Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

Trên cơ sở quan điểm của Triết học Mác – Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, phân tích hình thái Kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Trên cơ sở quan điểm của Triết học Mác – Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, phân tích hình thái Kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay": http://123doc.vn/document/566989-tren-co-so-quan-diem-cua-triet-hoc-mac-lenin-ve-hinh-thai-kinh-te-xa-hoi-phan-tich-hinh-thai-kinh-te-xa-hoi-viet-nam-hien-nay.htm


Chuyên đề Triết học
gắn bó chặt chẽ với quan hệ sản xuất, biến đổi cùng với sự biến đổi của quan
hệ sản xuất.
1.1.3. Cấu trúc của hình thái kinh tế - xã hội
1.1.3.1. Quan hệ sản xuất
- Khi nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin ta thấy quan hệ sản xuất là
quan hệ cơ bản quyết định những quan hệ sản xuất khác. Thật vậy sản xuất
của xã hội là hoạt động đặc trưng riêng của con người và xã hội loài người, đó
là sự phân biệt khác nhau cơ bản giữa xã hội loài người và xã hội loài vật. Sản
xuất xã hội bao gồm sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản
thân con người. Thực tế chứng minh ba quá trình này của sản xuất không tách
biệt với nhau, trong đó sản xuất vật chất giữ vai trò nền tảng và là cơ sở của
sự tồn tại cũng như phát triển xã hội. Theo Mác thì sản xuất vật chất quy định
và quyết định toàn bộ đời sống xã hội.
- Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Do con người không thể tách khỏi cộng
đồng nên trong quá trình sản xuất phải có những mối quan hệ với nhau. Vậy
việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là một vấn đề có
tính quy luật. Nhìn tổng thể quan hệ sản xuất gồm 3 mặt :
- Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, tức là quan hệ giữa người với
tư liệu sản xuất, nói cách khác là tư liệu sản xuất thuộc về ai.
- Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, tức là quan hệ giữa người
với người trong sản xuất và trao đổi của cải vật chất như : phân công chuyên
môn hoá và hợp tác hóa lao động, quan hệ giữa người quản lý và công nhân
v.v…
- Quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra, tức là quan hệ chặt
chẽ giữa sản xuất và sản phẩm với cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lí
và có hiệu quả tư liệu sản xuất.
HVTH : Tiêu Chí Thành - 5 - GVHD : TS. Nguyễn Đình Tư
Chuyên đề Triết học
Trong quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đóng
vai trò quyết định.
1.1.3.2. Lực lượng sản xuất
- Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên trong quá trình sản xuất, đồng thời thể hiện năng lực thực tiễn của con
người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất bao
gồm : người lao động với kỹ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước
hết là công cụ lao động. Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người
và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau thành lực
lượng sản xuất.
- Trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, con người lao động và
công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất. Người lao động là chủ thể của quá
trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng
tư liệu lao động (công cụ lao động) tác động vào đối tượng lao động để sản
xuất ra của cải vật chất. Công cụ lao động do con người tạo ra với mục đích
nhân sức mạnh bản thân lên trong quá trình lao động sản xuất. Sự cải tiến và
hoàn thiện không ngừng của công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu
sản xuất.
1.1.3.3. Kiến trúc thượng tầng
- Theo Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác và Ăngghen thì kiến trúc
thượng tầng là toàn bộ những quan điểm : chính trị, pháp quyền, triết học, đạo
đức, tôn giáo, nghệ thuật. Cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà
nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội, v.v Kiến trúc thượng tầng là
những hiện tượng xã hội, biểu hiện tập trung đời sống tinh thần của xã hội. Là
bộ mặt tinh thần tư tưởng của hình thái kinh tế - xã hội. Nó đóng vai trò quan
trọng cùng các bộ phận khác trong xã hội hợp thành cơ cấu hoàn chỉnh của
hình thái kinh tế xã hội. Kiến trúc thượng tầng được hình thành và phát triển
HVTH : Tiêu Chí Thành - 6 - GVHD : TS. Nguyễn Đình Tư
Chuyên đề Triết học
phù hợp với cơ sở hạ tầng, nhưng nó lại là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát
triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó. Theo Mác kiến trúc thượng tầng được xây
dựng trên những quan hệ sản xuất.
- Theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì trong xã hội có giai cấp cho nên kiến
trúc thượng tầng mang tính giai cấp, trong đó, nhà nước có vai trò đặc biệt
quan trọng. Nó tiêu biểu cho chế độ chính trị của một xã hội nhất định. Nhờ
có nhà nước, giai cấp thống trị mới thực hiện được sự thống trị của mình về
tất cả các mặt của đời sống xã hội.
1.1.4. Mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất, lực lượng sản
xuất và kiến trúc thượng tầng
- Quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất, Mác cho rằng : “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật
thiết với những lực lượng sản xuất. Do có được những lực lượng sản xuất
mới, loài người thay đổi được phương thức sản xuất, cách kiếm sống của
mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình”. Như vậy
theo Mác lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định trong việc thay đổi toàn
bộ các quan hệ xã hội.
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức
sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một
cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Từ đó tạo nên quy luật cơ bản nhất
của sự vận động và phát triển của xã hội.
- Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển.
Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực
lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất. Trình độ lực lượng
sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của
HVTH : Tiêu Chí Thành - 7 - GVHD : TS. Nguyễn Đình Tư
Chuyên đề Triết học
con người trong giai đoạn lịch sử đó. Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở
trình độ công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con
người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa
học vào sản xuất.
- Trong quá trình hoạt động sản xuất, lực lượng sản xuất không ngừng
được hoàn thiện và phát triển mà trước hết là phát triển công cụ sản xuất. Đến
một trình độ nhất định, tính chất của lực lượng sản xuất thay đổi về cơ bản khi
đó quan hệ sản xuất cũ lỗi thời trở thành vật cản đối với sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Đến một mức độ nhất định quan hệ sản xuất ấy bị phá vỡ để
xác lập một kiểu quan hệ sản xuất mới cao hơn từ đó một phương thức sản
xuất mới ra đời, một hình thái kinh tế xã hội mới xuất hiện. Như vậy lực
lượng sản xuất đóng vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất.
- Quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo quy
luật “Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất”. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất thì thúc đẩy sản xuất phát triển”.
- Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là trạng thái mà
trong đó, quan hệ sản xuất là "hình thức phát triển" của lực lượng sản xuất.
- Song song đó sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ
nhất định lại làm cho quan hệ từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự
phát triển của lực lượng sản xuất. Khi đó quan hệ sản xuất trở thành xiềng
xích của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Yêu cầu
khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất tất yếu sẽ dẫn đến thay
thế quan hệ sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thế
HVTH : Tiêu Chí Thành - 8 - GVHD : TS. Nguyễn Đình Tư
Chuyên đề Triết học
quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phương thức
sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế.
Từ nghiên cứu các quan hệ hình thành trong quá trình sản xuất ra của
cải vật chất, Mác đi đến nghiên cứu các mặt khác của đời sống xã hội như
chính trị, pháp quyền, các hình thái ý thức xã hội v.v… Trong các mối quan
hệ xã hội hết sức phức tạp và tác động qua lại một cách biện chứng Mác đã
phát hiện ra : cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, tồn tại xã hội
quyết định ý thức xã hội, phương thức sản xuất quyết định các mặt của đời
sống xã hội. Từ đó cho thấy xã hội là một hệ thống, trong đó các mặt có mối
liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, làm cho xã hội vận động, phát triển theo
các quy luật khách quan. Từ các mối quan hệ xã hội vận động theo các quy
luật khách quan, Mác cho rằng giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Mối quan hệ này
được gọi là hình thái kinh tế - xã hội.
1.2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ
HỘI LÀ QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ, TỰ NHIÊN
Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội
nối tiếp nhau. Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật vận động phát triển khách
quan của xã hội, Mác đã đi đến kết luận: "Sự phát triển của những hình thái
kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên".
- Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống, trong đó các mặt không
ngừng tác động qua lại lẫn nhau tạo thành các quy luật vận động, phát triển
khách quan của xã hội. Đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định
kiến trúc thượng tầng và các quy luật xã hội khác. Chính sự tác động của các
quy luật khách quan đó mà các hình thái kinh tế xã hội vận động phát triển từ
thấp đến cao. Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển của xã hội là ở sự
HVTH : Tiêu Chí Thành - 9 - GVHD : TS. Nguyễn Đình Tư
Chuyên đề Triết học
phát triển của lực lượng sản xuất. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất
đã quyết định, làm thay đổi quan hệ sản xuất. Đến lượt mình, quan hệ sản
xuất thay đổi sẽ làm cho kiến trúc thượng tầng thay đổi theo, và do đó mà
hình thái kinh tế xã hội cũ được thay thế bằng hình thái kinh tế xã hội mới cao
hơn, tiến bộ hơn. Quá trình đó diễn ra một cách khách quan chứ không phải
theo ý muốn chủ quan. Lênin viết: "Chỉ có đem quy những quan hệ sản xuất
vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở
vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá
trình lịch sử tự nhiên".
- Con đường phát triển của mỗi dân tộc không chỉ bị chi phối bởi các
quy luật chung, mà còn bị tác động bởi các điều kiện về tự nhiên, về chính trị,
về truyền thống văn hóa, về điều kiện quốc tế, v.v… Chính vì vậy, lịch sử
phát triển của nhân loại hết sức phong phú, đa dạng. Mỗi dân tộc đều có nét
độc đáo riêng trong lịch sử phát triển của mình. Có những dân tộc lần lượt trải
qua các hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao; nhưng cũng có những dân tộc
bỏ qua một hay một số hình thái kinh tế - xã hội nào đó. Tuy nhiên, việc bỏ
qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử - tự nhiên chứ không phải theo
ý muốn chủ quan.
- Như vậy, quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng
những diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ
qua, trong những điều kiện nhất định, một hoặc một vài hình thái kinh tế - xã
hội nhất định.
1.3. GIÁ TRị KHOA HỌC CỦA HỌC THUYẾT HÌNH THÁI
KINH TẾ - XÃ HỘI
Trước Mác, chủ nghĩa duy tâm giữ vai trò thống trị trong khoa học xã
hội. Sự ra đời học thuyết hình thái kinh tế xã hội đã đưa lại cho khoa học xã
hội một phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học đó là :
HVTH : Tiêu Chí Thành - 10 - GVHD : TS. Nguyễn Đình Tư
Chuyên đề Triết học
- Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất
quyết định các mặt của đời sống xã hội. Cho nên, không thể xuất phát từ ý
thức, tư tưởng, từ ý chí chủ quan của con người để giải thích các hiện tượng
trong đời sống xã hội mà phải xuất phát từ phương thức sản xuất.
- Xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa
các cá nhân, mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với
nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản,
quyết định các quan hệ xã hội khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các
chế độ xã hội. Điều đó cho thấy, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội, phải
phân tích một cách sâu sắc các mặt của đời sống xã hội và mối quan hệ lẫn
nhau giữa chúng. Đặc biệt phải đi sâu phân tích về quan hệ sản xuất thì mới
có thể hiểu một cách đúng đắn về đời sống xã hội. Chính quan hệ sản xuất
cũng là tiêu chuẩn khách quan để phân kỳ lịch sử một cách đúng đắn, khoa
học.
- Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử
tự nhiên, tức diễn ra theo các quy luật khách quan chứ không phải theo ý
muốn chủ quan. Cho nên, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội phải đi sâu
nghiên cứu các quy luật vận động phát triển của xã hội. Lênin viết: "Xã hội là
một cơ thể sống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là một cái gì
được kết thành một cách máy móc và do đó cho phép có thể tùy ý phối hợp
các yếu tố xã hội như thế nào cũng được), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó
thì cần phải phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành
một hình thái xã hội nhất định và cần phải nghiên cứu những quy luật vận
hành và phát triển của hình thái xã hội đó".
- Kể từ khi học thuyết hình thái kinh tế xã hội của Mác ra đời cho đến
nay, loài người đã có những bước phát triển hết sức to lớn về mọi mặt, nhưng
học thuyết đó vẫn nguyên giá trị. Nó vẫn là phương pháp thực sự khoa học để
HVTH : Tiêu Chí Thành - 11 - GVHD : TS. Nguyễn Đình Tư
Chuyên đề Triết học
nhận thức một cách đúng đắn về đời sống xã hội. Đương nhiên, học thuyết đó
không bao giờ có tham vọng giải thích tất cả, mà chỉ có ý muốn vạch ra một
phương pháp duy nhất khoa học để giải thích lịch sử.
CHƯƠNG 2 : HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN
2.1. HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM
Sự nghiệp đổi mới của nước ta đến nay đạt được những thành tựu hết
sức to lớn và có ý nghĩa lịch sử cũng chính nhờ chúng ta nhận thức đúng đắn
bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta. Thực tiễn 25 năm thực hiện chính sách đổi mới (1986 – 2010)
vừa qua cho thấy, công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ngày càng đi vào
chiều sâu thì chúng ta càng phải đối diện với những vấn đề khó khăn, phức
tạp mới, lại đặt ra cho đất nước những cơ hội lớn và thách thức mới. Tất cả
đều đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại cho đúng, vận dụng sáng tạo, bổ sung
và phát triển lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với bối
cảnh mới của thế giới và các điều kiện cụ thể trong nước hiện nay.
Đảng ta luôn kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp
với xu hướng của thời đại và điều kiện cụ thể ở nước ta thể hiện ở chỗ :
- Mặc dù Chủ nghĩa xã hội bị khủng hoảng và sụp đổ, tuy nhiên đó là
sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp, chứ
không phải của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một xã hội cao hơn chủ
nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản mặc dù đang đạt được nhiều thành tự to lớn
nhất là về khoa học công nghệ. Tuy nhiên các thành tựu chủ nghĩa tư bản tạo
ra đến lượt nó lại trở thành cái phủ định chủ nghĩa tư bản và thay thế bằng xã
hội khác cao hơn là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
HVTH : Tiêu Chí Thành - 12 - GVHD : TS. Nguyễn Đình Tư
Chuyên đề Triết học
- Đảng ta đã đề ra các mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội là :”Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Con đường phát triển và đi
lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa. Tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất
và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa. Nhưng tiếp thu, kế thừa những
thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là
khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền
kinh tế hiện đại.
Hình thái kinh tế - xã hội Việt Nam là hình thái kinh tế - xã hội ở thời
kỳ quá độ từ Chủ nghĩa tư bản sang Chủ nghĩa xã hội. Với các quan hệ sản
xuất gồm nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Trong đó sở
hữu Nhà nước và tập thể giữ vai trò chủ đạo, phù hợp với trình độ phát triển
không đồng đều của lực lượng sản xuất, với một kiến trúc thượng tầng mang
tính chất Xã hội chủ nghĩa và được xây dựng trên những quan hệ sản xuất chủ
đạo.
Nước ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩa là một tất yếu của lịch sử.
Để “nhận dạng”con đường đi lên của nước ta, trước hết cần phân tích đầy đủ
và chính xác điểm xuất phát từ đó nước ta quá độ lên CNXH. Để xác định con
đường đi lên của mình, cụ thể trong điều kiện hiện nay chính là thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước thì điều cần thiết là phải xuất
phát từ thực trạng kinh tế xã hội của đất nước, xuất phát từ đặc điểm của lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta để lựa chọn đúng hình thức kinh
tế cho hiệu quả, xác định rõ những bước đi cụ thể theo mục tiêu đã chọn.
Kiên định quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin đến nay Đảng ta đã
thông qua và ban hành thực hiện thành công hai chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 10 năm là :
HVTH : Tiêu Chí Thành - 13 - GVHD : TS. Nguyễn Đình Tư
Chuyên đề Triết học
- Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 (1991
– 2000). Việc thực hiện thành công Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế -
xã hội 10 năm 1991 - 2000 đã đưa nước ta ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế -
xã hội, bước vào giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
- Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp (2001 - 2010). Việc thực hiện thành công chiến
lược đã đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước
đang phát triển có thu nhập trung bình.
Nhận định chung về quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng ta
khẳng định : “Về cơ bản việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới
những năm qua là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên
trong quá trình thực hiện có một số khuyết điểm, lệch lạc kéo dài, dẫn đến
chệch hướng ở mức độ này hay mức độ khác. Nhận định đó là đúng đắn và
sáng suốt, phản ánh tinh thần đầy trách nhiệm của Đảng ta đối với vận mệnh
của dân tộc, của hàng triệu quần chúng nhân dân lao động – nền tảng của chế
độ ta. Từ đó, một mặt cổ vũ cho nhân dân ta phát huy tinh thần tự lực tự
cừơng để đưa đất nước ra khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, mặt khác đòi hỏi mọi
người phát huy tinh thần trách nhiệm khắc phục mọi trở ngại trên con đường
đi tới một chế độ do nhân dân lao động làm chủ. Như vậy con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội là con đường đúng đắn mặc dù còn nhiều khó khăn trước
mắt nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta không chịu lùi bước trước
bất cứ khó khăn, thử thách nào”.
Tuy nhiên trước đây trong quan hệ sản xuất, Đảng và Nhà nước ta đã
đưa quan hệ sản xuất lên quá cao so với trình độ lạc hậu của lực lượng sản
xuất ở nước ta làm cho lực lượng sản xuất không phát triển được và sản xuất
bị đình trệ. Văn kiện Đại hội VI đánh giá như sau :“Trong nhận thức cũng
HVTH : Tiêu Chí Thành - 14 - GVHD : TS. Nguyễn Đình Tư

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét