1.4. Trong thực tế, quá trình nghiên cứu và giảng dạy văn học thời kỳ này trước
1986, các nhà nghiên cứu với nhiều lý do thường chỉ tập trung chú ý tới khuynh hướng
văn học hiện thực. Sau 1986, vị trí, giá trị của văn học lãng mạn (đặc biệt là văn xuôi
khuynh hướng lãng mạn) được chú ý nghiên cứu trên tinh thần khách quan, khoa học
và các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đóng góp nổi bật của khuynh hướng này trong
tiến trình vận động, phát triển của văn xuôi nói riêng, văn học dân tộc nói chung.
Đồng thời, thấy rõ hơn tính phức tạp nhiều mặt, sự ảnh hưởng qua lại của khuynh
hướng lãng mạn với khuynh hướng hiện thực về tư tưởng và nghệ thuật. Song chưa có
công trình chuyên biệt nào nghiên cứu giao thoa giữa hai khuynh hướng một cách hệ
thống mà chỉ là những ý kiến, nhận định riêng trong các bài viết, các giáo trình.
1.5. Xuất phát từ thực tế giảng dạy trong nhà trường, văn xuôi thời kỳ 1932 -
1945 chiếm một dung lượng lớn, là một trong những nội dung cơ bản tạo nên giá trị
đặc sắc, góp phần hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam. Tiếp đó là sự xuất hiện của nhiều
tác giả lớn với những kiệt tác và hình tượng nghệ thuật bất hủ, độc đáo. Do đó, tìm
hiểu sự giao thoa về tư tưởng và nghệ thuật gữa hai khuynh hướng văn xuôi trên là rất
cần thiết, có giá trị thực tiễn cao đối với quá trình giảng dạy. Tìm hiểu, nghiên cứu
theo hướng này giúp cho người giáo viên hiểu thấu đáo hơn về diện mạo, tính chất của
giai đoạn văn học. Từ đó, hiểu sâu sắc hơn về tác giả, tác phẩm tiêu biểu của họ.
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: Giao
thoa nghệ thuật giữa hai khuynh hướng văn xuôi lãng mạn và văn xuôi hiện thực thời
kì 1932 - 1945.
2. Nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
2.1. Nhiệm vụ của đề tài
Luận án hướng tới tìm hiểu và phân tích những yếu tố giao thoa, những biểu
hiện gần gũi, tương đồng giữa khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực
trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 ở các cấp độ:
− Giao thoa về tư tưởng nghệ thuật.
− Giao thoa về hình thức nghệ thuật.
2.2. Giới hạn của đề tài
5
5
Đề tài tập trung tìm hiểu sự giao thoa giữa hai khuynh hướng lãng mạn và hiện
thực trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945, khảo sát qua một số cây bút tiêu
biểu: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Trần Tiêu, Hồ Dzếnh, Thanh
Tịnh, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,
Nguyên Hồng.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp lịch sử
Khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực trong văn học Việt Nam
ra đời và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa cụ thể - thời kì 1932 -
1945 Vận dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu sự giao thoa giữa văn xuôi lãng
mạn và hiện thực sẽ giúp chúng tôi thấy được những nguyên nhân tất yếu tạo nên hiện
tượng độc đáo này. Qua đó khẳng định được những yếu tố tích cực cũng như những
đóng góp của văn xuôi thuộc hai khuynh hướng này đối với lịch sử văn học.
3.2. Phương pháp tiếp cận hệ thống
Chúng tôi quan niệm khuynh hướng văn học là một hệ thống hoàn chỉnh, có mở
đầu, kết thúc cũng như quá trình vận động và phát triển với những đặc trưng, đặc điểm
riêng trong một thời điểm lịch sử cụ thể. Phương pháp tiếp cận hệ thống giúp chúng
tôi tìm hiểu, phân tích yếu tố giao thoa trong văn xuôi giữa hai khuynh hướng lãng
mạn và hiện thực trên từng cấp độ cụ thể, từ giao thoa về tư tưởng nghệ thuật, giao
thoa về hình thức nghệ thuật tới các cấp độ tác phẩm, hình tượng nghệ thuật…
3.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích, tổng hợp được vận dụng trong việc phân tích nội dung
tác phẩm, hình tượng nghệ thuật, các biện pháp nghệ thuật để thấy được các yếu tố
giao thoa giữa hai khuynh hướng văn xuôi lãng mạn và hiện thực. Qua so sánh, đối
chiếu, khẳng định những yếu tố gặp gỡ, tương đồng người viết sẽ tổng hợp và đưa ra
nhận xét, đánh giá.
3.4. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được vận dụng nhiều trong luận án. Phương
pháp này được chúng tôi vận dụng so sánh tư tưởng nghệ thuật cũng như các yếu tố
thuộc hình thức nghệ thuật giữa các tác giả, tác phẩm văn xuôi của hai khuynh hướng
lãng mạn và hiện thực để tìm được sự giao thoa.
6
6
4. Đóng góp của luận án
4.1. Về phương diện lí luận
Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên đi sâu tìm hiểu sự giao thoa nghệ
thuật giữa hai khuynh hướng văn học lãng mạn và hiện thực trong văn xuôi thời kì
1932 – 1945. Qua đó, góp phần khẳng định thêm về lí thuyết về sự cộng hưởng, tác
động lẫn nhau giữa các khuynh hướng, các hiện tượng văn học.
4.2. Về phương diện thực tiễn
− Từ việc tìm hiểu này, luận án chỉ ra những đặc trưng lịch sử của văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX, những đặc trưng này có ý nghĩa chi phối tiến trình phát triển
của một giai đoạn văn học dân tộc nhất định.
− Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên về văn văn
xuôi thời kỳ 1932 - 1945 nói riêng và văn học thời kì này nói chung.
5. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận án gồm có bốn chương:
− Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
− Chương 2: Những tiền đề văn hóa xã hội - cơ sở của sự giao thoa văn học
− Chương 3: Giao thoa về tư tưởng nghệ thuật
− Chương 4: Giao thoa về hình thức nghệ thuật
7
7
1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong quá trình tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của hai khuynh
hướng văn xuôi lãng mạn và hiện thực trước cách mạng, đã có một số ý kiến của các
nhà khoa học bàn về những yếu tố gặp gỡ, tương đồng giữa các tác giả, giữa hai
khuynh hướng sáng tác trên. Mặc dù số lượng không nhiều, các ý kiến đưa ra ở góc độ
gợi mở song đều dựa trên cơ sở khoa học có được từ cái nhìn khách quan, từ sự phân
tích, lý giải về diện mạo và thực tiễn văn xuôi thời kì này. Theo dòng thời gian, cùng
với sự vận động của xã hội và văn học, các nhà nghiên cứu đã chú ý nhiều hơn tới vấn
đề này.
1. Những ý kiến liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở giai đoạn trước 1975
− Ngay từ 1939, trong Dưới mắt tôi, nhà phê bình Trương Chính đã đề cao giá trị
hiện thực khi phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của Nhất Linh và Khái Hưng.
Khi phân tích Đoạn tuyệt, Lạnh lùng và tập truyện ngắn Tối tăm của Nhất Linh,
nhà phê bình Trương Chính chú ý nhiều và đề cao giá trị xã hội, giá trị hiện thực và
“giá trị tâm lý” trong mỗi tác phẩm. Ông đề cao Đoạn tuyệt của Nhất Linh khi khẳng
định: Đoạn tuyệt là một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại vì “Đoạn tuyệt
không chỉ có một giá trị xã hội” mà “còn có một giá trị tâm lý không ai chối cãi
được”[74; tr 629]. Khi bàn về tác phẩm Lạnh lùng, ông cho rằng đó là “mũi tên độc
thứ hai” mà Nhất Linh bắn vào Khổng giáo vì: “Trong Lạnh lùng, nạn nhân của chế độ
cũ cũng đáng thương như Loan. Nhung một người đàn bà trẻ tuổi, góa bụa, nhưng
không đi lấy chồng, hay không thể, không dám đi lấy chồng vì Luân lý, vì Đạo đức, vì
Danh dự.
Tác giả sẽ cho ta hiểu rằng Luân lý ấy là luân lý áp bức, đạo đức ấy là đạo đức
giả dối, danh dự ấy là danh dự hão huyền…”[74; tr 630]
Giá trị tố cáo, kết án xã hội được ông khẳng định khi kết luận về nội dung của
tiểu thuyết Lạnh lùng: “Đọc Lạnh lùng, ta cũng thấy cần đạp đổ những chế độ cũ nặng
nề, eo hẹp, trong đó Nhung mà có lẽ cả ta nữa đương rẫy rụa, đương ngắc ngoải…
Đến trang cuối cùng, ta có một cảm giác rùng rợn, khủng khiếp. Cảm giác ấy là cảm
giác của Nhung khi nàng nghĩ đến tương lai của nàng, một tương lai hắc ám, ghê
sợ.”[74; tr 633].
8
8
Nhận định về các tác phẩm Nửa chừng xuân và Gia đình của Khái Hưng,
Trương Chính cũng đặc biệt chú ý tới hiện thực về chế độ đại gia đình đang hiện hữu
trong xã hội như một thứ ung nhọt, cần phải xóa bỏ. Với ông, “Nửa chừng xuân là một
cuốn truyện ghi sự phấn đấu giữa cá nhân và chế độ ấy”, chế độ đại gia đình luôn “đặt
luân thường lên trên nhân đạo, đặt lễ nghi lên trên tự do cá nhân.” - một chế độ vô
nghĩa vì “vô nhân đạo”[74; tr 641,642]. Lời kết án chế độ đại gia đình của Trương
Chính mạnh mẽ hơn khi phân tích tác phẩm Gia đình của Khái Hưng. Từ việc chỉ ra
rằng: chế độ đại gia đình không chỉ làm “lung lay” hạnh phúc của những cặp vợ chồng
trẻ và khỏe mạnh mà còn biến họ thành nạn nhân và đẩy họ vào cuộc sống dục vọng
thấp hèn với những thói đố kị, hiềm khích và ghen tị hay lối sống phó mặc, chán
chường, liều lĩnh… Trương Chính khẳng định giá trị tố cáo mạnh mẽ của tác phẩm:
“Gia đình là nhát búa cuối cùng vào bức tượng khổng lồ nhưng đã mục nát của thế hệ
trước: chế độ đại gia đình.”[74; tr 655]
Những ý kiến, nhận định của nhà phê bình Trương Chính trong Dưới mắt tôi
không trực tiếp đề cập tới những yếu tố giao thoa trong văn xuôi giữa hai khuynh
hướng lãng mạn và hiện thực, song đặc biệt chú ý tới giá trị hiện thực trong sáng tác
của các cây bút lãng mạn tiêu biểu - Nhất Linh và Khái Hưng: phê phán, tố cáo mạnh
mẽ chế độ đại gia đình mục ruỗng, thối nát đang tồn tại trong xã hội. Trương Chính đã
ghi nhận công lao của Nhất Linh khi phơi bày sự áp bức, giả dối, hão huyền đang núp
sau những luân lí, danh dự, đạo đức của lễ giáo phong kiến lạc hậu, lỗi thời.
9
9
− Trong Nhà văn hiện đại, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan dựa vào tiêu chí riêng của
mình đã xếp Nhất Linh vào mục Tiểu thuyết luận đề, Khái Hưng vào mục Tiểu
thuyết phong tục và Thạch Lam trong hệ thống các cây bút Tiểu thuyết xã hội. Ông
xếp cuốn Nửa chừng xuân vào các “tiểu thuyết lí tưởng” và còn có “khuynh hướng
về phong tục” khi cho rằng: “Vai bà Án cho người ta được thấy quyền hành của
một người mẹ trong một gia đình Việt Nam quý phái và cả những cái hay cái dở
của quyền hành ghê gớm ấy; vai Hàn Thanh cho người ta biết sơ qua những thủ
đoạn tàn ác của bọn cường hào ở các nơi thôn quê Việt Nam ”[110; tập 2; tr 220].
Theo Vũ Ngọc Phan: “người ta thấy ông (Khái Hưng) mới đầu chú trọng vào lý
tưởng, rồi dần dần ông lưu tâm đến thực tế và viết rặt những tiểu thuyết tả thực về
phong tục, lấy sự chân xác làm điều cốt yếu…”[110; tập 2; tr 244]. Nhà phê bình
Vũ Ngọc Phan đã chú ý tới một mảng hiện thực xã hội đang tồn tại - những phong
tục lỗi thời đã tạo nên giá trị trong nội dung các tiểu thuyết phong tục của Khái
Hưng. Về tác giả Nhất Linh, Vũ Ngọc Phan xếp vào mục Tiểu thuyết luận đề và
cũng đề chú ý tới yếu tố phong tục trong nội dung phản ánh trên tinh thần cải cách
rõ rệt: “Ông là một tiểu thuyết gia muốn trừ bỏ những cái xấu xa trong gia đình và
trong xã hội, mà bất kỳ ở giai cấp nào chứ không phải chỉ ở hạng thợ thuyền và
dân quê; ông là một nhà văn viết về những tục xấu của người Việt Nam và có cái
tư tưởng khuyến khích người ta sửa đổi.”[110; tập 2; tr 300].
Khi bàn về truyện ngắn Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan đặc biệt đề cao biệt tài miêu
tả cảm giác vừa tỉ mỉ vừa tinh tế của ông. Bên cạnh đó, nhà phê bình cũng phát hiện
trong Gió đầu mùa, bên cạnh những cảm giác thiết tha, nhẹ nhàng, có duyên còn là các
cảm giác “chua chát và cảm động như Một cơn giận”, “thê thảm và nhạo đời như
Đói”, “bi thương và chán ngán như Người lính cũ, lầm than và thảm thương như Hai
lần chết”[110; tập 2; tr 573]. Nhận định về Tối ba mươi - một trong những truyện “vào
hạng những đoản thiên tiểu thuyết đáng kể là hay nhất trong văn chương Việt Nam”,
Vũ Ngọc Phan đặc biệt tán dương tài năng của Thạch Lam: “Tả cái phút cay đắng của
bọn gái giang hồ đến như thế thì khéo tuyệt. Cái cốc, vài lời nói kín đáo, vài cử chỉ
nhẹ nhàng, đủ phô bày hết cả cái cảnh thối tha…” và cái gật đầu của Liên “thảm hơn
cả tiếng khóc, đau xót hơn cả những tiếng thở dài”[110; tập 2; tr 579]. Phải chăng, đây
là nguyên nhân khiến Vũ Ngọc Phan xếp Thạch Lam vào mục Tiểu thuyết xã hội.
10
10
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan khi nghiên cứu về các cây bút tiêu biểu của Tự lực
văn đoàn cũng đã gặp gỡ với nhà phê bình Trương Chính khi chú ý tới một mảng hiện
thực trong tiểu thuyết của họ. Đó là hiện thực cuộc sống nghèo nàn, tù túng với những
số phận bất hạnh, những hủ tục đang tồn tại trong xã hội như một căn bệnh cần phải
xóa bỏ. Trong cái nhìn của hai nhà phê bình có tiếng đương thời, hiện thực xã hội cũng
là nội dung quan trọng trong tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng và Thạch Lam. Dù
chưa phải là hiện thực nóng bỏng với những mâu thuẫn cơ bản, song yếu tố hiện thực
về cuộc sống của con người gắn với lễ giáo, hủ tục phong kiến cũng được đề cập và
ghi nhận và tạo dấu ấn trong tác phẩm của các cây bút Tự lực văn đoàn.
− Vào thập niên 60 của thế kỉ XX, tình hình nghiên cứu văn học thời kì 1932 - 1945
vẫn tiếp tục diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt (đất nước bị chia cắt) và đã thu
được kết quả nhất định.
Năm 1960, ở miền Nam, nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ đã trình bày công trình
nghiên cứu công phu, đầy đặn về Tự lực văn đoàn cũng như các cây bút nổi bật của tổ
chức văn học này trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, Văn học hiện
đại 1862-1945. Trong mục Tổng luận về Tự lực văn đoàn, ông khẳng định thành công
to lớn của tổ chức văn học này ở thể loại tiểu thuyết khi nhận định: “Có thể nói chỉ với
Tự lực văn đoàn chúng ta mới bắt đầu có tiểu thuyết Việt Nam”. Và cho rằng những
nhân vật như “Mai và Lộc, Lan và Ngọc, Minh và Liên, Loan và Dũng xuất hiện trên
đường phố Hà Nội… hay trên những đồi chè Phú Thọ đã cho người đọc 1932 cảm
tưởng là những người bạn rất gần, những mảnh đời rất quen thuộc.”[74; tr 29]. Trong
cái nhìn khái quát của nhà nghiên cứu, nhân vật của tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn
cũng có những yếu tố chân thực chứ không hoàn toàn xa lạ, dù họ là những thanh niên
thuộc tầng lớp trên trong xã hội.
Khi bàn về hai cuốn Đoạn tuyệt và Lạnh lùng của Nhất Linh, Phạm Thế Ngũ
chú ý tới thái độ mạnh mẽ, quyết liệt đến dữ dội khi phê phán lễ giáo phong kiến:
“Nhất Linh đả kích dữ dội gia đình cũ, luân lý cũ”[74; tr 177]. Và theo ông, đây cũng
là nguyên nhân “gây ra nhiều xôn xao cho dư luận” khi hai cuốn tiểu thuyết này liên
tiếp xuất hiện trên hai tờ Phong Hóa rồi Ngày Nay.
11
11
Phạm Thế Ngũ xếp các cuốn tiểu thuyết Gia đình, Thừa tự, Thoát ly của Khái
Hưng vào nhóm những tiểu thuyết về gia đình Việt Nam, “chuyên chú mô tả những
khía cạnh phong tục của gia đình cũ Việt Nam.”. Qua phân tích, ông chỉ ra đầy đủ
những bi hài trong những tiểu thuyết trên của Khái Hưng. Gia đình là bản “cáo trạng
dữ dội phanh phui tất cả bề trong nhơ nhớp” trong “cái gia đình Việt Nam mà trước
1932 phái cựu học ca tụng như một nền tảng xã hội, nơi nảy nở những đức tính tốt đẹp
của nước Nam xưa”[74; tr 342]. Đó là thói háo danh, lòng ghen tuông đố kị đã biến
ruột thịt thành cừu thù, là “cái óc gia đình” - “một người làm quan cả họ được nhờ” đã
đẩy con người tới cái ác, sự tàn nhẫn vô liêm sỉ với lối sống kèn cựa, luồn cúi, chơi
bời trụy lạc.
Viết về Thạch Lam, Phạm Thế Ngũ gặp gỡ Vũ Ngọc Phan khi cho rằng: Thạch
Lam là nhà văn có khuynh hướng xã hội. Về nhân vật, Thạch Lam hướng ngòi bút về
“những người tầm thường trong xã hội” và không dừng ở bên ngoài “xem xét thương
hại, mơ tưởng những công trình cứu giúp to tát, như trường hợp của Nhất Linh hay
Hoàng Đạo. Ông đi ngay vào cuộc sống của họ, dùng giọng thân mật vạch vẽ những
nỗi khốn khổ eo hẹp của họ”[74; tr 467]. Về ý này, Phạm Thế Ngũ đưa ra kết luận rất
tinh tế và chính xác về nét riêng khi hướng tới phản ánh hiện thực của Thạch Lam: “Ta
thấy tác giả không có ý bi thảm hóa bức tranh xã hội mà muốn giữ một ngòi bút chừng
mực và trung thực, làm một thứ nghệ thuật “hiện thực nhân bản””[74; tr 467].
Nhà phê bình Phạm Thế Ngũ rất chú ý tới giá trị hiện thực trong nội dung phản
ánh của các cây bút tiêu biểu cho khuynh hướng lãng mạn Tự lực văn đoàn, đặc biệt là
các tiểu thuyết hướng tới tố cáo, đả kích lễ giáo phong kiến.
12
12
− Năm 1961, ở miền Bắc, văn học lãng mạn và văn học hiện thực được nghiên cứu
có hệ thống hơn và được đưa vào giáo trình bậc đại học: Văn học Việt Nam 1930-
1945 [30]. Nhà nghiên cứu Bạch Năng Thi đã chú ý tới sự đan xen giữa những yếu
tố lãng mạn và hiện thực trong văn xuôi của Tự lực văn đoàn. Theo ông, sức hấp
dẫn của các nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có được vì đó là những
nhân vật “tiêu biểu cho một vài tầng lớp “tồn tại thực sự” trong xã hội Việt Nam
khi ấy”[74; tr 594]. Theo quan điểm “trong văn học, cái gì lâu quên là cái chẳng
những có nghệ thuật mà còn phải có cơ sở hiện thực”, nhà nghiên cứu Bạch Năng
Thi có ý thức gạn đục khơi trong - “tước bỏ cái cốt duy tâm đi, cái vỏ mĩ miều đi
để lấy cái hiện thực nằm trong đó”, từ đó khẳng định giá trị tích cực của tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn[74; tr 371]. Phân tích tiểu thuyết Nửa chừng xuân (Khái Hưng),
ông làm rõ, bên cạnh nội dung về một mối tình lí tưởng là nội dung hiện thực và
chính xác khi cho rằng: “Những cái hiện thực mà tác phẩm phản ánh còn mạnh hơn
ý muốn của tác giả” và “Được như thế, không phải tại tác giả đã nhìn thấu suốt
nhân vật phong kiến, đã lột trần được cái bản chất phong kiến của bà Án đâu.
Chính là nhờ ý nghĩa của một số chi tiết hiện thực”[74; tr 607]. Nhận xét về nhân
vật phụ Hàn Thanh, ông cũng cho rằng đây là nhân vật “tiêu biểu cho cường hào
gian ác, một tai nạn ở thôn quê trước cải cách ruộng đất.”[74; tr 609]. Trên tinh
thần ấy, ông mạnh mẽ khẳng định: “Giá trị tiểu thuyết Gia đình chính là ở chỗ nó
miêu tả những sự thật xấu xa của đại gia đình phong kiến và của quan trường Pháp
thuộc.
Nó còn nói lên được rằng trong xã hội thực dân phong kiến, người thanh niên
trí thức như An thường là nạn nhân của sự tha hóa trầm trọng”[74; tr 618].
Chú ý tới yếu tố hiện thực trong truyện ngắn Thạch Lam, Bạch Năng Thi muốn
nhấn mạnh: phản ánh hiện thực trở thành nhiệm vụ của văn học trong quan niệm và ý
thức của Thạch Lam khi nhắc tới Lời nói đầu trong tập truyện ngắn Gió đầu mùa. Và
khi so sánh với các cây bút lãng mạn khác, ông thấy rằng: “Gió đầu mùa có yếu tố
hiện thực hơn nhiều tác phẩm lãng mạn, và Thạch Lam có xu hướng “bình dân” thành
thực hơn nhiều nhà văn lãng mạn khác”.[74; tr 618]
13
13
Có thể thấy rằng, trong những công trình nghiên cứu trước 1975 về văn xuôi
lãng mạn, các nhà phê bình không chỉ nhấn mạnh tới những nội dung lãng mạn, “lí
tưởng” mà còn khẳng định được nội dung hiện thực là nội dung làm nên giá trị của tác
phẩm. Có nhà nghiên cứu đã nêu lên những nguyên nhân tạo nên giá trị hiện thực
trong tác phẩm của các cây bút lãng mạn như:
“Do nhu cầu đấu tranh chống giáo lí và tập quán phong kiến khiến tác giả phải
lấy tài liệu trong những môi trường và những con người phong kiến để phục vụ cho
cái chủ đề sáng tác…”.
Hay do “Phong trào bình dân, cái thị hiếu của độc giả có đổi thay, sự tấn công
của văn phái hiện thực chủ nghĩa và của những người tiến bộ…và đả kích chủ nghĩa
lãng mạn”.
Hoặc “Có phần nào hiện thực là hiện thực vì yêu cầu của nghệ thuật, chứ không
phải là vì xu hướng hiện thực chủ nghĩa”[74; tr 370].
Các nguyên nhân trên không phải không chính xác, song nhà phê bình mới chỉ
chú ý tới những yếu tố tác động từ bên ngoài tới văn xuôi lãng mạn mà chưa chú ý tới
những yếu tố bên trong như: thái độ bất hòa của các cây bút lãng mạn đối với hiện
thực xã hội thối nát, tinh thần dân tộc, thái độ cảm thông, tình cảm chân thành đối với
những người lao động nghèo.
2. Những ý kiến liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở giai đoạn sau 1975
Từ 1975 đến nay, tình hình nghiên cứu về văn học thời kì 1932 - 1945 ngày
càng toàn diện, khách quan. Mỗi một vấn đề được tìm hiểu, phân tích, soi chiếu từ
nhiều góc độ và đã có được những thành tựu đáng kể. Từ các giáo trình đến các bài
viết về văn học thời kì này đã chú ý tới lịch sử, quá trình hình thành cũng như sự ảnh
hưởng tác động qua lại lẫn nhau giữa các khuynh hướng để từ đó khẳng định những
giá trị nhiều mặt của các khuynh hướng, trào lưu cũng như các tác giả, tác phẩm tiêu
biểu ở từng thể loại. Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý tới những ý kiến, nhận định
liên quan tới nội dung của đề tài nghiên cứu.
Năm 1978, trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (tập V, 1930-1945, phần
I), tác giả Nguyễn Trác đã chú ý tới sự tác động qua lại giữa dòng văn học lãng mạn và
dòng văn học hiện thực phê phán: “Ở nước ta, văn học hiện thực phê phán phát triển
song song với văn học lãng mạn và có sự tác động qua lại giữa hai dòng văn học”[94;
tr 184].
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét