LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đa dạng sinh học các loài cá thuộc bộ cá nheo (siluriformes) ở hạ lưu hệ thống sông đồng nai": http://123doc.vn/document/1048133-da-dang-sinh-hoc-cac-loai-ca-thuoc-bo-ca-nheo-siluriformes-o-ha-luu-he-thong-song-dong-nai.htm
2.3.2.3. Nghiên cứu sinh sản 24
2.3.2.4. Nghiên cứu về dinh dưỡng 26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1. THÀNH PHẦN LOÀI BỘ CÁ NHEO ( SILURIFORMES ) Ở HẠ LƯU HỆ THỐNG
SÔNG ĐỒNG NAI 27
3.1.1. Thành phần loài 27
3.1.2 Cấu trúc thành phần loài 31
3.1.3. Các loài cá có giá trị kinh tế thuộc bộ cá Nheo 32
3.1.4. Các loài cá di cư 34
3.2. KHÓA ĐỊNH LOẠI CÁC LOÀI CÁ THUỘC BỘ CÁ NHEO SILURIFORMES Ở
VÙNG HẠ LƯU HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI 36
3.2.1. Họ cá lăng Bagridae 37
3.2.2. Họ cá nheo Siluridae 39
3.2.3. Họ cá tra Pangasiidae 40
3.2.4. Họ cá trê Clariidae 41
3.2.5. Họ cá úc Ariidae 42
3.2.6. Họ cá ngát Plotosidae 43
3.3 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ THÀNH PHẦN LOÀI KHU HỆ CÁ Ở VÙNG HẠ LƯU HỆ
THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI 43
3.3.1. Phân bố theo hệ sinh thái thủy vực 43
3.3.2. Phân bố theo nồng độ muối 44
3.4. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC–SINH THÁI CÁ CHỐT MUNTI– MYSTUS
MULTIRADIATUS ROBERTS, 1992 45
3.4.1. Tổng quan về giống Mystus 45
3.4.2. Đặc điểm chung về hình thái cá chốt mun ti 46
3.4.3. Đặc điểm sinh học-sinh thái cá chốt mun ti 47
3.4.3.1. Tương quan chiều dài–khối lượng cá khai thác 47
3.4.3.2. Các đặc điểm về sinh sản 49
3.4.3.3. Phân bố 52
3.4.3.4. Sự di cư 53
3.4.3.5. Dinh dưỡng 54
3.4.3.6. Tập tính sống 56
Chươnh 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
4.1. KẾT LUẬN 57
4.2. KIẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 62
DANH MỤC HÌNH CÁ THUỘC BỘ CÁ NHEO SILURIFORMES
Ở KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG ĐỒNG NAI
1. Cá Chốt bông Leiocassis siamensis Regan, 1913
2. Cá Lăng đỏ Hemibagrus microphthalmus (Day, 1877)
3. Cá Lăng nha Hemibagrus nemurus (Valenciennes, 1840)
4. Cá Lăng sợi Hemibagrrus filamentus (Fang & Chaux, 1949)
5. Cá Lăng vàng Mystus wolffii (Bleeker, 1851)
6. Cá Chốt át tri Mystus atrifasciatus Fowler, 1937
7. Cá Chốt trắng Mystus keletius (Valenciennes, 1840)
8. cá Chốt mun ti Mystus multiradiatus Roberts, 1992
9. Cá Chốt mít ti Mystus mysticetus Roberts, 1992
10. Cá Chốt giấy Mystus singaringan Bleeker, 1846
11. Cá Chốt giấy Mystus albolineatus Roberts, 1994
12. Cá Trèn răng Belodontichthys dinema ( Bleeker, 1851)
13. Cá Leo Wallago attu (Bloch &Schneider,1801)
14. Cá Sơn đài
Wallago micropogon (Vaillant, 1902)
15. Cá Trèn bầu Ompok bimaculatus (Bloch, 1797)
16. Cá Trèn mỡ Kryptopterus moorei Smith, 1945
17. Cá Trèn lá Kryptopterus cheveyi Durand, 1940
18. Cá Kết bạc Micronema bleekeri (Günther, 1864)
19. Cá Ba sa Pangasius bocourti Sauvage, 1880
20. Cá Sát sọc Pangasius macronema Bleeker, 1851
21. Cá Bông lau Pangasius krempfi Fang & Chaux, 1942
22. Cá Dứa Pangasius polyuranodon Bleeker, 1852
23. Cá Tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)
24. Cá Sát bay Pteropangasius pleurotaenia (Sauvage, 1878)
25. Cá Trê trắng Clarias batrachus (Linnaeus, 1758)
26. Cá Trê vàng Clarias macrocephalus Gunther,1864
27. Cá Úc thép Osteogeneiosus militaris (Linnaeus, 1758)
28. Cá Úc Arius arius (Hamilton, 1822)
29. Cá Úc dispa Arius dispar Herre, 1926
30. Cá úc trắng: Arius microcephalus Bleeker, 1931
31. Cá úc chấm: Arius maculatus (Thunberg, 1791)
32. Cá nghệ trun ca: Cryptarius truncatus Valenciennes, 1840
33. Cá úc xanh: Neoarius graeffei (Kner & Steindachner, 1867)
34. Cá úc nâu: Netuma bilineata (Valenciennes, 1840)
35. Cá vồ chó: Hexanematichthys sagor (Hamilton, 1822)
36. Cá úc quạt: Nemapteryx caelata (Valenciennes, 1840)
37. Cá ngát nam: Plotosus canius Hamilton, 1822
38. Cá ngát sọc: Plotosus lineatus (Thunberg, 1791)
DANH MỤC HÌNH CẢNG QUAN Ở KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG ĐỒNG NAI
1. Sông Sài Gòn ở đoạn TX Thủ Dầu Một
2. Sông Đồng Nai ở đoạn Tp. Biên Hòa
3. Sông Lòng tàu ở TamThôn Hiệp
4. Sông Soài Rạp đoạn An Thơí Đông
5. Kênh,rạch ở Phú Hòa Đông
6. Hồ Dầu Tiếng trong đầu tháng 8/2011
7. Dụng cụ khai thác cá của ngư dân ở vùng cửa sông huyện Cần Giờ
8. Phỏng vấn người bán cá ở Biên Hòa
9. Phỏng vấn người bán cá ở Bình Khánh
10. Phỏng vấn ngư dân ở bến đò Đồng Hòa
11. Dùng điện để bắt cá ở sông Sài Gòn
12. Dùng điện để bắt cá ở huyện Củ Chì
13. Xử lý mẫu cá mới thu được
14. Xử lý mẫu cá mới thu được
15. Hình cá Chót sọc mun ti còn tươi
16. Hình cá Chót sọc mun ti đã ngâm formol
17. Hình cá Úc còn tươi
18. Hình cá Úc đã ngâm formol
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu thực địa và thu mẫu cá
Bảng 3.1: Thành phần loài bộ cá Nheo ở hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai
Bảng 3.2: Số lượng loại cá thuộc bộ cá nheo theo các tác giả khác nhau
Bảng 3.3: Cấu trúc thành phần giống, loài cá thuộc bộ cá Nheo
Bảng 3.4: Danh lục các loài cá có giá trị kinh tế
Bảng 3.5: Danh lục các loài cá di cư
Bảng 3.6: Kích thước, khối lượng cá chốt mun ti khai thác
Bảng 3.7: Tỷ lệ ♂/♀ trong thành phần cá chốt mun ti khai thác
Bảng 3.8: Chiều dài, khối lượng, sức sinh sản tương đối, sức sinh sản tuyệt đối của cá
chốt mun ti khai thác
Bảng 3.9: Chiều dài cơ thể, chiều dài ống tiêu hoá và % giữa chiều dài ống tiêu hoá
và chiều dài cơ thể trung bình của cá chốt mun ti
Bảng 3.10: Thành phần thức ăn tự nhiên của cá chốt mun ti
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Biểu đồ 1.1 : Bản đồ khu vực nghiên cứu
Hình 2.1 : Sơ đồ chỉ dẫn các số đo ở cá chốt sọc (theo W. J. Rainboth, 1996)
Biểu đồ 3.1: Số lượng loại cá thuộc bộ cá nheo theo các tác giả khác nhau
Hình 3.1. Cá Chốt giấy Mystus keletius (Valenciennes, 1840)
Hình 3.2. Cá úc xanh Neoarius graeffei (Kner & Steindachner, 1867)
Hình 3.3. Cá úc nâu Netuma bilineata (Valenciennes, 1840)
Biểu đồ 3.2: Số lượng giống trong các họ cá thuộc bộ cá nheo
Biểu đồ 3.3: Số lượng loài trong các họ cá thuộc bộ cá nheo
Hình 3.4: Cá Chốt sọc mun ti Mystus multiradiatus Roberts, 1992
Hình 3.4: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá khai thác của cá chốt mun ti
Biểu đồ 4.1: Số lượng thành phần loài cá thuộc bộ cá nheo
MỞ ĐẦU
Hệ thống sông Đồng Nai là một trong ba hệ thống sông lớn của Việt Nam (sau hệ
thống sông Hồng và hệ thống sông Cửu Long) có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế
-xã hội của các tỉnh Đông Nam Bộ và các tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng, Bình Thuận, Long An
trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai. Hệ thống sông Đồng Nai gồm dòng chính sông
Đồng Nai và các phụ lưu: sông Đa Nhim, sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm
Cỏ, trong đó sông Sài Gòn là phụ lưu lớn nhất nên cũng có tên gọi hệ thống sông Sài Gòn -
Đồng Nai.
Tài nguyên nước của hệ thống sông này đã và đang được khai thác phục vụ cho phát
triển công nghiệp, nông nghiệp, dân sinh của các tỉnh trong lưu vực: hàng chục nhà máy
thủy điện, hệ thống các hồ chứa thủy lợi, đã và đang được xây dựng. Vùng hạ lưu có hệ
thống cảng sông là cảng biển, đường giao thông thủy quan trọng cho phát triển kinh tế của
khu vực.
Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học thủy sinh vật trong đó có đa dạng sinh học các
loài cá trong hệ thống sông Đồng Nai có giá trị rất lớn. Tuy vậy trong khoảng 20 năm qua
sự phát triển kinh tế–xã hội trong lưu vực hệ thống sông Đồng Nai với tốc độ cao và qui mô
lớn đã tác động mạnh đến môi trường của lưu vực: rừng che phủ đầu nguồn bị suy giảm, các
dòng sông bị chia cắt, chế độ thủy văn biến đổi, nguồn chất thải từ các khu công nghiệp,
khu chế xuất, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, khu dân cư, đô thị đổ vào dòng sông ngày
càng lớn, gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là vùng hạ lưu, nước sông bị ô nhiễm, đe dọa
thiếu hụt nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất của cả vùng Đông Nam bộ, nguồn
lợi thủy sản bị suy giảm. Vì vậy, ngày 03 tháng 12 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký
quyết định số 187/QĐ-TTg “ Đề án tổng thể về bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông
Đồng Nai đến năm 2020 ”.
Bảo vệ môi trường hệ thống sông Đồng Nai không chỉ bảo vệ nguồn nước mà phải
bảo vệ cả cảnh quan, đất, tài nguyên đa dạng sinh học và con người trong lưu vực. Ngày 13
tháng 08 năm 2010, Thủ Tướng Chính Phủ đã ra Quyết Định số 1479/ QĐ-TTg “Phê duyệt
Quy hoạch hê thống khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020”. Theo Quyết định này
sông Đồng Nai- hồ Trị An và cửa sông Đồng Nai là 2 trong số 25 khu bảo tồn vùng nước
nội địa được phê duyệt quy hoạch xây dựng giai đoạn 2011- 2015.
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ngư loại học trên hệ thống sông
Đồng Nai. Tuy nhiên, những nghiên cứu này phần lớn thuộc sông Sài Gòn, phần hạ lưu cửa
sông của toàn hệ thống sông Đồng Nai chưa có nhiều nghiên cứu, trong lúc đó khu vực này
chịu tác động rất lớn của các hoạt động kinh tế - xã hội của các tỉnh và thành phố vùng hạ
lưu- cửa sông. Vụ gây ô nhiễm môi trường ở lưu vực sông Thị Vải những năm qua của
Công ty Vedan gây thiệt hại nghiêm trọng nguồn lợi thủy sản đã phản ánh một phần tình
trạng ô nhiễm ở vùng hạ lưu, cửa sông hệ thống sông Đồng Nai. Vì vậy, trong phạm vi đề
tài luận văn cao học chúng tôi chọn thực hiện đề tài
: “Đa dạng sinh học các loài cá
thuộc bộ cá Nheo (Siluriformes) hạ lưu-cửa sông hệ thống sông Đồng Nai”
nhằm
cập nhật, đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học các loài cá thuộc bộ cá nheo, góp phần xây
dựng cơ sở dữ liệu cho hai khu bảo tồn vùng nước nội địa “sông Đồng Nai- hồ Trị An” và
“Cửa sông Đồng Nai”.
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ NƯỚC NGỌT Ở VIỆT NAM
Việt Nam có tài nguyên sinh học đa dạng và phong phú. Những nghiên cứu về cá nước
ngọt đầu tiên được tiến hành khi các nhà khoa học phương Tây đến Việt Nam vào những
năm 80 của thế kỷ XIX. Từ đó đến nay việc nghiên cứu trải qua nhiều thời kỳ, gắn liền với
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
1.1.1. Thời kỳ trước năm 1945
Các nghiên cứu ngư loại học thời kỳ này phần lớn do các nhà nghiên cứu nước ngoài
thực hiện. Công trình nghiên cứu đầu tiên là của Sauvage H.E (1881), nghiên cứu về khu hệ
cá Á Châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương, thống kê 139 loài cá chung cho toàn
Đông Dương, và mô tả 02 loài mới ở miền Bắc Việt Nam; Tirant G. (1883) đã mô tả 70 loài
cá nước ngọt sông Hương (Huế) trong đó có 05 loài mới được mô tả. Những năm tiếp theo
có nhiều công trình công bố về thành phần loài cá ở các khu vực khác nhau như: Sauvage
H.E (1881), thu thập 10 loài cá ở sông Hồng vùng Hà Nội trong đó có 07 loài mới được mô
tả; Vaillant L (1891) đã thu thập và mô tả 06 loài , có 04 loài mới ở Lai Châu, 05 loài ở sông
Kỳ Cùng có 01 loài mới; Pellegrin J(1905, 1906): Cá Vịnh Hạ Long; Chabanaud P (1924);
Gruvel A (1925): Đông Dương, nguồn lợi cá biển và cá nước ngọt; Fowler H.W (1939):
Sưu tập cá nước ngọt Sài Gòn; Chevey P. & Lemasson J. (1937) đã công bố các loài cá
nước ngọt ở Bắc Bộ Việt Nam gồm 98 loài với 17 họ. Đây là công trình nghiên cứu lớn nhất
thời kỳ này [16,17]
1.1.2. Thời kỳ trước từ năm 1945 đến 1975
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp ( 1945-1954) việc nghiên cứu cá bị
gián đoạn. Từ khi hòa bình lập lại (1954) miền Bắc hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên
cứu cá được tiếp tục, chủ yếu do các nhà khoa học trong nước tiến hành.
Ở miền Bắc Việt Nam các công trình nghiên cứu chủ yếu do người Việt Nam công tác
ở các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu thực hiện: Khoa Sinh học trường Đại học tổng
hợp Hà Nội, trạm Nghiên cứu thủy sản Đình Bảng thuộc Tổng cục Thủy sản (nay là Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I) và trường Đại học Thủy sản nay là trường Đại học Nha
Trang. Các cơ quan nghiên cứu này đã tiến hành điều tra ở hầu hết các vùng sinh thái Đông
Bắc, Tây Bắc, Đồng Bằng Bắc Bộ và khu Bốn cũ đến vĩ tuyết 17, ở các loại hình thủy vực
khác nhau như sông, suối, hồ chứa, hồ tự nhiên, đầm, ao, ruộng… Đối với mỗi loại hình
thủy vực riêng biệt công tác điều tra được tiến hành ở nhiều mức độ khác nhau. Các công
trình nghiên cứu tiêu biểu ở thời kỳ này như: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1959):
Thành phần các loài cá ở ngòi Thia (nhánh sông Hồng ) thuộc tỉnh Yên Bái; Mai Đình Yên
(1961): Điều tra và nghiên cứu nguồn lợi và sinh vật ở Hồ Tây; Mai Đình Yên (1962):Sơ bộ
điều tra thành phần loài, nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng; Nguyễn Văn
Hảo (1976) : Kết quả điều tra cá nguồn lợi cá hồ Ba Bể; Đoàn Lệ Hoa, Phạm Văn Doãn
(1971): Nghiên cứu phân họ cá Mương. Cùng với những nghiên cứu về khu hệ, các công
trình nghiên cứu về sinh học , sinh thái học cũng được chú ý hơn bởi các tác giả: Đào Văn
Tiến, Mai Đình Yên (1964): Sinh học và giá trị kinh tế cá Mòi sông Hồng; Hoàng Đức Đạt
(1964): Nghiên cứu về hình thái, sinh thái của một số loài cá sông Lô - Gâm. Vũ Trung
Tạng (1971): Nghiên cứu đặc điểm sinh học cá Mòi (Clupanodon thrissa) di cư vào cửa
sông Hồng.
Ở miền Nam có một số công trình do người Việt Nam hoặc cộng tác với người nước
ngoài thực hiện như: Trần Ngọc Lợi, Nguyễn Cháu (1964): Lé Poison D’Importance
Commerciale au Vietnam, Extrait du Bulletin de la Société dé Etudes Indochinoises,
Nouvelle Serie, Tome XXIX; Noboyki Kawamoto, Nguyễn Viết Trương and Trần Thị Túy
Hoa (1972) : Illustrations of some freshwater fishes of the Mekong Delta, Vietnam…[30]
1.1.3. Thời kỳ từ 1975 đến nay
Trong thời kỳ này các công trình nghiên cứu không những thực hiện ở các thủy vực đã
điều tra mà còn tiến hành rộng rãi ở nhiều thủy vực với quy mô lớn trên phạm vi cả nước.
Các kết quả điều tra về khu hệ cá ngày càng đầy đủ hơn, những công trình nghiên cứu tiêu
biểu như: Mai Đình Yên và nnk (1978, 1992); Nguyễn Thái Tự (1983); Mai Đình Yên và
Nguyễn Hữu Đực (1991); Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Đực (1994); Nguyễn Văn Hảo
(1998, 2001, 2005); Võ Văn Phú (1993, 1994, 1995, 1996, 1997, 1998, 2000, 2004, …);
Nguyễn Thị Thu Hè (1999, 2003); Nguyễn Thái Tự và Nguyên Xuân Khoa (1998); Võ Văn
Phú, Vũ Thị Phương Anh (2003); Võ Văn Phú và Phan Đỗ Quộc Hùng (2004); Hoàng Đức
Đạt (1993, 1994, 1997, 1998, 1999, 2001, 2003, 2005, 2007, 2008, 2009, 2010); Thái Ngọc
Trí (1998, 1999, 2001, 2003, 2005, 2007, 2008, 2009, 2010); Nguyễn Xuân Đồng (2005,
2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011); Tống Xuân Tám (2004, 2005, 2008); …
[3,4,5,6,7,8,9,10].
Đặc biệt công trình của Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sĩ Vân (2001): Cá nước ngọt Việt Nam
tập I, và Nguyễn Văn Hảo (2005): Cá nước ngọt Việt Nam tập II và III, là công trình được
xem là đầy đủ nhất về cá nước ngọt Việt Nam được công bố. Công trình này đã lập danh lục
thành phần loài, khóa định loại, mô tả hình thái, phân bố của hơn 1047 loài cá ở các thủy
vực nội địa của đất nước Việt Nam [11,12,13].
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Tính đến nay các nghiên cứu liên quan đến hệ thống sông Đồng Nai cũng khá nhiều,
trong đó đáng chú ý nhất là các nghiên cứu về môi trường và chất lượng nước hệ thống sông
này. Các nghiên cứu về thuỷ sản còn bị hạn chế. Một vài kết quả nghiên cứu liên quan như:
“Bộ sưu tập cá nước ngọt sông Sài Gòn” của Fowler (1939); “Ngư loại học sông Sài Gòn”
của Lê Hoàng Yến (1985); “Thành phần loài cá khu vực Tp. Hồ Chí Minh” của Hoàng Đức
Đạt (1991); “Định loại cá nước ngọt Nam Bộ” của Mai Đình Yên và nnk (1992); “Thành
phần loài cá hồ Trị An, tỉnh Đồng Nai” của Hoàng Đức Đạt (1993), “Khảo sát sơ bộ tình
hình khai thác và hiện trạng nguồn lợi thủy sản trên sông Thị Vải ( thuộc Đồng Nai, Bà Rịa-
Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh” của Hoàng Đức Đạt (1997); “Thành phần loài cá sông
Sài Gòn và các phụ lưu của nó” của Tống Xuân Tám (2005); “Thành phần loài và quy
hoạch kinh tế thuỷ sản hồ Dầu Tiếng” của Nguyễn Thanh Tùng (2005); “Dẫn liệu về thành
phần loài cá và hiện trạng nghề cá ở vùng hạ lưu cửa sông ven biển thuộc huyện Cần giờ,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét