng tài nước ngoài độc lập nào được thành lập tại Việt Nam. Quy định này trái với Luật
đầu tư. Theo luật Đầu tư, dịch vụ pháp lý không nằm trong những lĩnh vực đầu tư có điều
kiện hoặc cấm đầu tư. Do đó, nhà đầu tư hoàn toàn có thể thành lập dưới hình thức: 100%
vốn nước ngoài, liên doanh, sáp nhập, mua lại, vv. Như vậy, trong trường hợp một nhà đầu
tư nước ngoài muốn thành lập một trung tâm trọng tài tại Việt Nam, Luật nào sẽ được
đưa vào áp dụng?
Mặc dù trái với pháp luật trong nước, nhưng quy định này lại hoàn toàn phù hợp với
WTO, vì Việt Nam không cam kết mở cửa trong lĩnh vực trọng tài. Và theo nghị định
108/2006/ND-CP của Chính Phủ về đầu tư, khi Việt Nam không cam kết thì đồng nghĩa với
việc được coi là lĩnh vực đầu tư có điều kiện và các Bộ ngành sẽ đưa ra ý kiến riêng cho từng
trường hợp. Đây được coi là một điểm thiếu sót rất lớn của Pháp luật Việt Nam trong quá trình
hội nhập nói chung, không riêng gì đối với quy định về Trọng tài. Do đó, trường hợp nêu trên
chỉ trở thành trở ngại khi nước đó không phải một thành viên của WTO.
b. Những điều khoản cần làm rõ
- Điều 3: Giải thích từ ngữ. Trong điều khoản này, cụm từ “Trọng tài viên” được
giải thích là “người được các bên lựa chọn hoặc được trung tâm trọng tài hoặc tòa án chỉ
định để giải quyết tranh chấp theo quy định của luật này.” Tuy nhiên, khi áp dụng cách giải
thích này vào mục 3 điều 75 (Tổ chức trọng tài nước ngoài cử một Trọng tài viên làm trưởng
chi nhánh) và mục 6 điều 76 (Chỉ định Trọng tài viên để thành lập hội đồng trọng tài theo ủy
quyền của tổ chức trọng tài nước ngoài) là không hợp lý.
- Điều 20: Tiêu chuẩn trọng tài viên. Mục 1c: “Trong trường hợp đặc biệt, chuyên
gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được
yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm trọng tài viên”. Tuy nhiên,
Luật lại chưa có quy định cụ thể về chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm thực tiễn… là như
thế nào. Ngoài ra, điều khoản này đã đưa ra những quy định khá rõ ràng về tiêu chuẩn trọng
tài viên, tuy nhiên, do luật này được áp dụng cho cả các hoạt động thương mại quốc tế và nội
địa, nên chăng cần bổ sung trình độ ngoại ngữ vào tiêu chuẩn trọng tài viên. Hoặc trong điều
24: điều kiện và thủ tục thành lập Trung tâm trọng tài, nên đưa thêm điều kiện phải có ít nhất
03 trọng tài viên có khả năng sử dụng ít nhất 1 ngoại ngữ, nhằm giúp nâng cao tính thực thi
của luật.
10
- Chương II: Thỏa thuận trọng tài. Chương này quy định một số điều liên quan tới
thỏa thuận trọng tài như hình thức thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu… Nhưng
trên thực tế vẫn tồn tại những trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa
thuận này không còn giá trị nữa, chỉ đến khi trung tâm trọng tài từ chối giải quyết thì các bên
mới biết. Có thể hình dung qua một trường hợp cụ thể, rằng các bên đã có thỏa thuận tại Hợp
Đồng nhưng tại Phụ lục lại lựa chọn Tòa án giải quyết hoặc tại thời điểm các bên ghi lời
khai khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện; rằng chọn Tòa án, khi đó, theo quy định của Bộ
luật Tố Tụng Dân Sự hiện hành, vụ kiện không thuộc thẩm quyền của Trọng tài mà thuộc về
Tòa án.
- Điều 29: Chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài. Điều khoản này có quy định
việc thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm trọng tài. Tuy nhiên,
Luật chưa đề cập cụ thể trong những trường hợp như thế nào thì các trung tâm trọng tài bị
thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký kinh doanh. Đặc biệt, tại mục 2, “Chính phủ quy
định chi tiết…” nhưng không thấy dẫn chiếu tới luật nào quy định trường hợp này.
- Điều 30: Đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo. Mục 3, kèm theo đơn khởi kiện,
phải có thỏa thuận trọng tài, bản chính hoặc bản sao các tài liệu có liên quan, chưa quy định
rõ thỏa thuận trọng tài ở đây phải nộp bản chính hay bản sao. Cần làm rõ thêm vấn đề này
nhằm tránh việc bộ hồ sơ bị trả lại, gây lãng phí thời gian của các bên.
- Điều 38: Thương lượng trong tố tụng trọng tài. Điều khoản này có quy định “trong
trường hợp các bên tự thỏa thuận được với nhau chấm dứt việc giải quyết tranh chấp thì có
quyền yêu cầu Chủ tịch Trung tâm trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp”
nhưng lại không đề cập tới vấn đề chi phí phát sinh. Trong trường hợp có một số chi phí phát
sinh, nhưng về sau các bên lại thương lượng được và không dùng trọng tài nữa, thì những
chi phí này sẽ được phân bổ như thế nào, các bên sẽ chịu chi phí ra sao…
- Chương VII: Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Chương này quy định một số vấn đề
liên quan tới việc áp dụng và thực thi biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhưng lại chưa quy định
rõ cho trường hợp sử dụng trọng tài vụ việc. Điều 30, Đơn khởi kiện và các tài liệu kèm
theo, mục 1 quy định “Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc,
nguyên đơn phải làm đơn khởi kiện và gửi cho bị đơn” và điều 41, Thành lập Hội đồng trọng
tài vụ việc, mục 1 quy định “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi
kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chọn Trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết
Trọng tài viên mà mình chọn” Sau khi biết được hội đồng trọng tài viên thì bên nguyên đơn
mới có thể yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, bị đơn đã có thể tẩu tán tài sản của mình.
11
Trong trường hợp này, nguyên đơn sẽ phải nhờ tới Tòa án có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, trong điều 53, khái niệm tòa án có thẩm quyền lại chưa
được làm rõ.
- Điều 49: Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Mục 5 điều khoản này có quy định “Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
khác hoặc vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bên yêu cầu mà gây
thiệt hại cho bên yêu cầu, bên bị áp dụng hoặc người thứ ba thì người bị thiệt hại có quyền
khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật về tố tụng
dân sự.” nhưng lại không quy định rõ người bị thiệt hại sẽ kiện ai và ai sẽ bồi thường. (hội
đồng trọng tài???)
- Điều 50: Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài.
Mục 3 điều khoản này quy định “… bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải
gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Hội đồng trọng tài ấn định
tương ứng với giá trị thiệt hại có thể phát sinh do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không đúng gây ra để bảo vệ lợi ích của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời.” Tuy nhiên, luật chưa giải thích rõ cách tính “giá trị thiệt hại có thể phát sinh”. Vì vậy,
khi đưa vào thực thi, Luật sẽ gây ra khó khăn cho các bên khi áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời, và làm cho biện pháp này ít được sử dụng do quá phức tạp.
- Chương XII: Tổ chức và hoạt động của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Chương
này quy định và điều chỉnh hoạt động của hoạt động trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Tuy
nhiên, Luật lại chưa quy định rõ cơ quan nào sẽ tiếp nhận hồ sơ hình thành, hay giám sát
hoạt động, hay việc rút giấy phép thành lập… của các chi nhánh, văn phòng đại diện này.
Ngoài ra, thẩm quyền của trọng tài nước ngoài, hay việc công nhận phán quyết của trọng tài
nước ngoài cũng chưa được quy định cụ thể trong chương này.
2. Những vấn đề về mặt thực thi
Có rất nhiều những vấn đề cần bàn và cân nhắc sau khi bất cứ một văn bản pháp luật
nào đã và sắp ban hành. Luật TTTM 2010 sắp đến ngày có hiệu lực và đó cũng là thách thức
cho sự tồn tại của Luật trong tương lai. Đề cập đến các vấn đề tồn tại về mặt thực thi Luật và
các văn bản pháp lý khác, ở đây chúng tôi đưa ra một vài thực trạng đã tồn tại để cùng nhìn
lại cũng như có đánh giá vắn tắt và cũng xin được suy ngẫm về độ “Sống”của Luật TTTM
2010.
a. Thực trạng thứ nhất
12
Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013
Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013
Nghiên cứu các đặc điểm vân tay ứng dụng vào công tác hình sự tại công an tỉnh bình định
3
Phương pháp sinh trắc vân tay được ứng dụng rộng rãi vì
đây cũng là cách mà con người sử dụng để nhận dạng một người.
Sự hình thành của nó phụ thuộc vào điều kiện ban đầu và nó cũng
không thay đổi theo thời gian sau khi lớn lên. Người ta ước tính
khoảng 64 tỷ người thì mới có 2 người có vân tay giống nhau. Vân
tay là một trong những phương pháp sinh trắc quan trọng đã được
sử dụng từ rất lâu trong các vấn đề pháp lý và điều tra tội phạm.
Nó đã trải qua một khoảng thời gian dài được nghiên cứu và phát
triển.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và trên cơ sở nghiên cứu các
yêu cầu đặt ra của bài toán, tôi lựa chọn hướng giải quyết là
"Nghiên cứu các đặc điểm vân tay ứng dụng vào công tác hình sự
tại Công an tỉnh Bình Định" nhằm giải quyết được các vấn đề tìm
kiếm mà các phương pháp khác không thực hiện được, đó là lý do
tôi chọn đề tài này.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đối sánh 2 ảnh vân tay: Mở 2 ảnh vân tay và đối sánh
xem có đồng nhất hay không.
- Nhận dạng ảnh vân tay: So sánh vân tay có trong cơ sở
dữ liệu hay không và in ra họ tên (nếu tồn tại trong cơ sở dữ liệu).
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các đối tượng phạm tội.
- Các đối tượng đã làm chứng minh nhân dân.
- Phương pháp phân tích thiết kế hệ thống.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đặc điểm vân tay người.
4
- Ứng dụng tại Công an tỉnh Bình Định
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Các tài liệu về đặc điểm vân tay.
- Các tài liệu về ngôn ngữ C#.
- Các tài liệu về phương pháp phân tích và thiết kế hệ thống
thông tin và ngôn ngữ UML.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1. Về mặt lý thuyết: Tài liệu giới thiệu tổng quan, đặc điểm
vân tay và ứng dụng vào thực tiễn công tác của Công an tỉnh Bình
Định.
5.2. Về mặt thực tiễn: Áp dụng hệ thống nhận dạng vân tay tự
động hỗ trợ việc tìm kiếm, truy nguyên một cá nhân phục vụ tìm kiếm
tội phạm.
6. Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1, "Các đặc điểm vân tay con người". Trong chương
này, luận văn sẽ giới thiệu các đặc tính, hình dạng của các đường vân,
quá trình nghiên cứu và sử dụng vân tay, cơ chế hình thành của
đường vân.
Chương 2, "Nhận dạng vân tay". Trong chương này, luận văn
sẽ giới thiệu các ứng dụng sinh trắc, các thuật toán xử lý ảnh vân tay
và so khớp vân tay.
Chương 3, "Xây dựng hệ thống chương trình nhận dạng vân
tay", luận văn sẽ triển khai và xây dựng chương trình ứng dụng dựa
vào các đặc tính khác nhau của đường vân, các điểm đặc biệt của
đường vân để đối sánh với nhau.
5
Phần kết luận và hướng phát triển sẽ tổng hợp những kết quả
nghiên cứu của luận văn, những ưu và nhược điểm của luận văn, qua
đó đưa ra hướng phát triển của đề tài.
CHƢƠNG 1
CÁC ĐẶC ĐIỂM VÂN TAY CON NGƢỜI
1.1. KIẾN THỨC CHUNG VỀ VÂN TAY
1.1.1 Mấy nét về quá trình nghiên cứu và sử dụng vân tay
1.1.2. Những cơ sở khoa học của vân tay
a. Cấu tạo của da
Da bao bọc cơ thể con người như một lớp vỏ là cơ quan thực
hiện chức năng bảo vệ cơ thể, điều chỉnh nhiệt độ, sự bài tiết, thoát
mồ hôi hô hấp và xúc giác. Gồm 3 lớp:
- Lớp thượng bì: Lớp da này gồm nhiều thành phần khác nhau,
phần trên cùng gọi là da sừng, da sừng thường bị thay đổi bởi nó luốn
tiếp xúc với mọi vật. Những người lao động chân tay trên lòng bàn
tay của họ hình thành một lớp da cứng hóa chai, có tác dụng tăng
cường bảo vệ cho lớp da bên trong.
- Lớp đệm: Lớp này chủ yếu là các dây thần kinh cảm giác,
các tuyến mồ hôi qua đó được thoát ra bề mặt của da thông qua các lỗ
thoát mồ hôi nhỏ li ti. Trong thành phần mồ hôi, nước chiếm tỷ lệ
98%, còn lại là các chất hữu cơ, vô cơ khác như NaCl, các a xít
béo…
- Lớp hạ bì: Lớp này chủ yếu là các tế bào mỡ được tạo thành
như một mạng lưới gồm các sợi của mô liên kết. Mô liên kết đã làm
cho toàn bộ cấu tạo của da có sự đàn hồi cần thiết
b. Sự hình thành của đường vân
c. Đặc tính của vân tay
6
- Tính riêng biệt: Không có sự giống nhau tuyệt đối giữa vân
tay của người này so với vân tay của người khác.
- Tính bền vững: Từ khi sinh ra, lớn lên rồi trưởng thành và cho
đến lúc chết vân tay không thay đổi so với trạng thái hình dạng ban
đầu.
- Để lại dấu vết: Do có mồ hôi thoát ra nhờ lỗ chân lông, nên
khi bàn tay cầm nắm hoặc sờ vào một vật gì bao giờ cũng để lại dấu
vết vân tay ở vật đó.
1.2. HÌNH DẠNG CỦA ĐƢỜNG VÂN
1.2.1. Khái niệm và cơ chế hình thành dấu vết đƣờng vân
- Khái niệm: Dấu vết đường vân là dấu vết phản ánh cấu trúc
đường vân của con người (đối tượng gây vết) trên vật mang dấu vết.
- Cơ chế hình thành Trong mồ hôi có nước, các chất hữu cơ và
các chất vô cơ. Khi chân tay tiếp xúc vào vật đã để lại dấu vết và khi
nước bay hơi còn các thành phần khác sẽ dính trên vật mang vết tạo
các dấu vết đường vân.
1.2.2. Các dạng đƣờng vân
a. Vân tách nhánh
b. Vân đứt đoạn
c. Đoạn vân ngắn
d. Đường vân cụt
e. Vân hình hồ
f. Vân hình đảo
g. Vân nối ngang
h. Vân đối diện
i. Vân móc
j. Vân chấm
k. Vân hội tụ
7
l. Vân vòng khúc
m. Vân giới hạn
1.2.3. Hình chung của một điểm chỉ
a. Khái niệm điểm chỉ
b. Giới hạn của một điểm chỉ
1.2.4. Các dạng điểm chỉ cơ bản và điều kiện của nó
a. Điểm chỉ hình cung (chiếm tỷ lệ 5%)
b. Điểm chỉ hình quai (chiếm tỷ lệ 60%)
c. Điểm chỉ hình xoáy (chiếm tỷ lệ 35%)
1.3. TÂM ĐIỂM
1.3.1. Khái niệm
1.3.2. Tâm điểm dạng vân cơ bản hình quai
1.3.3. Tâm điểm trong vân xoáy
1.4. TAM PHÂN ĐIỂM
1.4.1. Khái niệm
1.4.2. Các dạng tam phân điểm
1.4.3. Phƣơng pháp xác định tam phân điểm
1.4.4. Một số chú ý khi xác định tam phân điểm
1.5. KẾT CHƢƠNG 1
CHƢƠNG 2
NHẬN DẠNG VÂN TAY
2.1. GIỚI THIỆU
2.1.1. Ứng dụng sinh trắc
2.1.2. Các phƣơng pháp sinh trắc
2.2. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NHẬN DẠNG VÂN TAY
2.3. NHẬN DẠNG VÂN TAY TỰ ĐỘNG
2.3.1. Thu nhận ảnh vân tay
2.3.2. Nâng cao chất lƣợng ảnh
8
a. Đặt vấn đề
Mục đích của thuật toán nâng cao chất lượng ảnh vân tay là
làm tăng độ rõ nét của các đường vân trong ảnh vân tay cũng như là
giảm bớt các yếu tố nhiễu tồn tại trong ảnh. Các thuật toán này có thể
được thực hiện trên ảnh mức xám hoặc ảnh hưởng vân nhị phân. Do
các đường vân và rãnh vân trong ảnh vân tay có đặc tính là xen kẻ
nhau và chạy song song nhau trong một vùng cục bộ, vì thế một số
heurristic đơn giản có thể được sử dụng để phân biệt giữa các cấu
trúc đường vân thật và cấu trúc đường vân giả trong các ảnh đường
vân nhị phân. Còn trong các ảnh vân tay mức xám, các đường vân và
rãnh vân trong một vùng cục bộ sẽ tạo thành nên một mặt phẳng uốn
theo dạng hình sin có tần số và hướng xác định. Nên đã có nhiều
phương pháp thuật toán nâng cao chất lượng thực hiện dựa vào yếu tố
trên. Đáng chú ý là phương pháp sử dụng tập bộ lọc cố định.
b. Thuật toán phương pháp sử dụng bộ lọc cố định
Giới thiệu
Lọc ảnh vân tay
Trích chọn đường vân
Nâng cao chất lượng ảnh
Đánh giá kết quả thuật toán
Phương pháp này sử dụng bộ lọc để lọc nhiễu và nâng cao độ
rõ nét đường vân, nhưng một phương pháp tiếp cận khác. Bằng cách
sử dụng một tập bộ lọc Gabor có chỉ số hướng và tần số đường vân
cố định để cho ra một tập gồm các phân mảnh đường vân nhóm theo
từng giá trị hướng cục bộ. Các phân mảnh đường vân sau đó được
tổng hợp lại để xây dựng lại ảnh đường vân.
c. Tóm tắt
9
Thuật toán trên được thực hiện dựa trên bộ pand-pass nhằm
thực hiện các thao tác xoá nhiễu và nâng cao độ rõ nét của các đường
vân. Phương pháp này sử dụng một tập bộ lọc với hướng cố định để
thu về một tập các đoạn đường vân có hướng tương ứng, sau đó thực
hiện việc tái tạo lại các đường vân hoàn chỉnh từ nội dung của các tập
ảnh đường vân phân mảng. Thuật toán này mang lại hiệu quả rõ rệt
trong việc nâng cao chất lượng ảnh vân tay, nhất là trong các ảnh vân
tay đầu vào có chất lượng trung bình hoặc thấp, từ đó làm nâng cao
hiệu quả của thao tác trích chọn đặc trưng.
2.3.3. Trích chọn đặc trƣng
a. Đặt vấn đề
Trích chọn đặc trưng là quá trình rút trích các đặc trưng đại
diện cho ảnh vân tay, được gọi là các chi tiết đặc trưng từ ảnh vân
tay. Các đặc trưng đại diện này yêu cầu phải có thuộc tính là khả
năng bảo toàn tính đặc thù để phân biệt có trong ảnh vân tay, đồng
thời phải có tính cô đọng, hỗ trợ chặt chẽ quá trình đối sánh và ít bị
tác động bởi nhiễu hoặc sai lệch trong ảnh vân tay, ngoài ra còn yêu
cầu phải dễ tính toán.
b. Trích chọn đặc trưng từ ảnh đường vân nhị phân
Giới thiệu
Thuật toán
Mã hóa điểm ảnh
Tiền lọc
Nâng cao chất lượng đường nét
Loại bỏ các điểm chi tiết đặc trưng giả
Loại bỏ các điểm chi tiết đặc trưng gần nhau
Kiểm định sơ đồ hình học
Loại bỏ các ốc đảo
10
Kiểm định các điểm phân nhánh
Kiểm định điểm cuối
Các đường vân hội tụ
Đánh giá kết quả thuật toán
Thuật toán đã nâng cao đáng kể tính đúng đắn của tập các chi
tiết đặc trưng sau khi được trích chọn. Bằng phương pháp kiểm định
các thuộc tính cùng quan hệ tương đối giữa các chi tiết đặc trưng,
thuật toán đã cho phép nhận diện khá chính xác các điểm chi tiết đặc
trưng giả. Hiệu quả mà thuật toán này mang lại là rất lớn vì nó giúp
cho quá trình đối sánh tập chi tiết đặc trưng sau này được chính xác
hơn.
Thuật toán đã được kiểm định với tập ảnh vân tay đã được làm
mảnh. Thuật toán giảm số lượng điểm ngừng nhiều nhất trong bước
kiểm định điểm cuối do nó thực hiện trên các vùng biên ảnh. Còn đối
với các điểm phân nhánh thì các bước xóa bỏ cầu nối và đường gai,
xóa bỏ các chi tiết đặc trưng gần nhau là mang lại hiệu quả cao nhất,
điều này được gây ra chủ yếu do các vùng ảnh chất lượng thấp mà tại
đó mật độ của các điểm chi tiết đặc trưng tăng cao.
c. Tóm tắt
Thuật toán này thực hiện trích chọn các đặc trưng mang tính
toàn cục hơn của ảnh vân tay. Bằng cách sử dụng một tập các bộ lọc
có hướng cố định, thuật toán cho phép nắm bắt các thông tin mang
tính toàn cục hơn các đường vân tại từng khu vực chia của ảnh vân
tay. Thuật toán này chủ yếu tập trung trên việc kiểm tra tính hợp lệ
của các điểm chi tiết đặc trưng sau khi đã được phát hiện. Vì các chi
tiết đặc trưng giả nếu không được phát hiện và loại bỏ thì có thể sẽ
làm giảm đáng kể hiệu quả của giai đoạn đối sánh sau này.
11
2.3.4. Phân lớp ảnh vân tay
a. Đặt vấn đề
Phân lớp ảnh vân tay là kỹ thuật cho phép gán một ảnh vân vào
một trong nhiều phân lớp ảnh đã được định nghĩa trước. Mục đích
chính của nhiệm vụ này là nhằm tạo ra một cơ chế lập chỉ mục cho
ảnh vân tay để giảm thiểu không gian tìm kiếm trong quá trình nhận
dạng ảnh vân tay. Đây có thể được xem là một cơ chế đối sánh sơ
lược trước khi thực hiện các đối sánh chi tiết trong một không gian
nhỏ hơn. Thông thường, người ta sử dụng sáu lớp ảnh vân tay bao
gồm: đồng tâm (whorl), xoáy phải (right loop), xoáy trái (left loop),
cung (arch), xoáy đôi (twin loop) và cung nhọn (tented arch). Các
thuật toán phân lớp ảnh vân tay tự động thường dựa vào các đặc
trưng mang tính toàn cục của ảnh vân tay hơn là các loại đặc trưng
mang tính cục bộ. Đã có nhiều phương pháp được phát triển, chẳng
hạn như dựa trên mô hình (model-based), dựa trên kiến trúc
(structure-based), dựa trên tần số (frequency-based) và theo cú pháp
(syntatic).
b. Thuật toán phân lớp dựa trên đặc tính đường vân
Giới thiệu
Thuật toán
Kiểm định đường vân
Xác định các điểm đặc biệt
Các đường vân quy hồi
Phân lớp ảnh vân tay
Đánh giá kết quả thuật toán
c. Tóm tắt
Phân lớp ảnh vân tay là một trong những yêu cầu cần thực hiện
trong các hệ thống nhận dạng ảnh vân tay cơ sở dữ liệu lớn, nhằm làm
12
giảm không gian tìm kiếm trong quá trình nhận dạng thông qua đặc
tính về lớp của ảnh vân tay. Dựa vào vị trí và số lượng các điểm đặc
biệt, hình dáng đường vân, thuật toán trên giúp chúng ta xác định
được một phần thông tin về lớp của ảnh vân tay. Điều này rất hữu ích
vì không phải tất cả các ảnh vân tay đều có thể xác định được dễ dàng
và chính xác về vị trí và số lượng của các điểm đặc biệt.
2.3.5. Đối sánh ảnh vân tay
a. Đặt vấn đề
Giai đoạn thực hiện đối sánh trong một hệ thống nhận dạng vân
tay đóng một vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến quyết định cuối
cùng của hệ thống đối với việc xác định hai tập dữ liệu chi tiết đặc
trưng (một mẫu lưu trong cơ sở dữ liệu và một mẫu đầu vào) đại diện
cho hai ảnh vân tay khác nhau có phải là cùng xuất phát từ một vân
tay duy nhất hay không. Trong trường hợp lý tưởng, nếu có các điều
kiện: sự đối ứng của từng cặp chi tiết đặc trưng trong hai ảnh là biết
trước; không có những sai lệch như dịch chuyển, quay hoặc tỷ lệ và
các chi tiết đặc trưng đều được định vị một cách chính xác thì việc đối
sánh ảnh sẽ chỉ đơn giản là việc đếm số lượng cặp chi tiết đặc trưng
đối ứng nhau.
Tuy nhiên trong thực tế, các điều kiện trên là không có nên các
thuật toán đối sánh sẽ có nhiều khó khăn cần giải quyết. Các khó khăn
này bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính: thứ nhất là dù cho hai ảnh
vân tay đó thực sự xuất phát từ một vân tay duy nhất, nhưng sự đối
ứng của các chi tiết đặc trưng là không thể biết trước được. Thứ hai
là thuật toán đối sánh ảnh phải ứng phó với các sai lệch được tạo ra
ngay từ giai đoạn thu thập ảnh như sự dịch chuyển, xoay hoặc nhiều
loại sai lệch phi tuyến khác xuất phát từ các yếu tố như độ ẩm ngón
tay, lực ấn khi thu nhận ảnh… ngoài ra các nhiễu không được xử lý
Giao thoa nghệ thuật giữa hai khuynh hướng văn xuôi lãng mạn và văn xuôi hiện thực thời kì 1932 1945
1.4. Trong thực tế, quá trình nghiên cứu và giảng dạy văn học thời kỳ này trước
1986, các nhà nghiên cứu với nhiều lý do thường chỉ tập trung chú ý tới khuynh hướng
văn học hiện thực. Sau 1986, vị trí, giá trị của văn học lãng mạn (đặc biệt là văn xuôi
khuynh hướng lãng mạn) được chú ý nghiên cứu trên tinh thần khách quan, khoa học
và các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đóng góp nổi bật của khuynh hướng này trong
tiến trình vận động, phát triển của văn xuôi nói riêng, văn học dân tộc nói chung.
Đồng thời, thấy rõ hơn tính phức tạp nhiều mặt, sự ảnh hưởng qua lại của khuynh
hướng lãng mạn với khuynh hướng hiện thực về tư tưởng và nghệ thuật. Song chưa có
công trình chuyên biệt nào nghiên cứu giao thoa giữa hai khuynh hướng một cách hệ
thống mà chỉ là những ý kiến, nhận định riêng trong các bài viết, các giáo trình.
1.5. Xuất phát từ thực tế giảng dạy trong nhà trường, văn xuôi thời kỳ 1932 -
1945 chiếm một dung lượng lớn, là một trong những nội dung cơ bản tạo nên giá trị
đặc sắc, góp phần hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam. Tiếp đó là sự xuất hiện của nhiều
tác giả lớn với những kiệt tác và hình tượng nghệ thuật bất hủ, độc đáo. Do đó, tìm
hiểu sự giao thoa về tư tưởng và nghệ thuật gữa hai khuynh hướng văn xuôi trên là rất
cần thiết, có giá trị thực tiễn cao đối với quá trình giảng dạy. Tìm hiểu, nghiên cứu
theo hướng này giúp cho người giáo viên hiểu thấu đáo hơn về diện mạo, tính chất của
giai đoạn văn học. Từ đó, hiểu sâu sắc hơn về tác giả, tác phẩm tiêu biểu của họ.
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: Giao
thoa nghệ thuật giữa hai khuynh hướng văn xuôi lãng mạn và văn xuôi hiện thực thời
kì 1932 - 1945.
2. Nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
2.1. Nhiệm vụ của đề tài
Luận án hướng tới tìm hiểu và phân tích những yếu tố giao thoa, những biểu
hiện gần gũi, tương đồng giữa khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực
trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 ở các cấp độ:
− Giao thoa về tư tưởng nghệ thuật.
− Giao thoa về hình thức nghệ thuật.
2.2. Giới hạn của đề tài
5
5
Đề tài tập trung tìm hiểu sự giao thoa giữa hai khuynh hướng lãng mạn và hiện
thực trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945, khảo sát qua một số cây bút tiêu
biểu: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Trần Tiêu, Hồ Dzếnh, Thanh
Tịnh, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,
Nguyên Hồng.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp lịch sử
Khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực trong văn học Việt Nam
ra đời và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa cụ thể - thời kì 1932 -
1945 Vận dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu sự giao thoa giữa văn xuôi lãng
mạn và hiện thực sẽ giúp chúng tôi thấy được những nguyên nhân tất yếu tạo nên hiện
tượng độc đáo này. Qua đó khẳng định được những yếu tố tích cực cũng như những
đóng góp của văn xuôi thuộc hai khuynh hướng này đối với lịch sử văn học.
3.2. Phương pháp tiếp cận hệ thống
Chúng tôi quan niệm khuynh hướng văn học là một hệ thống hoàn chỉnh, có mở
đầu, kết thúc cũng như quá trình vận động và phát triển với những đặc trưng, đặc điểm
riêng trong một thời điểm lịch sử cụ thể. Phương pháp tiếp cận hệ thống giúp chúng
tôi tìm hiểu, phân tích yếu tố giao thoa trong văn xuôi giữa hai khuynh hướng lãng
mạn và hiện thực trên từng cấp độ cụ thể, từ giao thoa về tư tưởng nghệ thuật, giao
thoa về hình thức nghệ thuật tới các cấp độ tác phẩm, hình tượng nghệ thuật…
3.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích, tổng hợp được vận dụng trong việc phân tích nội dung
tác phẩm, hình tượng nghệ thuật, các biện pháp nghệ thuật để thấy được các yếu tố
giao thoa giữa hai khuynh hướng văn xuôi lãng mạn và hiện thực. Qua so sánh, đối
chiếu, khẳng định những yếu tố gặp gỡ, tương đồng người viết sẽ tổng hợp và đưa ra
nhận xét, đánh giá.
3.4. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được vận dụng nhiều trong luận án. Phương
pháp này được chúng tôi vận dụng so sánh tư tưởng nghệ thuật cũng như các yếu tố
thuộc hình thức nghệ thuật giữa các tác giả, tác phẩm văn xuôi của hai khuynh hướng
lãng mạn và hiện thực để tìm được sự giao thoa.
6
6
4. Đóng góp của luận án
4.1. Về phương diện lí luận
Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên đi sâu tìm hiểu sự giao thoa nghệ
thuật giữa hai khuynh hướng văn học lãng mạn và hiện thực trong văn xuôi thời kì
1932 – 1945. Qua đó, góp phần khẳng định thêm về lí thuyết về sự cộng hưởng, tác
động lẫn nhau giữa các khuynh hướng, các hiện tượng văn học.
4.2. Về phương diện thực tiễn
− Từ việc tìm hiểu này, luận án chỉ ra những đặc trưng lịch sử của văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX, những đặc trưng này có ý nghĩa chi phối tiến trình phát triển
của một giai đoạn văn học dân tộc nhất định.
− Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên về văn văn
xuôi thời kỳ 1932 - 1945 nói riêng và văn học thời kì này nói chung.
5. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận án gồm có bốn chương:
− Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
− Chương 2: Những tiền đề văn hóa xã hội - cơ sở của sự giao thoa văn học
− Chương 3: Giao thoa về tư tưởng nghệ thuật
− Chương 4: Giao thoa về hình thức nghệ thuật
7
7
1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong quá trình tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của hai khuynh
hướng văn xuôi lãng mạn và hiện thực trước cách mạng, đã có một số ý kiến của các
nhà khoa học bàn về những yếu tố gặp gỡ, tương đồng giữa các tác giả, giữa hai
khuynh hướng sáng tác trên. Mặc dù số lượng không nhiều, các ý kiến đưa ra ở góc độ
gợi mở song đều dựa trên cơ sở khoa học có được từ cái nhìn khách quan, từ sự phân
tích, lý giải về diện mạo và thực tiễn văn xuôi thời kì này. Theo dòng thời gian, cùng
với sự vận động của xã hội và văn học, các nhà nghiên cứu đã chú ý nhiều hơn tới vấn
đề này.
1. Những ý kiến liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở giai đoạn trước 1975
− Ngay từ 1939, trong Dưới mắt tôi, nhà phê bình Trương Chính đã đề cao giá trị
hiện thực khi phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của Nhất Linh và Khái Hưng.
Khi phân tích Đoạn tuyệt, Lạnh lùng và tập truyện ngắn Tối tăm của Nhất Linh,
nhà phê bình Trương Chính chú ý nhiều và đề cao giá trị xã hội, giá trị hiện thực và
“giá trị tâm lý” trong mỗi tác phẩm. Ông đề cao Đoạn tuyệt của Nhất Linh khi khẳng
định: Đoạn tuyệt là một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại vì “Đoạn tuyệt
không chỉ có một giá trị xã hội” mà “còn có một giá trị tâm lý không ai chối cãi
được”[74; tr 629]. Khi bàn về tác phẩm Lạnh lùng, ông cho rằng đó là “mũi tên độc
thứ hai” mà Nhất Linh bắn vào Khổng giáo vì: “Trong Lạnh lùng, nạn nhân của chế độ
cũ cũng đáng thương như Loan. Nhung một người đàn bà trẻ tuổi, góa bụa, nhưng
không đi lấy chồng, hay không thể, không dám đi lấy chồng vì Luân lý, vì Đạo đức, vì
Danh dự.
Tác giả sẽ cho ta hiểu rằng Luân lý ấy là luân lý áp bức, đạo đức ấy là đạo đức
giả dối, danh dự ấy là danh dự hão huyền…”[74; tr 630]
Giá trị tố cáo, kết án xã hội được ông khẳng định khi kết luận về nội dung của
tiểu thuyết Lạnh lùng: “Đọc Lạnh lùng, ta cũng thấy cần đạp đổ những chế độ cũ nặng
nề, eo hẹp, trong đó Nhung mà có lẽ cả ta nữa đương rẫy rụa, đương ngắc ngoải…
Đến trang cuối cùng, ta có một cảm giác rùng rợn, khủng khiếp. Cảm giác ấy là cảm
giác của Nhung khi nàng nghĩ đến tương lai của nàng, một tương lai hắc ám, ghê
sợ.”[74; tr 633].
8
8
Nhận định về các tác phẩm Nửa chừng xuân và Gia đình của Khái Hưng,
Trương Chính cũng đặc biệt chú ý tới hiện thực về chế độ đại gia đình đang hiện hữu
trong xã hội như một thứ ung nhọt, cần phải xóa bỏ. Với ông, “Nửa chừng xuân là một
cuốn truyện ghi sự phấn đấu giữa cá nhân và chế độ ấy”, chế độ đại gia đình luôn “đặt
luân thường lên trên nhân đạo, đặt lễ nghi lên trên tự do cá nhân.” - một chế độ vô
nghĩa vì “vô nhân đạo”[74; tr 641,642]. Lời kết án chế độ đại gia đình của Trương
Chính mạnh mẽ hơn khi phân tích tác phẩm Gia đình của Khái Hưng. Từ việc chỉ ra
rằng: chế độ đại gia đình không chỉ làm “lung lay” hạnh phúc của những cặp vợ chồng
trẻ và khỏe mạnh mà còn biến họ thành nạn nhân và đẩy họ vào cuộc sống dục vọng
thấp hèn với những thói đố kị, hiềm khích và ghen tị hay lối sống phó mặc, chán
chường, liều lĩnh… Trương Chính khẳng định giá trị tố cáo mạnh mẽ của tác phẩm:
“Gia đình là nhát búa cuối cùng vào bức tượng khổng lồ nhưng đã mục nát của thế hệ
trước: chế độ đại gia đình.”[74; tr 655]
Những ý kiến, nhận định của nhà phê bình Trương Chính trong Dưới mắt tôi
không trực tiếp đề cập tới những yếu tố giao thoa trong văn xuôi giữa hai khuynh
hướng lãng mạn và hiện thực, song đặc biệt chú ý tới giá trị hiện thực trong sáng tác
của các cây bút lãng mạn tiêu biểu - Nhất Linh và Khái Hưng: phê phán, tố cáo mạnh
mẽ chế độ đại gia đình mục ruỗng, thối nát đang tồn tại trong xã hội. Trương Chính đã
ghi nhận công lao của Nhất Linh khi phơi bày sự áp bức, giả dối, hão huyền đang núp
sau những luân lí, danh dự, đạo đức của lễ giáo phong kiến lạc hậu, lỗi thời.
9
9
− Trong Nhà văn hiện đại, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan dựa vào tiêu chí riêng của
mình đã xếp Nhất Linh vào mục Tiểu thuyết luận đề, Khái Hưng vào mục Tiểu
thuyết phong tục và Thạch Lam trong hệ thống các cây bút Tiểu thuyết xã hội. Ông
xếp cuốn Nửa chừng xuân vào các “tiểu thuyết lí tưởng” và còn có “khuynh hướng
về phong tục” khi cho rằng: “Vai bà Án cho người ta được thấy quyền hành của
một người mẹ trong một gia đình Việt Nam quý phái và cả những cái hay cái dở
của quyền hành ghê gớm ấy; vai Hàn Thanh cho người ta biết sơ qua những thủ
đoạn tàn ác của bọn cường hào ở các nơi thôn quê Việt Nam ”[110; tập 2; tr 220].
Theo Vũ Ngọc Phan: “người ta thấy ông (Khái Hưng) mới đầu chú trọng vào lý
tưởng, rồi dần dần ông lưu tâm đến thực tế và viết rặt những tiểu thuyết tả thực về
phong tục, lấy sự chân xác làm điều cốt yếu…”[110; tập 2; tr 244]. Nhà phê bình
Vũ Ngọc Phan đã chú ý tới một mảng hiện thực xã hội đang tồn tại - những phong
tục lỗi thời đã tạo nên giá trị trong nội dung các tiểu thuyết phong tục của Khái
Hưng. Về tác giả Nhất Linh, Vũ Ngọc Phan xếp vào mục Tiểu thuyết luận đề và
cũng đề chú ý tới yếu tố phong tục trong nội dung phản ánh trên tinh thần cải cách
rõ rệt: “Ông là một tiểu thuyết gia muốn trừ bỏ những cái xấu xa trong gia đình và
trong xã hội, mà bất kỳ ở giai cấp nào chứ không phải chỉ ở hạng thợ thuyền và
dân quê; ông là một nhà văn viết về những tục xấu của người Việt Nam và có cái
tư tưởng khuyến khích người ta sửa đổi.”[110; tập 2; tr 300].
Khi bàn về truyện ngắn Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan đặc biệt đề cao biệt tài miêu
tả cảm giác vừa tỉ mỉ vừa tinh tế của ông. Bên cạnh đó, nhà phê bình cũng phát hiện
trong Gió đầu mùa, bên cạnh những cảm giác thiết tha, nhẹ nhàng, có duyên còn là các
cảm giác “chua chát và cảm động như Một cơn giận”, “thê thảm và nhạo đời như
Đói”, “bi thương và chán ngán như Người lính cũ, lầm than và thảm thương như Hai
lần chết”[110; tập 2; tr 573]. Nhận định về Tối ba mươi - một trong những truyện “vào
hạng những đoản thiên tiểu thuyết đáng kể là hay nhất trong văn chương Việt Nam”,
Vũ Ngọc Phan đặc biệt tán dương tài năng của Thạch Lam: “Tả cái phút cay đắng của
bọn gái giang hồ đến như thế thì khéo tuyệt. Cái cốc, vài lời nói kín đáo, vài cử chỉ
nhẹ nhàng, đủ phô bày hết cả cái cảnh thối tha…” và cái gật đầu của Liên “thảm hơn
cả tiếng khóc, đau xót hơn cả những tiếng thở dài”[110; tập 2; tr 579]. Phải chăng, đây
là nguyên nhân khiến Vũ Ngọc Phan xếp Thạch Lam vào mục Tiểu thuyết xã hội.
10
10
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan khi nghiên cứu về các cây bút tiêu biểu của Tự lực
văn đoàn cũng đã gặp gỡ với nhà phê bình Trương Chính khi chú ý tới một mảng hiện
thực trong tiểu thuyết của họ. Đó là hiện thực cuộc sống nghèo nàn, tù túng với những
số phận bất hạnh, những hủ tục đang tồn tại trong xã hội như một căn bệnh cần phải
xóa bỏ. Trong cái nhìn của hai nhà phê bình có tiếng đương thời, hiện thực xã hội cũng
là nội dung quan trọng trong tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng và Thạch Lam. Dù
chưa phải là hiện thực nóng bỏng với những mâu thuẫn cơ bản, song yếu tố hiện thực
về cuộc sống của con người gắn với lễ giáo, hủ tục phong kiến cũng được đề cập và
ghi nhận và tạo dấu ấn trong tác phẩm của các cây bút Tự lực văn đoàn.
− Vào thập niên 60 của thế kỉ XX, tình hình nghiên cứu văn học thời kì 1932 - 1945
vẫn tiếp tục diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt (đất nước bị chia cắt) và đã thu
được kết quả nhất định.
Năm 1960, ở miền Nam, nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ đã trình bày công trình
nghiên cứu công phu, đầy đặn về Tự lực văn đoàn cũng như các cây bút nổi bật của tổ
chức văn học này trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, Văn học hiện
đại 1862-1945. Trong mục Tổng luận về Tự lực văn đoàn, ông khẳng định thành công
to lớn của tổ chức văn học này ở thể loại tiểu thuyết khi nhận định: “Có thể nói chỉ với
Tự lực văn đoàn chúng ta mới bắt đầu có tiểu thuyết Việt Nam”. Và cho rằng những
nhân vật như “Mai và Lộc, Lan và Ngọc, Minh và Liên, Loan và Dũng xuất hiện trên
đường phố Hà Nội… hay trên những đồi chè Phú Thọ đã cho người đọc 1932 cảm
tưởng là những người bạn rất gần, những mảnh đời rất quen thuộc.”[74; tr 29]. Trong
cái nhìn khái quát của nhà nghiên cứu, nhân vật của tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn
cũng có những yếu tố chân thực chứ không hoàn toàn xa lạ, dù họ là những thanh niên
thuộc tầng lớp trên trong xã hội.
Khi bàn về hai cuốn Đoạn tuyệt và Lạnh lùng của Nhất Linh, Phạm Thế Ngũ
chú ý tới thái độ mạnh mẽ, quyết liệt đến dữ dội khi phê phán lễ giáo phong kiến:
“Nhất Linh đả kích dữ dội gia đình cũ, luân lý cũ”[74; tr 177]. Và theo ông, đây cũng
là nguyên nhân “gây ra nhiều xôn xao cho dư luận” khi hai cuốn tiểu thuyết này liên
tiếp xuất hiện trên hai tờ Phong Hóa rồi Ngày Nay.
11
11
Phạm Thế Ngũ xếp các cuốn tiểu thuyết Gia đình, Thừa tự, Thoát ly của Khái
Hưng vào nhóm những tiểu thuyết về gia đình Việt Nam, “chuyên chú mô tả những
khía cạnh phong tục của gia đình cũ Việt Nam.”. Qua phân tích, ông chỉ ra đầy đủ
những bi hài trong những tiểu thuyết trên của Khái Hưng. Gia đình là bản “cáo trạng
dữ dội phanh phui tất cả bề trong nhơ nhớp” trong “cái gia đình Việt Nam mà trước
1932 phái cựu học ca tụng như một nền tảng xã hội, nơi nảy nở những đức tính tốt đẹp
của nước Nam xưa”[74; tr 342]. Đó là thói háo danh, lòng ghen tuông đố kị đã biến
ruột thịt thành cừu thù, là “cái óc gia đình” - “một người làm quan cả họ được nhờ” đã
đẩy con người tới cái ác, sự tàn nhẫn vô liêm sỉ với lối sống kèn cựa, luồn cúi, chơi
bời trụy lạc.
Viết về Thạch Lam, Phạm Thế Ngũ gặp gỡ Vũ Ngọc Phan khi cho rằng: Thạch
Lam là nhà văn có khuynh hướng xã hội. Về nhân vật, Thạch Lam hướng ngòi bút về
“những người tầm thường trong xã hội” và không dừng ở bên ngoài “xem xét thương
hại, mơ tưởng những công trình cứu giúp to tát, như trường hợp của Nhất Linh hay
Hoàng Đạo. Ông đi ngay vào cuộc sống của họ, dùng giọng thân mật vạch vẽ những
nỗi khốn khổ eo hẹp của họ”[74; tr 467]. Về ý này, Phạm Thế Ngũ đưa ra kết luận rất
tinh tế và chính xác về nét riêng khi hướng tới phản ánh hiện thực của Thạch Lam: “Ta
thấy tác giả không có ý bi thảm hóa bức tranh xã hội mà muốn giữ một ngòi bút chừng
mực và trung thực, làm một thứ nghệ thuật “hiện thực nhân bản””[74; tr 467].
Nhà phê bình Phạm Thế Ngũ rất chú ý tới giá trị hiện thực trong nội dung phản
ánh của các cây bút tiêu biểu cho khuynh hướng lãng mạn Tự lực văn đoàn, đặc biệt là
các tiểu thuyết hướng tới tố cáo, đả kích lễ giáo phong kiến.
12
12
− Năm 1961, ở miền Bắc, văn học lãng mạn và văn học hiện thực được nghiên cứu
có hệ thống hơn và được đưa vào giáo trình bậc đại học: Văn học Việt Nam 1930-
1945 [30]. Nhà nghiên cứu Bạch Năng Thi đã chú ý tới sự đan xen giữa những yếu
tố lãng mạn và hiện thực trong văn xuôi của Tự lực văn đoàn. Theo ông, sức hấp
dẫn của các nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có được vì đó là những
nhân vật “tiêu biểu cho một vài tầng lớp “tồn tại thực sự” trong xã hội Việt Nam
khi ấy”[74; tr 594]. Theo quan điểm “trong văn học, cái gì lâu quên là cái chẳng
những có nghệ thuật mà còn phải có cơ sở hiện thực”, nhà nghiên cứu Bạch Năng
Thi có ý thức gạn đục khơi trong - “tước bỏ cái cốt duy tâm đi, cái vỏ mĩ miều đi
để lấy cái hiện thực nằm trong đó”, từ đó khẳng định giá trị tích cực của tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn[74; tr 371]. Phân tích tiểu thuyết Nửa chừng xuân (Khái Hưng),
ông làm rõ, bên cạnh nội dung về một mối tình lí tưởng là nội dung hiện thực và
chính xác khi cho rằng: “Những cái hiện thực mà tác phẩm phản ánh còn mạnh hơn
ý muốn của tác giả” và “Được như thế, không phải tại tác giả đã nhìn thấu suốt
nhân vật phong kiến, đã lột trần được cái bản chất phong kiến của bà Án đâu.
Chính là nhờ ý nghĩa của một số chi tiết hiện thực”[74; tr 607]. Nhận xét về nhân
vật phụ Hàn Thanh, ông cũng cho rằng đây là nhân vật “tiêu biểu cho cường hào
gian ác, một tai nạn ở thôn quê trước cải cách ruộng đất.”[74; tr 609]. Trên tinh
thần ấy, ông mạnh mẽ khẳng định: “Giá trị tiểu thuyết Gia đình chính là ở chỗ nó
miêu tả những sự thật xấu xa của đại gia đình phong kiến và của quan trường Pháp
thuộc.
Nó còn nói lên được rằng trong xã hội thực dân phong kiến, người thanh niên
trí thức như An thường là nạn nhân của sự tha hóa trầm trọng”[74; tr 618].
Chú ý tới yếu tố hiện thực trong truyện ngắn Thạch Lam, Bạch Năng Thi muốn
nhấn mạnh: phản ánh hiện thực trở thành nhiệm vụ của văn học trong quan niệm và ý
thức của Thạch Lam khi nhắc tới Lời nói đầu trong tập truyện ngắn Gió đầu mùa. Và
khi so sánh với các cây bút lãng mạn khác, ông thấy rằng: “Gió đầu mùa có yếu tố
hiện thực hơn nhiều tác phẩm lãng mạn, và Thạch Lam có xu hướng “bình dân” thành
thực hơn nhiều nhà văn lãng mạn khác”.[74; tr 618]
13
13
Có thể thấy rằng, trong những công trình nghiên cứu trước 1975 về văn xuôi
lãng mạn, các nhà phê bình không chỉ nhấn mạnh tới những nội dung lãng mạn, “lí
tưởng” mà còn khẳng định được nội dung hiện thực là nội dung làm nên giá trị của tác
phẩm. Có nhà nghiên cứu đã nêu lên những nguyên nhân tạo nên giá trị hiện thực
trong tác phẩm của các cây bút lãng mạn như:
“Do nhu cầu đấu tranh chống giáo lí và tập quán phong kiến khiến tác giả phải
lấy tài liệu trong những môi trường và những con người phong kiến để phục vụ cho
cái chủ đề sáng tác…”.
Hay do “Phong trào bình dân, cái thị hiếu của độc giả có đổi thay, sự tấn công
của văn phái hiện thực chủ nghĩa và của những người tiến bộ…và đả kích chủ nghĩa
lãng mạn”.
Hoặc “Có phần nào hiện thực là hiện thực vì yêu cầu của nghệ thuật, chứ không
phải là vì xu hướng hiện thực chủ nghĩa”[74; tr 370].
Các nguyên nhân trên không phải không chính xác, song nhà phê bình mới chỉ
chú ý tới những yếu tố tác động từ bên ngoài tới văn xuôi lãng mạn mà chưa chú ý tới
những yếu tố bên trong như: thái độ bất hòa của các cây bút lãng mạn đối với hiện
thực xã hội thối nát, tinh thần dân tộc, thái độ cảm thông, tình cảm chân thành đối với
những người lao động nghèo.
2. Những ý kiến liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở giai đoạn sau 1975
Từ 1975 đến nay, tình hình nghiên cứu về văn học thời kì 1932 - 1945 ngày
càng toàn diện, khách quan. Mỗi một vấn đề được tìm hiểu, phân tích, soi chiếu từ
nhiều góc độ và đã có được những thành tựu đáng kể. Từ các giáo trình đến các bài
viết về văn học thời kì này đã chú ý tới lịch sử, quá trình hình thành cũng như sự ảnh
hưởng tác động qua lại lẫn nhau giữa các khuynh hướng để từ đó khẳng định những
giá trị nhiều mặt của các khuynh hướng, trào lưu cũng như các tác giả, tác phẩm tiêu
biểu ở từng thể loại. Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý tới những ý kiến, nhận định
liên quan tới nội dung của đề tài nghiên cứu.
Năm 1978, trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (tập V, 1930-1945, phần
I), tác giả Nguyễn Trác đã chú ý tới sự tác động qua lại giữa dòng văn học lãng mạn và
dòng văn học hiện thực phê phán: “Ở nước ta, văn học hiện thực phê phán phát triển
song song với văn học lãng mạn và có sự tác động qua lại giữa hai dòng văn học”[94;
tr 184].
14
14
1986, các nhà nghiên cứu với nhiều lý do thường chỉ tập trung chú ý tới khuynh hướng
văn học hiện thực. Sau 1986, vị trí, giá trị của văn học lãng mạn (đặc biệt là văn xuôi
khuynh hướng lãng mạn) được chú ý nghiên cứu trên tinh thần khách quan, khoa học
và các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đóng góp nổi bật của khuynh hướng này trong
tiến trình vận động, phát triển của văn xuôi nói riêng, văn học dân tộc nói chung.
Đồng thời, thấy rõ hơn tính phức tạp nhiều mặt, sự ảnh hưởng qua lại của khuynh
hướng lãng mạn với khuynh hướng hiện thực về tư tưởng và nghệ thuật. Song chưa có
công trình chuyên biệt nào nghiên cứu giao thoa giữa hai khuynh hướng một cách hệ
thống mà chỉ là những ý kiến, nhận định riêng trong các bài viết, các giáo trình.
1.5. Xuất phát từ thực tế giảng dạy trong nhà trường, văn xuôi thời kỳ 1932 -
1945 chiếm một dung lượng lớn, là một trong những nội dung cơ bản tạo nên giá trị
đặc sắc, góp phần hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam. Tiếp đó là sự xuất hiện của nhiều
tác giả lớn với những kiệt tác và hình tượng nghệ thuật bất hủ, độc đáo. Do đó, tìm
hiểu sự giao thoa về tư tưởng và nghệ thuật gữa hai khuynh hướng văn xuôi trên là rất
cần thiết, có giá trị thực tiễn cao đối với quá trình giảng dạy. Tìm hiểu, nghiên cứu
theo hướng này giúp cho người giáo viên hiểu thấu đáo hơn về diện mạo, tính chất của
giai đoạn văn học. Từ đó, hiểu sâu sắc hơn về tác giả, tác phẩm tiêu biểu của họ.
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: Giao
thoa nghệ thuật giữa hai khuynh hướng văn xuôi lãng mạn và văn xuôi hiện thực thời
kì 1932 - 1945.
2. Nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
2.1. Nhiệm vụ của đề tài
Luận án hướng tới tìm hiểu và phân tích những yếu tố giao thoa, những biểu
hiện gần gũi, tương đồng giữa khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực
trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 ở các cấp độ:
− Giao thoa về tư tưởng nghệ thuật.
− Giao thoa về hình thức nghệ thuật.
2.2. Giới hạn của đề tài
5
5
Đề tài tập trung tìm hiểu sự giao thoa giữa hai khuynh hướng lãng mạn và hiện
thực trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945, khảo sát qua một số cây bút tiêu
biểu: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Trần Tiêu, Hồ Dzếnh, Thanh
Tịnh, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,
Nguyên Hồng.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp lịch sử
Khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực trong văn học Việt Nam
ra đời và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa cụ thể - thời kì 1932 -
1945 Vận dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu sự giao thoa giữa văn xuôi lãng
mạn và hiện thực sẽ giúp chúng tôi thấy được những nguyên nhân tất yếu tạo nên hiện
tượng độc đáo này. Qua đó khẳng định được những yếu tố tích cực cũng như những
đóng góp của văn xuôi thuộc hai khuynh hướng này đối với lịch sử văn học.
3.2. Phương pháp tiếp cận hệ thống
Chúng tôi quan niệm khuynh hướng văn học là một hệ thống hoàn chỉnh, có mở
đầu, kết thúc cũng như quá trình vận động và phát triển với những đặc trưng, đặc điểm
riêng trong một thời điểm lịch sử cụ thể. Phương pháp tiếp cận hệ thống giúp chúng
tôi tìm hiểu, phân tích yếu tố giao thoa trong văn xuôi giữa hai khuynh hướng lãng
mạn và hiện thực trên từng cấp độ cụ thể, từ giao thoa về tư tưởng nghệ thuật, giao
thoa về hình thức nghệ thuật tới các cấp độ tác phẩm, hình tượng nghệ thuật…
3.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích, tổng hợp được vận dụng trong việc phân tích nội dung
tác phẩm, hình tượng nghệ thuật, các biện pháp nghệ thuật để thấy được các yếu tố
giao thoa giữa hai khuynh hướng văn xuôi lãng mạn và hiện thực. Qua so sánh, đối
chiếu, khẳng định những yếu tố gặp gỡ, tương đồng người viết sẽ tổng hợp và đưa ra
nhận xét, đánh giá.
3.4. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được vận dụng nhiều trong luận án. Phương
pháp này được chúng tôi vận dụng so sánh tư tưởng nghệ thuật cũng như các yếu tố
thuộc hình thức nghệ thuật giữa các tác giả, tác phẩm văn xuôi của hai khuynh hướng
lãng mạn và hiện thực để tìm được sự giao thoa.
6
6
4. Đóng góp của luận án
4.1. Về phương diện lí luận
Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên đi sâu tìm hiểu sự giao thoa nghệ
thuật giữa hai khuynh hướng văn học lãng mạn và hiện thực trong văn xuôi thời kì
1932 – 1945. Qua đó, góp phần khẳng định thêm về lí thuyết về sự cộng hưởng, tác
động lẫn nhau giữa các khuynh hướng, các hiện tượng văn học.
4.2. Về phương diện thực tiễn
− Từ việc tìm hiểu này, luận án chỉ ra những đặc trưng lịch sử của văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX, những đặc trưng này có ý nghĩa chi phối tiến trình phát triển
của một giai đoạn văn học dân tộc nhất định.
− Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên về văn văn
xuôi thời kỳ 1932 - 1945 nói riêng và văn học thời kì này nói chung.
5. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận án gồm có bốn chương:
− Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
− Chương 2: Những tiền đề văn hóa xã hội - cơ sở của sự giao thoa văn học
− Chương 3: Giao thoa về tư tưởng nghệ thuật
− Chương 4: Giao thoa về hình thức nghệ thuật
7
7
1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong quá trình tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của hai khuynh
hướng văn xuôi lãng mạn và hiện thực trước cách mạng, đã có một số ý kiến của các
nhà khoa học bàn về những yếu tố gặp gỡ, tương đồng giữa các tác giả, giữa hai
khuynh hướng sáng tác trên. Mặc dù số lượng không nhiều, các ý kiến đưa ra ở góc độ
gợi mở song đều dựa trên cơ sở khoa học có được từ cái nhìn khách quan, từ sự phân
tích, lý giải về diện mạo và thực tiễn văn xuôi thời kì này. Theo dòng thời gian, cùng
với sự vận động của xã hội và văn học, các nhà nghiên cứu đã chú ý nhiều hơn tới vấn
đề này.
1. Những ý kiến liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở giai đoạn trước 1975
− Ngay từ 1939, trong Dưới mắt tôi, nhà phê bình Trương Chính đã đề cao giá trị
hiện thực khi phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của Nhất Linh và Khái Hưng.
Khi phân tích Đoạn tuyệt, Lạnh lùng và tập truyện ngắn Tối tăm của Nhất Linh,
nhà phê bình Trương Chính chú ý nhiều và đề cao giá trị xã hội, giá trị hiện thực và
“giá trị tâm lý” trong mỗi tác phẩm. Ông đề cao Đoạn tuyệt của Nhất Linh khi khẳng
định: Đoạn tuyệt là một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại vì “Đoạn tuyệt
không chỉ có một giá trị xã hội” mà “còn có một giá trị tâm lý không ai chối cãi
được”[74; tr 629]. Khi bàn về tác phẩm Lạnh lùng, ông cho rằng đó là “mũi tên độc
thứ hai” mà Nhất Linh bắn vào Khổng giáo vì: “Trong Lạnh lùng, nạn nhân của chế độ
cũ cũng đáng thương như Loan. Nhung một người đàn bà trẻ tuổi, góa bụa, nhưng
không đi lấy chồng, hay không thể, không dám đi lấy chồng vì Luân lý, vì Đạo đức, vì
Danh dự.
Tác giả sẽ cho ta hiểu rằng Luân lý ấy là luân lý áp bức, đạo đức ấy là đạo đức
giả dối, danh dự ấy là danh dự hão huyền…”[74; tr 630]
Giá trị tố cáo, kết án xã hội được ông khẳng định khi kết luận về nội dung của
tiểu thuyết Lạnh lùng: “Đọc Lạnh lùng, ta cũng thấy cần đạp đổ những chế độ cũ nặng
nề, eo hẹp, trong đó Nhung mà có lẽ cả ta nữa đương rẫy rụa, đương ngắc ngoải…
Đến trang cuối cùng, ta có một cảm giác rùng rợn, khủng khiếp. Cảm giác ấy là cảm
giác của Nhung khi nàng nghĩ đến tương lai của nàng, một tương lai hắc ám, ghê
sợ.”[74; tr 633].
8
8
Nhận định về các tác phẩm Nửa chừng xuân và Gia đình của Khái Hưng,
Trương Chính cũng đặc biệt chú ý tới hiện thực về chế độ đại gia đình đang hiện hữu
trong xã hội như một thứ ung nhọt, cần phải xóa bỏ. Với ông, “Nửa chừng xuân là một
cuốn truyện ghi sự phấn đấu giữa cá nhân và chế độ ấy”, chế độ đại gia đình luôn “đặt
luân thường lên trên nhân đạo, đặt lễ nghi lên trên tự do cá nhân.” - một chế độ vô
nghĩa vì “vô nhân đạo”[74; tr 641,642]. Lời kết án chế độ đại gia đình của Trương
Chính mạnh mẽ hơn khi phân tích tác phẩm Gia đình của Khái Hưng. Từ việc chỉ ra
rằng: chế độ đại gia đình không chỉ làm “lung lay” hạnh phúc của những cặp vợ chồng
trẻ và khỏe mạnh mà còn biến họ thành nạn nhân và đẩy họ vào cuộc sống dục vọng
thấp hèn với những thói đố kị, hiềm khích và ghen tị hay lối sống phó mặc, chán
chường, liều lĩnh… Trương Chính khẳng định giá trị tố cáo mạnh mẽ của tác phẩm:
“Gia đình là nhát búa cuối cùng vào bức tượng khổng lồ nhưng đã mục nát của thế hệ
trước: chế độ đại gia đình.”[74; tr 655]
Những ý kiến, nhận định của nhà phê bình Trương Chính trong Dưới mắt tôi
không trực tiếp đề cập tới những yếu tố giao thoa trong văn xuôi giữa hai khuynh
hướng lãng mạn và hiện thực, song đặc biệt chú ý tới giá trị hiện thực trong sáng tác
của các cây bút lãng mạn tiêu biểu - Nhất Linh và Khái Hưng: phê phán, tố cáo mạnh
mẽ chế độ đại gia đình mục ruỗng, thối nát đang tồn tại trong xã hội. Trương Chính đã
ghi nhận công lao của Nhất Linh khi phơi bày sự áp bức, giả dối, hão huyền đang núp
sau những luân lí, danh dự, đạo đức của lễ giáo phong kiến lạc hậu, lỗi thời.
9
9
− Trong Nhà văn hiện đại, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan dựa vào tiêu chí riêng của
mình đã xếp Nhất Linh vào mục Tiểu thuyết luận đề, Khái Hưng vào mục Tiểu
thuyết phong tục và Thạch Lam trong hệ thống các cây bút Tiểu thuyết xã hội. Ông
xếp cuốn Nửa chừng xuân vào các “tiểu thuyết lí tưởng” và còn có “khuynh hướng
về phong tục” khi cho rằng: “Vai bà Án cho người ta được thấy quyền hành của
một người mẹ trong một gia đình Việt Nam quý phái và cả những cái hay cái dở
của quyền hành ghê gớm ấy; vai Hàn Thanh cho người ta biết sơ qua những thủ
đoạn tàn ác của bọn cường hào ở các nơi thôn quê Việt Nam ”[110; tập 2; tr 220].
Theo Vũ Ngọc Phan: “người ta thấy ông (Khái Hưng) mới đầu chú trọng vào lý
tưởng, rồi dần dần ông lưu tâm đến thực tế và viết rặt những tiểu thuyết tả thực về
phong tục, lấy sự chân xác làm điều cốt yếu…”[110; tập 2; tr 244]. Nhà phê bình
Vũ Ngọc Phan đã chú ý tới một mảng hiện thực xã hội đang tồn tại - những phong
tục lỗi thời đã tạo nên giá trị trong nội dung các tiểu thuyết phong tục của Khái
Hưng. Về tác giả Nhất Linh, Vũ Ngọc Phan xếp vào mục Tiểu thuyết luận đề và
cũng đề chú ý tới yếu tố phong tục trong nội dung phản ánh trên tinh thần cải cách
rõ rệt: “Ông là một tiểu thuyết gia muốn trừ bỏ những cái xấu xa trong gia đình và
trong xã hội, mà bất kỳ ở giai cấp nào chứ không phải chỉ ở hạng thợ thuyền và
dân quê; ông là một nhà văn viết về những tục xấu của người Việt Nam và có cái
tư tưởng khuyến khích người ta sửa đổi.”[110; tập 2; tr 300].
Khi bàn về truyện ngắn Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan đặc biệt đề cao biệt tài miêu
tả cảm giác vừa tỉ mỉ vừa tinh tế của ông. Bên cạnh đó, nhà phê bình cũng phát hiện
trong Gió đầu mùa, bên cạnh những cảm giác thiết tha, nhẹ nhàng, có duyên còn là các
cảm giác “chua chát và cảm động như Một cơn giận”, “thê thảm và nhạo đời như
Đói”, “bi thương và chán ngán như Người lính cũ, lầm than và thảm thương như Hai
lần chết”[110; tập 2; tr 573]. Nhận định về Tối ba mươi - một trong những truyện “vào
hạng những đoản thiên tiểu thuyết đáng kể là hay nhất trong văn chương Việt Nam”,
Vũ Ngọc Phan đặc biệt tán dương tài năng của Thạch Lam: “Tả cái phút cay đắng của
bọn gái giang hồ đến như thế thì khéo tuyệt. Cái cốc, vài lời nói kín đáo, vài cử chỉ
nhẹ nhàng, đủ phô bày hết cả cái cảnh thối tha…” và cái gật đầu của Liên “thảm hơn
cả tiếng khóc, đau xót hơn cả những tiếng thở dài”[110; tập 2; tr 579]. Phải chăng, đây
là nguyên nhân khiến Vũ Ngọc Phan xếp Thạch Lam vào mục Tiểu thuyết xã hội.
10
10
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan khi nghiên cứu về các cây bút tiêu biểu của Tự lực
văn đoàn cũng đã gặp gỡ với nhà phê bình Trương Chính khi chú ý tới một mảng hiện
thực trong tiểu thuyết của họ. Đó là hiện thực cuộc sống nghèo nàn, tù túng với những
số phận bất hạnh, những hủ tục đang tồn tại trong xã hội như một căn bệnh cần phải
xóa bỏ. Trong cái nhìn của hai nhà phê bình có tiếng đương thời, hiện thực xã hội cũng
là nội dung quan trọng trong tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng và Thạch Lam. Dù
chưa phải là hiện thực nóng bỏng với những mâu thuẫn cơ bản, song yếu tố hiện thực
về cuộc sống của con người gắn với lễ giáo, hủ tục phong kiến cũng được đề cập và
ghi nhận và tạo dấu ấn trong tác phẩm của các cây bút Tự lực văn đoàn.
− Vào thập niên 60 của thế kỉ XX, tình hình nghiên cứu văn học thời kì 1932 - 1945
vẫn tiếp tục diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt (đất nước bị chia cắt) và đã thu
được kết quả nhất định.
Năm 1960, ở miền Nam, nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ đã trình bày công trình
nghiên cứu công phu, đầy đặn về Tự lực văn đoàn cũng như các cây bút nổi bật của tổ
chức văn học này trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, Văn học hiện
đại 1862-1945. Trong mục Tổng luận về Tự lực văn đoàn, ông khẳng định thành công
to lớn của tổ chức văn học này ở thể loại tiểu thuyết khi nhận định: “Có thể nói chỉ với
Tự lực văn đoàn chúng ta mới bắt đầu có tiểu thuyết Việt Nam”. Và cho rằng những
nhân vật như “Mai và Lộc, Lan và Ngọc, Minh và Liên, Loan và Dũng xuất hiện trên
đường phố Hà Nội… hay trên những đồi chè Phú Thọ đã cho người đọc 1932 cảm
tưởng là những người bạn rất gần, những mảnh đời rất quen thuộc.”[74; tr 29]. Trong
cái nhìn khái quát của nhà nghiên cứu, nhân vật của tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn
cũng có những yếu tố chân thực chứ không hoàn toàn xa lạ, dù họ là những thanh niên
thuộc tầng lớp trên trong xã hội.
Khi bàn về hai cuốn Đoạn tuyệt và Lạnh lùng của Nhất Linh, Phạm Thế Ngũ
chú ý tới thái độ mạnh mẽ, quyết liệt đến dữ dội khi phê phán lễ giáo phong kiến:
“Nhất Linh đả kích dữ dội gia đình cũ, luân lý cũ”[74; tr 177]. Và theo ông, đây cũng
là nguyên nhân “gây ra nhiều xôn xao cho dư luận” khi hai cuốn tiểu thuyết này liên
tiếp xuất hiện trên hai tờ Phong Hóa rồi Ngày Nay.
11
11
Phạm Thế Ngũ xếp các cuốn tiểu thuyết Gia đình, Thừa tự, Thoát ly của Khái
Hưng vào nhóm những tiểu thuyết về gia đình Việt Nam, “chuyên chú mô tả những
khía cạnh phong tục của gia đình cũ Việt Nam.”. Qua phân tích, ông chỉ ra đầy đủ
những bi hài trong những tiểu thuyết trên của Khái Hưng. Gia đình là bản “cáo trạng
dữ dội phanh phui tất cả bề trong nhơ nhớp” trong “cái gia đình Việt Nam mà trước
1932 phái cựu học ca tụng như một nền tảng xã hội, nơi nảy nở những đức tính tốt đẹp
của nước Nam xưa”[74; tr 342]. Đó là thói háo danh, lòng ghen tuông đố kị đã biến
ruột thịt thành cừu thù, là “cái óc gia đình” - “một người làm quan cả họ được nhờ” đã
đẩy con người tới cái ác, sự tàn nhẫn vô liêm sỉ với lối sống kèn cựa, luồn cúi, chơi
bời trụy lạc.
Viết về Thạch Lam, Phạm Thế Ngũ gặp gỡ Vũ Ngọc Phan khi cho rằng: Thạch
Lam là nhà văn có khuynh hướng xã hội. Về nhân vật, Thạch Lam hướng ngòi bút về
“những người tầm thường trong xã hội” và không dừng ở bên ngoài “xem xét thương
hại, mơ tưởng những công trình cứu giúp to tát, như trường hợp của Nhất Linh hay
Hoàng Đạo. Ông đi ngay vào cuộc sống của họ, dùng giọng thân mật vạch vẽ những
nỗi khốn khổ eo hẹp của họ”[74; tr 467]. Về ý này, Phạm Thế Ngũ đưa ra kết luận rất
tinh tế và chính xác về nét riêng khi hướng tới phản ánh hiện thực của Thạch Lam: “Ta
thấy tác giả không có ý bi thảm hóa bức tranh xã hội mà muốn giữ một ngòi bút chừng
mực và trung thực, làm một thứ nghệ thuật “hiện thực nhân bản””[74; tr 467].
Nhà phê bình Phạm Thế Ngũ rất chú ý tới giá trị hiện thực trong nội dung phản
ánh của các cây bút tiêu biểu cho khuynh hướng lãng mạn Tự lực văn đoàn, đặc biệt là
các tiểu thuyết hướng tới tố cáo, đả kích lễ giáo phong kiến.
12
12
− Năm 1961, ở miền Bắc, văn học lãng mạn và văn học hiện thực được nghiên cứu
có hệ thống hơn và được đưa vào giáo trình bậc đại học: Văn học Việt Nam 1930-
1945 [30]. Nhà nghiên cứu Bạch Năng Thi đã chú ý tới sự đan xen giữa những yếu
tố lãng mạn và hiện thực trong văn xuôi của Tự lực văn đoàn. Theo ông, sức hấp
dẫn của các nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có được vì đó là những
nhân vật “tiêu biểu cho một vài tầng lớp “tồn tại thực sự” trong xã hội Việt Nam
khi ấy”[74; tr 594]. Theo quan điểm “trong văn học, cái gì lâu quên là cái chẳng
những có nghệ thuật mà còn phải có cơ sở hiện thực”, nhà nghiên cứu Bạch Năng
Thi có ý thức gạn đục khơi trong - “tước bỏ cái cốt duy tâm đi, cái vỏ mĩ miều đi
để lấy cái hiện thực nằm trong đó”, từ đó khẳng định giá trị tích cực của tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn[74; tr 371]. Phân tích tiểu thuyết Nửa chừng xuân (Khái Hưng),
ông làm rõ, bên cạnh nội dung về một mối tình lí tưởng là nội dung hiện thực và
chính xác khi cho rằng: “Những cái hiện thực mà tác phẩm phản ánh còn mạnh hơn
ý muốn của tác giả” và “Được như thế, không phải tại tác giả đã nhìn thấu suốt
nhân vật phong kiến, đã lột trần được cái bản chất phong kiến của bà Án đâu.
Chính là nhờ ý nghĩa của một số chi tiết hiện thực”[74; tr 607]. Nhận xét về nhân
vật phụ Hàn Thanh, ông cũng cho rằng đây là nhân vật “tiêu biểu cho cường hào
gian ác, một tai nạn ở thôn quê trước cải cách ruộng đất.”[74; tr 609]. Trên tinh
thần ấy, ông mạnh mẽ khẳng định: “Giá trị tiểu thuyết Gia đình chính là ở chỗ nó
miêu tả những sự thật xấu xa của đại gia đình phong kiến và của quan trường Pháp
thuộc.
Nó còn nói lên được rằng trong xã hội thực dân phong kiến, người thanh niên
trí thức như An thường là nạn nhân của sự tha hóa trầm trọng”[74; tr 618].
Chú ý tới yếu tố hiện thực trong truyện ngắn Thạch Lam, Bạch Năng Thi muốn
nhấn mạnh: phản ánh hiện thực trở thành nhiệm vụ của văn học trong quan niệm và ý
thức của Thạch Lam khi nhắc tới Lời nói đầu trong tập truyện ngắn Gió đầu mùa. Và
khi so sánh với các cây bút lãng mạn khác, ông thấy rằng: “Gió đầu mùa có yếu tố
hiện thực hơn nhiều tác phẩm lãng mạn, và Thạch Lam có xu hướng “bình dân” thành
thực hơn nhiều nhà văn lãng mạn khác”.[74; tr 618]
13
13
Có thể thấy rằng, trong những công trình nghiên cứu trước 1975 về văn xuôi
lãng mạn, các nhà phê bình không chỉ nhấn mạnh tới những nội dung lãng mạn, “lí
tưởng” mà còn khẳng định được nội dung hiện thực là nội dung làm nên giá trị của tác
phẩm. Có nhà nghiên cứu đã nêu lên những nguyên nhân tạo nên giá trị hiện thực
trong tác phẩm của các cây bút lãng mạn như:
“Do nhu cầu đấu tranh chống giáo lí và tập quán phong kiến khiến tác giả phải
lấy tài liệu trong những môi trường và những con người phong kiến để phục vụ cho
cái chủ đề sáng tác…”.
Hay do “Phong trào bình dân, cái thị hiếu của độc giả có đổi thay, sự tấn công
của văn phái hiện thực chủ nghĩa và của những người tiến bộ…và đả kích chủ nghĩa
lãng mạn”.
Hoặc “Có phần nào hiện thực là hiện thực vì yêu cầu của nghệ thuật, chứ không
phải là vì xu hướng hiện thực chủ nghĩa”[74; tr 370].
Các nguyên nhân trên không phải không chính xác, song nhà phê bình mới chỉ
chú ý tới những yếu tố tác động từ bên ngoài tới văn xuôi lãng mạn mà chưa chú ý tới
những yếu tố bên trong như: thái độ bất hòa của các cây bút lãng mạn đối với hiện
thực xã hội thối nát, tinh thần dân tộc, thái độ cảm thông, tình cảm chân thành đối với
những người lao động nghèo.
2. Những ý kiến liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở giai đoạn sau 1975
Từ 1975 đến nay, tình hình nghiên cứu về văn học thời kì 1932 - 1945 ngày
càng toàn diện, khách quan. Mỗi một vấn đề được tìm hiểu, phân tích, soi chiếu từ
nhiều góc độ và đã có được những thành tựu đáng kể. Từ các giáo trình đến các bài
viết về văn học thời kì này đã chú ý tới lịch sử, quá trình hình thành cũng như sự ảnh
hưởng tác động qua lại lẫn nhau giữa các khuynh hướng để từ đó khẳng định những
giá trị nhiều mặt của các khuynh hướng, trào lưu cũng như các tác giả, tác phẩm tiêu
biểu ở từng thể loại. Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý tới những ý kiến, nhận định
liên quan tới nội dung của đề tài nghiên cứu.
Năm 1978, trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (tập V, 1930-1945, phần
I), tác giả Nguyễn Trác đã chú ý tới sự tác động qua lại giữa dòng văn học lãng mạn và
dòng văn học hiện thực phê phán: “Ở nước ta, văn học hiện thực phê phán phát triển
song song với văn học lãng mạn và có sự tác động qua lại giữa hai dòng văn học”[94;
tr 184].
14
14
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)