Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài ngoại thương và Hội đồng Trọng
tài thương mại hàng hải. Mô hình trọng tài thứ hai là các trung tâm trọng tài kinh tế được
thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ.
Điểm đáng lưu ý là, các văn bản pháp luật về trọng tài trong thời điểm này đều có
hiệu lực pháp lý thấp, mới dừng ở mức cao nhất là nghị định. Nội dung văn bản còn có nhiều
điểm bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có cơ chế đảm bảo cần thiết để vận hành có hiệu quả.
Trong bối cảnh nền kinh tế mới trong giai đoạn bắt đầu chuyển đổi từ cơ chế kế
hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường, hệ thống pháp luật thương mại chưa được hình
thành một cách đồng bộ, chưa điều chỉnh kịp thời các quan hệ thương mại phát sinh trong
thực tiễn, Pháp lệnh TTTM 2003 ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc hình thành
và hoàn thiện pháp luật về trọng tài tại Việt Nam. Có thể nói, hầu hết các bất cập trước đây
đã được Pháp lệnh khắc phục và về cơ bản phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế, đặc
biệt là sự hoàn thiện các quy định về vai trò hỗ trợ và giám sát của tòa án đối với trọng tài
cũng như xác định hiệu lực pháp lý của Quyết định trọng tài và cơ chế thi hành Quyết định
trọng tài. Điều này làm cho các doanh nghiệp tin tưởng lựa chọn và sử dụng trọng tài nhiều
hơn.
Không những thế, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 về cơ bản phù hợp với pháp
luật và thông lệ quốc tế trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu của Trọng tài như: quy định
về hiệu lực của thoả thuận trọng tài, điều kiện trở thành Trọng tài viên, về trọng tài vụ việc,
mở rộng thẩm quyền chọn trọng tài viên, ghi nhận mối quan hệ giữa Trọng tài và Toà án bằng
một loạt các quy định cụ thể như hỗ trợ thi hành thoả thuận trọng tài, chỉ định Trọng tài viên,
giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời, giải quyết yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài v.v.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên, qua hơn sáu năm thực hiện, Pháp lệnh
này đã bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập như: Phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của trọng tài; chủ thể của các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài; giá trị pháp lý
của thỏa thuận trọng tài về mặt nội dung và hình thức; việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời; việc triệu tập nhân chứng; vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng
trọng tài; việc hủy quyết định trọng tài, vấn đề địa điểm tiến hành trọng tài; cách tính thời hiệu
khởi kiện v.v…
Theo thống kê của Trung tâm trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VIAC), trong năm 2007 TAND Thành phố Hà nội đã xử gần 9.000 vụ án
trong đó có khoảng 300 vụ tranh chấp kinh tế và TAND Tp. Hồ Chí Minh xử gần 42.000 vụ
3
án, trong đó có 1000 vụ tranh chấp kinh tế thì VIAC với tư cách là tổ chức trọng tài lớn nhất
Việt Nam cũng chỉ tiếp nhận 30 vụ tranh chấp trong năm 2007 và 58 vụ trong năm 2008.
Trong khi mỗi thẩm phán ở Toà kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm, ở Toà kinh tế
Tp. Hồ Chí Minh xử 50 vụ một năm thì mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0,25 vụ một
năm. Như vậy, một trong những nguyên nhân Trọng tài ít được các bên sử dụng phổ biến ở
nước ta là do chưa có những cơ sở pháp lý cần thiết cho việc thực hiện chính sách nhất quán
khuyến khích sử dụng Trọng tài; trong các quy định của Pháp luật hiện hành còn có nhiều rủi
ro cho việc huỷ phán quyết trọng tài và tạo tâm lý e ngại về hiệu lực của phán quyết trọng
tài. Những yếu tố đó đã làm cho độ tin cậy của các bên tranh chấp vào Trọng tài chưa chắc
chắn, chưa cao.
Mặc dù đã có những quy định khá tiến bộ so với trước đây, Pháp lệnh Trọng tài
thương mại năm 2003 vẫn chưa tạo được cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện chủ trương
của Nhà nước khuyến khích các bên sử dụng Trọng tài trong giải quyết các tranh chấp
thương mại và các tranh chấp khác, cần được khắc phục bằng việc ban hành một đạo luật mới
về trọng tài thương mại - Luật Trọng tài thương mại để thay thế Pháp lệnh Trọng tài Thương
mại 2003 trên cơ sở kế thừa những chế định tiến bộ, phù hợp kết hợp với những quy định mới,
hoàn chỉnh hơn.
Dự thảo Luật TTTM 2010 được Quốc hội Quốc hội khóa VII thông qua tại kỳ họp
thứ 7 ngày 17 tháng 6 năm 2010. Theo đó, Luật trọng tài Thương mại 2010 được thông qua
sẽ khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003, đáp ứng nhu
cầu thực tiễn Việt Nam và hội nhập với pháp luật Trọng tài trong khu vực và thế giới. Khi
Luật có hiệu lực (từ ngày 01 tháng 01 năm 2011), hoạt động của trọng tài thương mại tại
Việt Nam sẽ bước sang một giai đoạn phát triển mới.
2. Mục đích, quan điểm chủ đạo và cấu trúc của Luật Trọng tài Thương mại
a. Mục đích
Mục đích quan trọng của việc xây dựng Luật Trọng tài thương mại là thể chế hoá kịp
thời và đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Theo đó, Luật này ghi nhận chủ trương mở rộng các hình thức giải quyết
trong tranh chấp trong các hoạt động kinh doanh, thương mại và một số các quan hệ dân sự
khác, khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng hình thức Trọng tài.
Chủ trương khuyến khích sử dụng Trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp giữa
các bên trước hết xuất phát từ nhu cầu của các chủ thể kinh doanh, các thể nhân và pháp
4
nhân dân sự muốn giải quyết vụ việc của mình một cách thuận lợi, nhanh chóng và có hiệu
quả.
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài góp phần làm giảm tải hoạt động xét xử của Toà
án ở nước ta hiện nay. Theo thống kê của các cơ quan tư pháp, tại Toà kinh tế Toà án nhân
dân Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2005 đến nay năm nào số lượng vụ việc năm
sau cũng tăng gấp đôi năm trước. Tình hình đó ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, gây áp lực
cao đối với các thẩm phán, ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của các doanh nghiệp về mức
độ an toàn pháp lý trong hoạt động kinh doanh, thương mại.
Thực tiễn áp dụng các hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn ở các nước trong khu
vực và trên thế giới cho thấy việc khuyến khích sử dụng Trọng tài trong giải quyết các loại
tranh chấp đang là một xu thế tất yếu. Ví dụ: trong năm 2007 Trung tâm trọng tài quốc tế
Singapore đã giải quyết 119 vụ tranh chấp, Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ - 621 vụ, Toà án
Trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại quốc tế (ICC) - 599 vụ, Hội đồng Trọng tài
thương mại và Kinh tế Trung quốc - 1118 vụ, Trung tâm Trọng tài quốc tế Hồng Kông - 448
vụ. Ở nhiều nước và khu vực lãnh thổ đều có quy định Toà án phải từ chối thụ lý vụ tranh
chấp nếu các bên đã có thoả thuận trọng tài. Thậm chí, ở Anh, Hồng Kông, Ấn Độ, Ảrập-Sê
út còn có quy định rằng, kể cả trong trường hợp không có thoả thuận trọng tài thì các bên
tranh chấp cũng phải đưa vụ việc ra Trọng tài trước, nếu không, các bên phải có sự lý giải
thoả đáng thì Toà án mới chấp nhận thụ lý vụ tranh chấp.
b. Quan điểm chủ đạo
Quan điểm chủ đạo của việc xây dựng Luật Trọng tài là trên cơ sở nghiên cứu lý
luận, tổng kết thực tiễn áp dụng Pháp lệnh Trọng tài thương mại, kế thừa và phát triển các
quy định phù hợp đã đi vào cuộc sống, Luật Trọng tài thương mại phải tạo cơ sở pháp lý đầy
đủ và thuận lợi cho việc lựa chọn Trọng tài để giải quyết các tranh chấp.
c. Cấu trúc của Luật
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 gồm 13 chương với 82 Điều bao gồm những nội
dung chính:
- Về phạm vi thẩm quyền của Trọng tài thương mại;
- Về các hình thức Trọng tài;
- Về trọng tài viên;
- Mối quan hệ giữa Trọng tài và Tòa án, Viện Kiểm sát, Cơ quan thi hành án;
- Quản lý Nhà nước về trọng tài.
5
3. Những điểm mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010
Như đã nói từ đầu, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 còn khá nhiều bất cập sau
thời gian áp dụng nên Hội Luật gia Việt Nam đã điều chỉnh và đưa ra Luật trọng tài thương
mại 2010 để khắc phục các hạn chế đó.
Dưới đây chúng tôi xin tóm tắt những điểm mới cơ bản của Luật trọng Tài thương
mại 2010 để các bạn cùng thấy được sự tiến bộ và thuận lợi cho các nhà kinh doanh, các
doanh nghiệp trong nước và nước ngoài trong quá trình tham gia việc tranh chấp:
- Khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài đối
với các tranh chấp thương mại: Luật TTTM đã dỡ bỏ hạn chế của Pháp lệnh TTTM về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp thương mại của Trọng tài thông qua việc mở rộng phạm vi
thẩm quyền của Trọng tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các
bên (Điều 2 Luật TTTM). Đây là một trong những điểm mới quan trọng nhất của Luật
TTTM so với Pháp lệnh TTTM và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn sử dụng Trọng tài của
các nước trên thế giới.
- Khắc phục sự không rõ ràng của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 về các
tình huống có thể làm vô hiệu thoả thuận trọng tài. Điều 18 của Luật TTTM giới hạn 6 tình
huống theo đó thoả thuận trọng tài vô hiệu. Đặc biệt, còn có quy định trường hợp thỏa thuận
trọng tài không rõ ràng thì bên khởi kiện (nguyên đơn) có quyền được tự do lựa chọn tổ chức
trọng tài thích hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Với quy
định này sẽ ngăn chặn và giảm bớt tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc tình trạng
không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp.
- Luật TTTM có quy định tại Điều 17 nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong việc lựa
chọn phương thức giải quyết tranh chấp.
Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc
dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá,
dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền
lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ
được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận.
Quy định này dựa trên một thực tế là thông thường người tiêu dùng bị đặt ở một vị
thế có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng in sẵn của
người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ, do vậy cần có quy định bảo vệ họ trong các
tình huống cần thiết.
- Kế thừa Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Điều 20 Luật TTTM có các
quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên nhằm hình thành ở nước ta một đội
ngũ trọng tài viên nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã
hội. Theo đó, cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực
tế công tác từ năm năm trở lên có thể là trọng tài viên. Đặc biệt, Luật dành cho các Trung
6
tâm trọng tài quyền được đưa ra các tiêu chuẩn cao hơn đối với các Trọng tài viên trong
danh sách của mình. Tuy nhiên, về nguyên tắc, Trọng tài viên trong trường hợp vụ tranh
chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài hoặc do Trọng tài vụ việc giải quyết đều do các
bên đương sự tự lựa chọn dựa trên niềm tin của họ vào tính chuyên nghiệp, kiến thức chuyên
môn, uy tín của cá nhân đó và trong trường hợp đó thì nhà chuyên môn nào cũng có thể được
các bên chọn làm Trọng tài cho vụ việc của họ. Đó là quá trình sàng lọc mang tính xã hội.
Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật
Trọng tài thương mại không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Quy định
này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
- Về trọng tài quy chế, so với Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM bổ sung một số điểm
mới sau đây:
+ Thứ nhất, Luật đã đưa ra định nghĩa pháp lý về Trọng tài quy chế để thay cho
khái niệm “Hội đồng trọng tài được thành lập tại Trung tâm trọng tài” do Pháp lệnh năm
2003 quy định. Theo đó, Trọng tài quy chế là hình thức trọng tài được tiến hành tại Trung
tâm trọng tài và theo quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài (khoản 6 Điều 3 Luật TTTM).
+ Thứ hai, Luật cho phép các Trung tâm trọng tài được ban hành quy tắc tố tụng
trọng tài phù hợp với quy định của Luật và đảm bảo đặc thù của mỗi Trung tâm để tăng thêm
tính hấp dẫn đối với các bên tranh chấp.
- Cho phép các tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại
diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên (Chương XII với 07 Điều).
- Nâng cao vị thế của Trọng tài thông qua việc cho phép Hội đồng Trọng tài được
thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng, áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều
47, 48, 49 và 50). Quy định của Luật đã tiếp thu quy định của Luật mẫu UNCITRAL được
thông qua năm 2006 nhằm giúp cho tố tụng trọng tài vận hành có hiệu quả hơn.
- Hạn chế nguy cơ phán quyết của Trọng tài bị Tòa án tuyên hủy bởi quy định không
phù hợp của Pháp lệnh TTTM như quy định về quyền của một bên được gửi đơn lên Toà án
yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu “không đồng ý với quyết định trọng tài”, bởi vì các quy
định này của Pháp lệnh đã làm cho tố tụng trọng tài trở nên rất rủi ro và làm mất đi tính
chung thẩm của phán quyết trọng tài mà pháp luật của hầu hết các nước đều công nhận.
- Luật TTTM là đã tiếp thu nguyên tắc cấm hành vi mâu thuẫn trong tố tụng là
nguyên tắc rất quan trọng đã hình thành lâu đời trong pháp luật tố tụng của các nước phát
triển. Quy định mới của Luật (Điều 13) xác định, khi một bên nhận thấy những quy định của
Luật hoặc của thoả thuận trọng tài bị vi phạm mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và
không phản đối vi phạm đó trong thời hạn luật định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài
hoặc Toà án. Quy định này nhằm ngăn chặn một cách có hiệu quả các hành vi cơ hội trong tố
tụng trọng tài.
7
- Một trong những điểm quan trọng nhất của Luật TTTM là thể hiện rõ nét mối quan
hệ giữa Trọng tài với Toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp của các bên.
Luật đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ pháp lý quan trọng
này: xác định rõ Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài và liệt kê 8 nội dung thẩm
quyền của Toà án trong quan hệ với Trọng tài bao gồm: thu thập chứng cứ, lưu giữ chứng
cứ; đăng ký phán quyết trọng tài; tuyên thoả thuận trọng tài vô hiệu; xác định thẩm quyền
của Hội đồng trọng tài; giải quyết và yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài; bảo đảm sự có mặt
của người làm chứng; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; chỉ định, thay đổi trọng tài viên.
Quy định tại các điều luật khác liên quan đã cụ thể hoá nội dung những thẩm quyền này của
Toà án. Quy định này đã khắc phục được những bất cập của Pháp lệnh TTTM, tạo điều kiện
để các Tòa án và Hội đồng trọng tài cũng như các bên tranh chấp tránh được lúng túng trong
các trường hợp cụ thể, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để trọng tài hoạt động có hiệu quả.
- Quy định phù hợp hơn về thủ tục Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Khác với Pháp lệnh TTTM, thủ tục tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
theo Luật TTTM chỉ có một cấp và có giá trị chung thẩm. Luật quy định một Hội đồng gồm
03 thẩm phán xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và quyết định của Hội đồng là
chung thẩm có hiệu lực thi hành ngay là phù hợp (Điều 71).
- Nhằm khuyến khích hoạt động của các tổ chức trọng tài, tạo điều kiện cho các
Trọng tài viên nâng cao trình độ nghiệp vụ trọng tài, bảo vệ các quyền và thực hiện tốt
nghĩa vụ, Luật TTTM có 01 điều quy định về việc thành lập Hiệp hội trọng tài. Hiệp hội
trọng tài là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Trọng tài viên và các Trung tâm trọng tài. Việc
thành lập và hoạt động của Hiệp hội trọng tài được thực hiện theo quy định của pháp luật về
hội nghề nghiệp (Điều 22 Luật TTTM).
II. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI ÁP DỤNG LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG
MẠI NĂM 2010
1. Những vấn đề vể mặt pháp lý
Luật Trọng tài thương mại 2010 ra đời dựa trên cơ sở của Pháp lệnh trọng tài thương
mại 2003 và có tham khảo Luật mẫu. Các điều khoản được quy định trong luật đã có những
bước tiến mới so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003. Tuy nhiên, một số vấn đề được
quy định trong luật vẫn chưa được cụ thể, rõ ràng, hay một số quy định còn gây tranh cãi khi
đối chiếu với luật khác.
a. Những điều khoản gây tranh cãi
♦ Phạm vi của Trọng tài thương mại: quá rộng nhưng lại quá hẹp:
8
Theo điều 2 của Luật Trọng tài thương mại thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
của Trọng tài bao gồm:
− Tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại: Luật Trọng tài thương mại không
đưa ra một khái niệm cụ thể nào. Luật tố tụng dân sự (Điều 29) có đưa ra Tranh chấp phát
sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh
với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Vì trong luật Việt Nam, chưa có quy định nào về
tranh chấp thương mại, nên có thể coi đây là định nghĩa có thể áp dụng. Tuy nhiên, nếu theo
định nghĩa này và theo quy định về Thoả thuận trọng tài theo Luật này, thì lại không hề phân
định loại tranh chấp theo quan hệ hợp đồng hay ngoài hợp đồng, điều mà Luật về trọng tài
của các nước và Luật mẫu Uncitral đều có nêu (Điều 7 khoản 1).
− Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương
mại: Khi đưa ra quy định này, dường như Luật Trọng tài thương mại định khắc phục những
thiếu sót của tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo Bộ luật tố tụng dân sự
khi chỉ yêu cầu 1 trong các bên tranh chấp tham gia vào hoạt động thương mại. Tuy nhiên,
đây là một phạm vi rất rộng, và khi một bên hoạt động thương mại những tham gia vào
những quan hệ không vì mục đích lợi nhuận, và do đó bao gồm cả các tranh chấp không hề
liên quan đến thương mại như dân sự. Do đó, phạm vi của Luật Trọng tài thương mại lại
vượt quá phạm vi “thương mại” như tên gọi của Luật.
− Các tranh chấp khác theo pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài: có
thể ví dụ như các tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư, tranh chấp về hàng hải, vv. Như thế cũng
đồng nghĩa với việc Luật Trọng tài thương mại một lần nữa vượt ra khỏi ranh giới giải
quyết những tranh chấp về thương mại. Đây cũng là một điểm khó giải quyết, vì khi các
Luật khác quy định tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, thì Luật về trọng tài không thể
bác bỏ quy định đó nếu không sửa đổi Luật tương ứng.
Nhận định: Có thể thấy, với tên gọi Luật Trọng tài Thương Mại, thì phạm vi thẩm
quyền của Trọng tài đã được mở quá rộng bao gồm cả những trường hợp tranh chấp dân sự
và các tranh chấp khác. Trong khi đó, đối với lĩnh vực thương mại, thì lại không hề quy định
rõ tranh chấp thương mại là như thế nào, nếu chỉ áp dụng theo dẫn chiếu từ Bộ luật tố tụng
dân sự thì không hề quy định rõ tranh chấp thương mại đó được xây dựng trên quan hệ hợp
đồng hay ngoài hợp đồng.
♦ Trọng tài nước ngoài:
Luật Trọng tài thương mại đã tiến bộ hơn so với Pháp lệnh trọng tài thương mại khi
dành riêng một chương cho Trọng tài nước ngoài. Tuy nhiên, những quy định gói gọn trong
9
một chương lại không thể giải quyết hết những vấn đề liên quan đến Trọng tài nước ngoài.
Chương XII của luật Trọng tài thương mại 2010 quy định về Tổ chức và hoạt động của trọng
tài nước ngoài tại Việt Nam. Theo quy định, thì Tổ chức trọng tài nước ngoài chỉ được hoạt
động dưới 2 hình thức là văn phòng đại diện và chi nhánh. Theo đó, sẽ không có trung tâm
trọng tài nước ngoài độc lập nào được thành lập tại Việt Nam. Quy định này trái với Luật
đầu tư. Theo luật Đầu tư, dịch vụ pháp lý không nằm trong những lĩnh vực đầu tư có điều
kiện hoặc cấm đầu tư. Do đó, nhà đầu tư hoàn toàn có thể thành lập dưới hình thức: 100%
vốn nước ngoài, liên doanh, sáp nhập, mua lại, vv. Như vậy, trong trường hợp một nhà đầu
tư nước ngoài muốn thành lập một trung tâm trọng tài tại Việt Nam, Luật nào sẽ được
đưa vào áp dụng?
Mặc dù trái với pháp luật trong nước, nhưng quy định này lại hoàn toàn phù hợp với
WTO, vì Việt Nam không cam kết mở cửa trong lĩnh vực trọng tài. Và theo nghị định
108/2006/ND-CP của Chính Phủ về đầu tư, khi Việt Nam không cam kết thì đồng nghĩa với
việc được coi là lĩnh vực đầu tư có điều kiện và các Bộ ngành sẽ đưa ra ý kiến riêng cho từng
trường hợp. Đây được coi là một điểm thiếu sót rất lớn của Pháp luật Việt Nam trong quá trình
hội nhập nói chung, không riêng gì đối với quy định về Trọng tài. Do đó, trường hợp nêu trên
chỉ trở thành trở ngại khi nước đó không phải một thành viên của WTO.
b. Những điều khoản cần làm rõ
- Điều 3: Giải thích từ ngữ. Trong điều khoản này, cụm từ “Trọng tài viên” được
giải thích là “người được các bên lựa chọn hoặc được trung tâm trọng tài hoặc tòa án chỉ
định để giải quyết tranh chấp theo quy định của luật này.” Tuy nhiên, khi áp dụng cách giải
thích này vào mục 3 điều 75 (Tổ chức trọng tài nước ngoài cử một Trọng tài viên làm trưởng
chi nhánh) và mục 6 điều 76 (Chỉ định Trọng tài viên để thành lập hội đồng trọng tài theo ủy
quyền của tổ chức trọng tài nước ngoài) là không hợp lý.
- Điều 20: Tiêu chuẩn trọng tài viên. Mục 1c: “Trong trường hợp đặc biệt, chuyên
gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được
yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm trọng tài viên”. Tuy nhiên,
Luật lại chưa có quy định cụ thể về chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm thực tiễn… là như
thế nào. Ngoài ra, điều khoản này đã đưa ra những quy định khá rõ ràng về tiêu chuẩn trọng
tài viên, tuy nhiên, do luật này được áp dụng cho cả các hoạt động thương mại quốc tế và nội
địa, nên chăng cần bổ sung trình độ ngoại ngữ vào tiêu chuẩn trọng tài viên. Hoặc trong điều
24: điều kiện và thủ tục thành lập Trung tâm trọng tài, nên đưa thêm điều kiện phải có ít nhất
03 trọng tài viên có khả năng sử dụng ít nhất 1 ngoại ngữ, nhằm giúp nâng cao tính thực thi
của luật.
10
- Chương II: Thỏa thuận trọng tài. Chương này quy định một số điều liên quan tới
thỏa thuận trọng tài như hình thức thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu… Nhưng
trên thực tế vẫn tồn tại những trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa
thuận này không còn giá trị nữa, chỉ đến khi trung tâm trọng tài từ chối giải quyết thì các bên
mới biết. Có thể hình dung qua một trường hợp cụ thể, rằng các bên đã có thỏa thuận tại Hợp
Đồng nhưng tại Phụ lục lại lựa chọn Tòa án giải quyết hoặc tại thời điểm các bên ghi lời
khai khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện; rằng chọn Tòa án, khi đó, theo quy định của Bộ
luật Tố Tụng Dân Sự hiện hành, vụ kiện không thuộc thẩm quyền của Trọng tài mà thuộc về
Tòa án.
- Điều 29: Chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài. Điều khoản này có quy định
việc thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm trọng tài. Tuy nhiên,
Luật chưa đề cập cụ thể trong những trường hợp như thế nào thì các trung tâm trọng tài bị
thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký kinh doanh. Đặc biệt, tại mục 2, “Chính phủ quy
định chi tiết…” nhưng không thấy dẫn chiếu tới luật nào quy định trường hợp này.
- Điều 30: Đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo. Mục 3, kèm theo đơn khởi kiện,
phải có thỏa thuận trọng tài, bản chính hoặc bản sao các tài liệu có liên quan, chưa quy định
rõ thỏa thuận trọng tài ở đây phải nộp bản chính hay bản sao. Cần làm rõ thêm vấn đề này
nhằm tránh việc bộ hồ sơ bị trả lại, gây lãng phí thời gian của các bên.
- Điều 38: Thương lượng trong tố tụng trọng tài. Điều khoản này có quy định “trong
trường hợp các bên tự thỏa thuận được với nhau chấm dứt việc giải quyết tranh chấp thì có
quyền yêu cầu Chủ tịch Trung tâm trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp”
nhưng lại không đề cập tới vấn đề chi phí phát sinh. Trong trường hợp có một số chi phí phát
sinh, nhưng về sau các bên lại thương lượng được và không dùng trọng tài nữa, thì những
chi phí này sẽ được phân bổ như thế nào, các bên sẽ chịu chi phí ra sao…
- Chương VII: Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Chương này quy định một số vấn đề
liên quan tới việc áp dụng và thực thi biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhưng lại chưa quy định
rõ cho trường hợp sử dụng trọng tài vụ việc. Điều 30, Đơn khởi kiện và các tài liệu kèm
theo, mục 1 quy định “Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc,
nguyên đơn phải làm đơn khởi kiện và gửi cho bị đơn” và điều 41, Thành lập Hội đồng trọng
tài vụ việc, mục 1 quy định “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi
kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chọn Trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết
Trọng tài viên mà mình chọn” Sau khi biết được hội đồng trọng tài viên thì bên nguyên đơn
mới có thể yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, bị đơn đã có thể tẩu tán tài sản của mình.
11
Trong trường hợp này, nguyên đơn sẽ phải nhờ tới Tòa án có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, trong điều 53, khái niệm tòa án có thẩm quyền lại chưa
được làm rõ.
- Điều 49: Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Mục 5 điều khoản này có quy định “Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
khác hoặc vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bên yêu cầu mà gây
thiệt hại cho bên yêu cầu, bên bị áp dụng hoặc người thứ ba thì người bị thiệt hại có quyền
khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật về tố tụng
dân sự.” nhưng lại không quy định rõ người bị thiệt hại sẽ kiện ai và ai sẽ bồi thường. (hội
đồng trọng tài???)
- Điều 50: Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài.
Mục 3 điều khoản này quy định “… bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải
gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Hội đồng trọng tài ấn định
tương ứng với giá trị thiệt hại có thể phát sinh do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không đúng gây ra để bảo vệ lợi ích của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời.” Tuy nhiên, luật chưa giải thích rõ cách tính “giá trị thiệt hại có thể phát sinh”. Vì vậy,
khi đưa vào thực thi, Luật sẽ gây ra khó khăn cho các bên khi áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời, và làm cho biện pháp này ít được sử dụng do quá phức tạp.
- Chương XII: Tổ chức và hoạt động của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Chương
này quy định và điều chỉnh hoạt động của hoạt động trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Tuy
nhiên, Luật lại chưa quy định rõ cơ quan nào sẽ tiếp nhận hồ sơ hình thành, hay giám sát
hoạt động, hay việc rút giấy phép thành lập… của các chi nhánh, văn phòng đại diện này.
Ngoài ra, thẩm quyền của trọng tài nước ngoài, hay việc công nhận phán quyết của trọng tài
nước ngoài cũng chưa được quy định cụ thể trong chương này.
2. Những vấn đề về mặt thực thi
Có rất nhiều những vấn đề cần bàn và cân nhắc sau khi bất cứ một văn bản pháp luật
nào đã và sắp ban hành. Luật TTTM 2010 sắp đến ngày có hiệu lực và đó cũng là thách thức
cho sự tồn tại của Luật trong tương lai. Đề cập đến các vấn đề tồn tại về mặt thực thi Luật và
các văn bản pháp lý khác, ở đây chúng tôi đưa ra một vài thực trạng đã tồn tại để cùng nhìn
lại cũng như có đánh giá vắn tắt và cũng xin được suy ngẫm về độ “Sống”của Luật TTTM
2010.
a. Thực trạng thứ nhất
12
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét