LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Đề cương ôn tập môn ngân hàng phát triển pdf": http://123doc.vn/document/1053086-tai-lieu-de-cuong-on-ta-p-mon-ngan-ha-ng-pha-t-trie-n-pdf.htm
cuộc kiểm tra tín nhiệm để biết được liệu người vay có thể hoàn trả vốn của ông ta không. Ngoài các chi
phí thông tin này, quá trình thực tế cho vay hoặc mua một chứng khoán cần đến các chi phí giao dịch ;
trong trường hợp cho vay vốn, phải viết ra một hợp đồng vay thích hợp, còn trong trường hợp mua một
chứng khoán, phải thanh toán cho người môi giới.
Trung gian tài chính và ngân hàng thương mại có thể giúp giảm chi phí giao dịch trên cơ sở: tiết
kiệm do quy mô( góp những vốn muốn cho vay của nhiều nhà đầu tư với nhau cho vậy họ có thể thu được
lợi ích nhờ phương pháp tiết kiệm do quy mô, tức là, sự giảm chi phí giao dịch cho mỗi đô la đầu tư khi
quy mô giao dịch tăng lên) và mở rộng hiểu biết để giảm chi phí ( chẳng hạn, một ngân hàng có thể chi
nhiều tiền trong việc thuê một luật sư để soạn một hợp đồng pháp lý vay tiền hoàn hảo thì họ có thể sử
dụng hợp đồng này nhiều lần trong những giao dịch cho vay của họ, như thế hạ thấp chi phí về luật pháp
cho mỗi giao dịch). Như vậy, trung gian tài chính có thể cung cấp cho các khách hàng của mình những
dịch vụ linh hoạt, tức là những dịch vụ làm dễ dàng cho các khách hàng thực hiện giao dịch.
Hơn nữa, trong nền kinh tế luôn tồn tại tình trạng thông tin không cân xứng nên xuất hiện rủi ro
đạo đức và lựa chọn đối nghịch trong hoạt động luân chuyển vốn. Là nơi nắm bắt nhiều thông tin của
khách hàng cũng như các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các trung gian tài chính sẽ giúp làm giảm những
loại rủi ro này và khiến cho các đồng vốn được đảm bảo an toàn hơn. Người cho vay sẽ an tâm hơn về
khoản tiền của mình.
Một đặc điểm nữa khiến các trung gian tài chính và ngân hàng thương mại được ưa chuộng hơn
thị trường tài chính, đó là: đối với những người có quy mô vốn nhỏ thì khả năng họ có thể tham gia thị
trường tài chính là rất thấp bởi những rào cản về chi phí hay điều kiện để tham gia. Còn đối với những
người có nhu cầu sử dụng vốn không quá lớn nhưng vẫn muốn có nhu cầu sử dụng vốn cho công việc của
mình thì việc tham gia trên thị trường tài chính là điều không thể. Trong những trường hợp trên, phương
án khôn ngoan nhất chính là thông qua tổ chức tài chính trung gian để đáp ứng nhu cầu về vốn của mình.
2. Tại sao vốn luân chuyển trong nền kinh tế lại chủ yếu thông qua các tổ chức tài chính, các
NHTM mà không phải qua thị trường tài chính?
Các tổ chức tài chính trung gian là các tổ chức tài chính thự chiện chức năng dẫn vốn từng
ườicóvốntớingườicầnvốn.Tuynhiênkhôngnhưdạngtàichínhtrựctiếp,ngườicầnvốnvàngườicóvốntraođổitrựct
iếpvớinhauởthịtrườngtàichính,cáctrunggiantàichínhthựchiệnsựdẫnvốnthôngquamộtcầunối.Nghĩalàngườicầ
nvốnmuốncóđượcvốnphảithông qua ngườithứba, đóchínhlàcáctổchứctàichínhgiántiếp hay
cáctổchứctàichínhtrunggian.
5
Vốnluânchuyểntrongnềnkinhtếchủyếuthông qua cáctổchứctàichính,
cácngânhàngthươngmạimàkhôngphải qua thịtrườngtàichínhbởicónhững chi phíthông tin và chi
phígiaodịchlớntrongnềnkinhtế.
Đểnhữngngườichovaynhânrađượcnhữngngườimuốnvayvàđểnhữngngườiđivaynhậnrađượcnhữngn
gườimuốnchvaylàmộtvấnđềđòihỏi chi phíđắttiền.Khimộtngườichovaytìmrađượcmộtngườimuốnchovay,
ngườinàycòncóthêmmộtkhókhănlàphảichiphíthìgiờvàtiềnchomộtcuộckiểmtratínnhiệmđểbiếtđượcliệungườ
ivaycóthểhoàntrảvốncủaông ta không.Ngoàicác chi phíthông tin này,
quátrìnhthựctếchovayhoặcmuamộtchứngkhoáncầnđếncác chi phígiaodịch ; trongtrườnghợpchovayvốn,
phảiviếtramộthợpđồngvaythíchhợp,còntrongtrườnghợpmuamộtchứngkhoán,phảithanhtoánchongườimôigi
ới.
Trunggiantàichínhvàngânhàngthươngmạicóthểgiúpgiảm chi phígiaodịchtrêncơsở: tiếtkiệm do
quymô(gópnhữngvốnmuốnchovaycủanhiềunhàđầutưvớinhauchovậyhọcóthểthuđượclợiíchnhờphươngphá
ptiếtkiệm do quymô, tứclà, sựgiảm chi phígiaodịchchomỗiđô la
đầutưkhiquymôgiaodịchtănglên)vàmởrộnghiểubiếtđểgiảm chi phí( chẳnghạn, mộtngânhàngcóthể chi
nhiềutiềntrongviệcthuêmộtluậtsưđểsoạnmộthợpđồngpháplývaytiềnhoànhảothìhọcóthểsửdụnghợpđồngnày
nhiềulầntrongnhữnggiaodịchchovaycủahọ, nhưthếhạthấp chi phívềluậtphápchomỗigiaodịch). Nhưvậy,
trunggiantàichínhcóthểcungcấpchocáckháchhàngcủamìnhnhữngdịchvụlinhhoạt,
tứclànhữngdịchvụlàmdễdàngchocáckháchhàngthựchiệngiaodịch.
Hơnnữa,trongnềnkinhtếluôntồntạitìnhtrạngthôngtin
khôngcânxứngnênxuấthiệnrủirođạođứcvàlựachọnđốinghịchtronghoạtđộngluânchuyểnvốn.
Lànơinắmbắtnhiềuthông tin củakháchhàngcũngnhưcácdoanhnghiệp, tổchứckinhtế,
cáctrunggiantàichínhsẽgiúplàmgiảmnhữngloạirủironàyvàkhiếnchocácđồngvốnđượcđảmbảo an toànhơn.
Ngườichovaysẽantâmhơnvềkhoảntiềncủamình.
Mộtđặcđiểmnữakhiếncáctrunggiantàichínhvàngânhàngthươngmạiđượcưachuộnghơnthịtrườngtàic
hính,đólà:
đốivớinhữngngườicóquymôvốnnhỏthìkhảnănghọcóthểthamgiathịtrườngtàichínhlàrấtthấpbởinhữngràocảnv
ềchiphíhayđiềukiệnđểthamgia.Cònđốivớinhữngngườicónhucầusửdụngvốnkhôngquálớnnhưngvẫnmuốncó
nhucầusửdụngvốnchocôngviệccủamìnhthìviệcthamgiatrênthịtrườngtàichínhlàđiềukhôngthể.Trongnhữngtr
ườnghợptrên,phươngánkhônngoannhấtchínhlàthôngquatổchứctàichínhtrunggianđểđápứngnhucầuvềvốncủ
a mình.
Câu 3: Vai trò của tổ chức chuyên biệt với nền kinh tế
6
d) Các công ty Tài chính Phát triển (Development Finance Companies DFC.s)
Thuộc loại này có thể bao gồm nhiều loại thể chế tài chính khác nhau. Tuy nhiên, đặc tính chung
của thể loại này là cung cấp tài chính dài hạn cho các dự án phát triển. Loại hình DFC thường hay gặp
nhất là ngân hàng phát triển, trong đó có một số chuyên doanh theo loại hình cho vay vốn, chủ yếu là cho
vay nông nghiệp hoặc công nghiệp.
Mặc dầu hiện nay các DFC thường hay chỉ có tại các quốc gia đang phát triển, thực tế không phải
lúc nào cũng đúng như vậy. Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao các nước đang phát triển lại áp dụng hình thức
Tổ chức Tài chính Phát triển với một sự say mê rõ rệt tới như vậy, và liệu làm như vậy là có đúng không?
Câu hỏi thức nhất có thể được trả lời theo hai cách khác nhau. Thứ nhất, khu vực tư nhân không
cung cấp đủ các loại hình thể chế cũng như vốn để có thể cho vay dài hạn nhằm mục đích đầu tư. Hậu quả
của việc không tồn tại các thể chế tài chính tại nhiều nước lại bị làm trầm trọng thêm bởi việc không có
thị trường chứng khoán (bất kể là có tổ chức hay không có tổ chức) cũng như bởi sự khan hiếm của nguồn
vốn tự có (retalned earings) là loại vốn đáp ứng phần lớn nhu cầu về vốn cho khu vực công nghiệp và
dịch vụ tại Anh và Mỹ trong thể kỷ 19. Thứ hai, vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế của chính phủ
đã buộc họ phải thành lập nên các thể chế để có thể xác định, đánh giá, khuyến khích, cấp tài chính và
thực hiện các dự án phát triển. Loại thể chế như vậy chính là ngân hàng phát triển. Tại nhiều nước vai trò
chủ đạo của chính phủ trong việc thúc đẩy phát triển không phải là xuất phát từ ý muốn “xã hội hóa” hoặc
“tập trung hóa” nền kinh tế, mà chính là từ việc nhận thức được sự thiếu hụt của khu vực tư nhân trong
việc đáp ứng nhu cầu đầu tư của quốc gia. Do vậy, ngân hàng phát triển đảm nhiệm một vai trò lớn hơn so
với trường hợp chúng chỉ đơn thuần là một thể chế tài chính của khu vực tư nhân. Loại hình ngân hàng
phát triển đã trở thành một công cụ chính sách của chính phủ, và thường được mong đợi là sẽ hoạt động
phù hợp với lợi ích phát triển kinh tế lâu dài của quốc gia. Đây là một chức năng thường mâu thuẫn với
tiêu chí hoạt động có lợi nhuận của những ngân hàng này.
Những mục đích rộng lớn hơn mà chính phủ mong đợi các ngân hàng phát triển thường có:
+ Tạo công ăn việc làm
+ Tiết kiệm hoặc tạo ngoại lệ
+ Phân phối thu nhập (giữa các giai cấp xã hội, các khu vực, các nhóm chủng tộc và thậm chí
giữa nam và nữ)
+ Đa dạng hóa công nghiệp
7
+ Hiện đại hóa nông nghiệp
+ Phát triển doanh nghiệp nhỏ
+ Khuyến khích hoạt động kinh doanh sáng tạo
+ Phát triển thị trường vốn
Do vậy, các Tổ chức tài chính Phát triển (DFC) có thể sẽ buộc phải cho vay vốn cho các dự án
theo đó:
+ Cơ cấu tài chính không đáp ứng được các tiêu chuẩn thương mại thông thường. Nhìn chung,
điều này có nghĩa là hệ số giữa vốn vay và vốn cổ phần thường quá cao do việc các cơ quan chủ quan dự
án không có khả năng huy động đủ vốn cổ phần. Các DFC có thể bổ xung cho nguồn vốn cổ phần còn
thiếu đó bằng cách đầu tư cổ phần vào một phần của dự án, mặc dầu làm như vậy có nghĩa là làm tăng rủi
ro của tổ chức đó tới một mức độ không còn được coi là hợp lý.
+ Ngân lưu của dự án không đáp ứng được các điều kiện thanh toán nợ thông thường. Khi đó, các
DFC buộc phải gia hạn thời gian ấn hạn, hoặc các thời hạn cho vay thông thường. Có thể các DFC sẽ làm
được như vậy nhưng đối với một DFC hoạt động trên cơ sở vốn lưu chuyển tuần hoàn, việc dự án chậm
thanh toán sẽ làm hại tới khả năng cấp vốn vay cho các dự án khác trong tương lai (và có thể là những dự
án đáng được cấp vốn vay hơn).
+ Ít hoặc không có hình thức bảo lãnh thế chấp phù hợp. Điều này thường đúng đối với trường
hợp các doanh nghiệp nhỏ (theo Kitchen, 1978) hoặc các doanh nghiệp đã mang thế chấp các tài sản hiện
có. Trong trường hợp các doanh nghiệp bị thất bại, thị trường mua bán các loại tài sản này lại rất có thể
chỉ mang tính chất hạn hẹp, do vậy khi đem bán chẳng thu được là bao. Tại các quốc gia càng nhỏ và
càng nghèo thì điều này càng đúng.
+ Các doanh nghiệp chủ đầu tư có ít kinh nghiệm trong lĩnh vực đang xin đầu tư hoặc trong các
lĩnh vực khác. Những rủi ro này rất có thực nếu như ngành công nghiệp hoặc loại hình công nghệ liên
quan là mới đối với quốc gia đó.
Như vậy, một điều rõ ràng là DFC phải chịu những rủi ro thương mại và tài chính rất lớn, và căn
cứ theo lý thuyết thị trường vốn, điều này sẽ đòi hỏi phải có một tỷ lệ sinh lợi. Tuy nhiên, việc phải đáp
ứng được các mục tiêu quốc gia của chính phủ lại thường có nghĩa là các tổ chức ngày thường buộc phải
cấp vốn cho các dự án có mức sinh lời dự kiến tương đối thấp, thấp hơn mức sinh lợi có thể chấp nhận
được theo tiêu chuẩn thương mại thông thường. Hơn nữa, các mục tiêu của chính phủ có thể sẽ làm cho
8
các DFC chỉ tập trung vốn cho vay và đầu tư cho một số ngành hoặc lĩnh vực nhất định (ví dụ: nông
nghiệp), do vậy làm các tổ chức này mất đi khả năng đa dạng hóa hình thức đầu tư của mình. Dường như
là các mục tiêu tài chính và quốc gia mà các DFC phải đáp ứng thường khó hòa hợp với nhau. Chỉ riêng
đáp ứng các yêu cầu tài chính của các tổ chức này cũng đã là một kế hoạch đầy tham vọng, nên việc đòi
hỏi chúng phải hoạt động như một tổ chức “xã hội” có thể là quá mức. Việc tồn tại nhiều dự án vừa khả
thi về tài chính lại vừa đáng mong ước về mặt xã hội sẽ loại bỏ được sự phân lập này. Tuy nhiên, những
biến dạng trong nền kinh tế nhiều nước đang phát triển lại có nghĩa rằng các tổ chức DFC chưa sẵn sàng
thỏa mãn được những mục tiêu mâu thuẫn này. Đồng thời, còn có mối nguy hiểm khác nữa là các tổ chức
DFC này sẽ trở thành “người cho vay cuối cùng” (lender of last resort) chuyên cấp vốn cho các dự án mà
các tổ chức tài chính tư nhân không chấp nhận cho vay.
Lý thuyết thị trường vốn có liên quan nhiều tới các ngân hàng phát triển. Trong lĩnh vực nhiều rủi
ro, việc theo đuổi mức sinh lợi cao là một việc quan trọng. Việc nhận thức được rằng một số lĩnh vực đầu
tư mang tính rủi ro cao hơn so với các lĩnh vực khác sẽ giúp các ngân hàng thấy phải sử dụng mức chiết
khấu cao hơn đối với các dự án nhiều rủi ro. Đồng thời, các tổ chức DFC cần phải đầu tư vào nhiều hình
thức vốn nợ và vốn cổ phần khác nhau để có thể đa dạng hóa các rủi ro riêng có. Nguyên tắc đa dạng hóa
lập luận rằng không nên thành lập các tổ chức tài chính mang tính chuyên doanh cao do các tổ chức đó sẽ
bị hạn chế trong việc đa dạng hóa rủi ro. Nếu các tổ chức DFC được vận hành theo đúng những nguyên
tắc nêu trên thì kết quả hoạt động của chúng sẽ ngày càng được cải thiện, giúp chúng thu hút được thêm
nguồn vốn mới (ví dụ thông qua phát hành trái phiếu), tạo điều kiện cho việc vay và đầu tư tăng thêm, và
nêu một tấm gương sáng cho khu vực tư nhân thấy là doanh nghiệp có thể hoạt động có lãi. Một tổ chức
DFC yếu kém vè mặt tài chính thường khó có thể tư vấn cho khách hàng cách thức vận hành doanh
nghiệp hoặc cách thức huy động thêm vốn cho mình trên thị trường. Tuy vậy, chúng ta cũng nêu nêu lên
rằng huy động vốn là vai trò thứ yếu của các DFC. Dĩ nhiên, các tổ chức này có thể tham gia vào thị
trường vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu và cổ phiếu (cho mình và cho khách hàng) nhưng các
tổ chức đó không được trang bị để huy động những khoản tích lũy nhỏ trên qui mô toàn quốc. Sẽ có hiệu
quả hơn nếu để cho các ngân hàng tiết kiệm và cho vay chuyên doanh hoặc các bưu điện thực hiện những
chức năng đó,
Đây có thể là một quan điểm gây nhiều tranh cãi, nhưng xem ra chúng ta nên tạo điều kiện cho
DFC hoạt động như là những thể chế tài chính tốt hơn là như những tổ chức xã hội và nên để cho chính
phủ tập trung giải quyết hoặc giảm bớt các biến dạng kinh tế thường buộc các tổ chức DFC phải giải
quyết những mục tiêu kinh tế và xã hội có thể mâu thuẫn nhau. Mối nguy hiểm của csc dự án yếu kém về
tài chính là ở chỗ mức sinh lợi của các dự án này thấp hoặc lâu sinh lợi (hoặc cả hai). Nếu phải cấp tài
chính cho những dự án như vậy, thì khả năng cấp vốn tài chính cho các dự án tương lai của các DFC sẽ bị
9
hạn chế, gây hại cho tăng trưởng kinh tế và tài chính quốc gia. Kinh nghiệm của DFC (Công ty Tài chính
Quốc Tế) là một ví dụ minh họa cho sự hoạt động kém hiệu quả của các DFC, IFC thu được mức sinh lợi
trung bình là 15% cho toàn bộ hoạt động đầu tư của mình, nhưng phần đầu tư của IFC vào các tổ chức
DFC chỉ mang lại được mức sinh lợi 10%.
Lý do tồn tại của một tổ chức DFC trong một nền kinh tế thị trường (hoặc hỗn hợp) là để nhằm
cung cấp vốn dài hạn (vốn vay hoặc vốn cổ phần) mà thị trường tài chính không có khả năng cung cấp.
Chúng ta không thể phủ nhận được rằng những khoản vốn đó là cần thiết cho công nghiệp, nông nghiệp,
một số ngành dịch vụ nhất định và các dự án cơ sở hạ tầng trong những trường hợp chính phủ không trực
tiếp cấp tài chính hoặc không dùng được vốn ngắn hạn để cấp vốn do không có khả năng có vốn liên tục
để cấp. Các tổ chức DFC đã cung cấp được nguồn vốn dài hạn tới mức độ mà các tổ chức đó có thể làm
được. Câu hỏi lúc này đặt ra là liệu các tổ chức DFC lẽ ra đã có thể làm việc đó một cách hiệu quả hơn
theo một phương thức khác tốt hơn hay không? Đồng thời, chúng ta cũng có thể thấy một điều rằng các tổ
chức DFC thường hay cấp vốn tài chính với mức lãi suất thấp hơn mức thị trường, mọt phần là do các tổ
chức này được nhận vốn ưu đãi từ chính phủ và đợc hưởng lợi bởi chính sách kiềm dchees lãi suất. Các tổ
chức này còn đóng vai trò là cơ quan cho vay lại (on-lending) các khoản vốn của các cơ qan cho vay nước
ngoài, chủ yếu cấp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp cũng thường được nhận mức
lãi suất ưu đãi. Trong hầu hết mọi trường hợp, các tổ chức này có một vị trí được ưu ái và bảo hộ trong
khu vực tài chính, là nơi cũng ít diễn ra sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính.
Ở những nước chỉ có một số ít các tổ chức tài chính (và các tổ chức này lại hạn hẹp trong chiến
lược cho vay) và các hoạt động kinh doanh chỉ tập trung vào mục đích chộp giật cũng như khả năng bảo
lãnh vay nợ còn bị hạn chế, thì sự tồn tại của các tổ chức DFC là một sự cần thiết. Phần lớn các nước kém
phát triển đều ở trong tình trạng như miêu tả trên đây, nhưng các chính phủ theo đuổi mục đích phát triển
một khu vực tài chính cạnh tranh và ngày càng lớn cũng cần phải thấy rằng về lâ dài, vị trí được ưu ái của
DFC là không phù hợp với mục tiêu mà chính phủ đó đang theo đuổi. Hơn nữa, một tổ chức DFC được
bảo hộ thậm chí còn đưa tới tình trạng không khuyến khích được sự phát triển của các thể chế tài chính
thuộc khu vực tư nhân do khu vực tư nhân sẽ không thể cạnh tranh và hậu quả là việc phát triển khả năng
cung cấp tài chính dài hạn của khu vực tư nhân sẽ bị hạn chế. Tại một số nước, trong đó có cả Indonesia
và Philippine, các ngân hàng phát triển tư nhân cùng tồn tại với các ngân hàng phát triển của chính phủ và
điều đó cho thấy các ngân hàng tư nhân hoàn toàn có thể hoạt động được trong điều kiện hạn chế về
thương mại. Ngân hàng phát triển của Singapore là một công ty công cộng, có cổ phiếu niên giá trên thị
trường chứng khoán. Do đó, xét về mục đích lâu dài xem ra các chính phủ nên cho tư nhân hóa các ngân
hàng phát triển của mình và khuyến khích các tổ chức này phát triển và đa dạng hóa sang các loại hình
hoạt động khác như: cho thuê tài chính, quĩ vốn rủi ro như các loại hình dịch vụ tài chính khác.
10
Nếu trong trường hợp không phát triển hình thức các tổ chức DFC thì liệu có phương thức cung
cấp vốn dài hạn nào khác được phát triển thay thế hay không? Giải pháp thay thế có khả năng xảy ra
nhiều nhất là các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng cấp vốn tài chính dài hơi hơn, và trên thực tế
sẽ trở thành các ngân hàng tổng hợp, hoặc nếu không thì theo một giải pháp khác thị trường vốn sẽ phải
phát triển mạnh hơn, trong đó có sư tham gia tích cực của các ngân hàng đầu tư, các tổ chức tài chính
(như công ty bảo hiểm, quĩ hưu trí) cho vay dài hạn và tham gia đầu tư cổ phần, đồng thời thị trường
chứng khoán sẽ phải phát triển mạnh hơn. Tại nhiều nước, giải pháp huy động vốn dài hạn thông qua thị
trường chứng khoán là không thể nghĩ tới trong những năm 50, 60 và thậm chí hiện nay vẫn còn đúng đối
với nhiều nước do ở đó có các tổ chức tài chính và thị trường chứng khoán bị hạn chế rất nhiều do không
có nhu cầu, thu nhập thấp, hoặc do chính sách kiềm chế tài chính. Trong hoàn cảnh đó, giải pháp thay thế
đối với nhiều nước cho mô hình các tổ chức DFC chuyên doanh sẽ là các ngân hàng thương mại sẽ
chuyển thành các ngân hàng tổng hợp. Điều này sẽ đòi hỏi phải có sự thay đổi lớn trong hoạt động của
ngân hàng, đi ngược lại với triết lý kinh doanh của ngân hàng cao tuổi. Đơn giản hơn, các ngân hàng
nước ngoài tại nhiều nước đang phát triển sẽ ngần ngại tham gia vào các cuộc chơi dài hạn khi tương lai
của các cuộc chơi này là không chắc chắn. Việc một số quốc gia ngần ngại trong việc cho phép các ngân
hàng nước ngoài gắn bó lâu dài với quốc gia mình cũng đã làm cho các ngân hàng nước ngoài càng thêm
gắn với quan điểm nêu trên. Mặc dù ngày nay các ngân hàng thương mại có xu hướng tham gia nhiều hơn
vào hoạt động cho vay dài hạn, xem ra ít có ngân hàng nào lúc trước đây lại sẵn lòng trở thành ngân hàng
tổng hợp. Do vậy, chúng ta hoàn toàn có thể kết luận được rằng trong những năm 1950 và 1960, không có
giải pháp thực tiễn nào thay thế cho hình thức DFC. Tuy nhiên rất nhiều quốc gia và nhiều tổ chức DFC
tại các nước đó hiện đã đạt tới mức độ chín muồi nhất định để có thể xem xét kỹ tới vai trò tương lai của
các tổ chức DFC đó.
(e) Các ngân hàng đầu tư theo kiểu Anh (merchant bank)
Các ngân hàng đầu tư là hình thức bổ trợ cho các ngân hàng thương mại theo kiểu Anh. Ở Mỹ,
chúng mang tên gọi là Investment Bank. Với việc loại bỏ các ủy ban chứng khoán nhỏ tại Mỹ vào năm
1975, các ngân hàng đầu tư đã chuyển hóa thành các tập đoàn tài chính lớn và tình hình hiện nay cho thấy
là các ngân hàng đầu tư của Anh cũng sẽ phát triển theo hướng tương tự khi chúng ta xét tới thỏa thuận về
việc xóa bỏ các ủy ban chứng khoán nhỏ tại đây. Nhìn chung, các ngân hàng tổng hợp thực hiện chức
năng của cả ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. Do vậy, chúng ta sẽ thường chỉ thấy hình thức
đầu tư này (merchant bank) tại những nước có ngân hàng thương mại theo kiểu Anh hoặc Mỹ.
Trước đây, các ngân hàng đầu tư này chủ yếu chuyên doanh cung cấp tài chính thương mại, đặc
biệt là chuyên chấp nhận hối phiếu. Trong thế kỷ vừa qua, các ngân hàng này chuyển dần thành các ngân
11
hàng phát hành và kinh doanh chứng khoán, lúc đầu chủ yếu là các loại cổ phiếu của Chính phủ nước
ngoài và sau đó là cổ phiếu công ty. Các ngân hàng này cũng cung cấp nhiều loại dịch vụ công ty khác
nhau và thực hiện cả dịch vụ quản lý đầu tư (porttolio manager) cho các công ty và cá nhân. Khác với các
ngân hàng đầu tư kiểu Mỹ và các ngân hàng tổng hợp, các ngân hàng này không trực tiếp kinh doanh
chứng khoán. Trong cơ cấu tài chính kiểu Anh hiện nay, chức năng kinh doanh chứng khoán được dành
cho các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán. Mặc dù các ngân hàng đầu tư kiểu Anh có cung
cấp tài chính công ty (corporalefinace) và nhận tiền gửi, tổng lượng huy động trực tiếp của các ngân hàng
này thường là rất nhỏ. Các sản phẩm tài chính trọn gói chủ yếu bao gồm vốn của các tổ chức khác, phần
lớn là của các ngân hàng và các thể chế thương mại. Theo quan điểm của chúng tôi, tầm quan trọng chính
của các ngân hàng này chính là ở vai trò của chúng trên thị trường chứng khoán, và do vậy tôi sẽ để dành
mục này cho chương 6.
(g) Các quỹ tiết kiệm tại bưu điện (Posst Olllce SavingsBunks – FOSB).
Tại rất nhiều nước đang phát triển, bưu điện chính là thể chế nhận tiền gửi tiết kiệm dễ tiếp cận
nhất đối với đại bộ phận dân chúng, do bưu điện có chi nhánh ở khắp nơi, đặc biệt là các vùng nông thôn,
đồng thời lại không quá uỷ quyền trong con mắt của các tầng lớp thấp. Do đó, loại thể chế này huy động
được những khoản tích luỹ mà lẽ ra đã được cất kỹ trong gương hoặc đem ra chi dùng. Đồng thời, phương
thức này cũng không đòi hỏi chi phí tốn kém trong khâu điều hành do việc nhận gửi tiết kiệm chỉ là một
trong nhiều chức năng của bưu điện. Tuy nhiên, bưu điện không cung cấp tín dụng, do đó không thể được
coi là các tổ chức tài chính trung gian. Nguồn vốn huy động được của bưu điện thường được dùng để đầu
tư vào tín phiếu và trái phiếu chính phủ, do vậy góp phần vào tài chính Chính phủ. Trong chừng mực mức
lãi suất bị kiềm chế, chính phủ sẽ nhận được một nguồn vốn tài chính với giá rẻ từ các cơ quan bưu điện,
với phần thiệt thuộc về những người gửi phải chịu mức lãi suất bị kiềm chế. Hơn nữa, quy trình này
thường có xu hướng hút vốn ra khỏi các vùng nông thôn nghèo khó để đưa tới các vùng trung tâm.
UNESCO (1973) đã có nhận xét như sau trong bối cảnh của châu Phi: “Về việc huy động tích luỹ, các
quỹ tiết kiệm tại bưu điện là một hình thức thể chế thụ động và nên có một nỗ lực tích cực hơn đối với
nền kinh tế, đặc biệt là ở cấp địa phương”. UNESCO (1973) cũng chỉ ra rằng mức tiền gửi tiết kiệm tại
các tổ chức bưu điện ở Châu Phi cũng đã ở mức trì trệ, thậm chí giảm sút, nhưng tại thời điểm đó chỉ có
hai quốc gia Châu Phi là Algeria và Swaziland là đã thành công trong việc thay thế hình thức quỹ tiết
kiệm tại bưu điện bằng các loại hình thể chế thích hợp hơn đối với việc huy động tiền tiết kiệm của các hộ
gia đình – như Caisse Nationale d’Epargne et du Prevoyance (1966) và Ngân hàng Tín dụng và Tiết kiệm
Swaziland (1965). Rõ ràng, các quỹ tiết kiệm có thể được thực hiện được nhiều loại hình dịch vụ (đặc biệt
là cung cấp tín dụng) và có thể vận hành như là một thể chế địa phương hoặc khu vực, do đó có thể
12
khuyến khích kinh tế địa phương. Các tổ chức này cũng có thể cung cấp tín dụng của khu vực tư nhân
cũng như của Chính phủ.
(g) Các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí.
Các thể chế này tạo ra những cơ chế vô cùng quan trọng cho tích luỹ tại các nước phát triển và
các khoản đầu tư của các thể chế này chiếm vị trí chủ yếu trên thị trường chứng khoán. Ngược lại, tại các
nước đang phát triển, tầm quan trọng của các thể chế tài chính loại này lại rất hạn chế. Thứ nhất, yêu cầu
của loại hình thể chế này đòi hỏi người tích luỹ phải góp theo định kỳ (thường là theo thang), do vậy chỉ
hạn chế ở những người có thu nhập thường xuyên ổn định. Số người này ở các nước đang phát triển có ít
hơn là ở các nước phát triển. Thứ hai, các khoản góp nhiều khi không được khuyến khích do không có các
chính sách thuế cần thiết. Thứ ba, các thể chế thuộc loại này thường bị buộc phải đầu tư một phần đáng kể
(thậm chí toàn bộ) phần vốn của mình để mua chứng khoán chính phủ, mà những chứng khoán loại này ở
các nước bị kiềm chế tài chính lại thường chỉ mang lại mức sinh lợi thực (rcal) thấp hoặc âm. Ngoài ra,
những đòi hỏi như vậy còn hạn chế việc dùng vốn góp để đầu tư mua trái phiếu và cổ phiếu của công ty
mà lẽ ra các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí có thể thực hiện, vì vậy gây kiềm chế sự tăng trưởng của thị
trường chứng khoán và hạn chế nguồn vốn dài hạn dành cho khu vực tư nhân.
Mặc dù tầm quan trọng của các thể chế này trong tiết kiệm và đầu tư vẫn còn nhỏ bé tại các nước
đang phát triển, hiện tình hình cho thấy tại một số nước, các tổ chức này đang phát triển rất nhanh.
UNESCO (1973) có nhận xét về: “tốc độ tăng trưởng của các công ty bảo hiểm tại châu phi”. Tại
Indonesia, nguồn vốn huy động được bởi các công ty bảo hiểm nhân thọ và quỹ bảo hiểm xã hội tăng
47% và 45% trong các năm 1978 và 1979. (Mức tăng ưowng ứng trong chỉ số CPI là 28%). Xu hướng các
chính phủ thường cho phép cơ chế tích luỹ này được ưu đãi về thuế sẽ kích thích sự tăng trưởng của hình
thức này, mặc dù khi đó thị trường tài chính sẽ bị thêm nhiều biến dạng. Ngoài ra, có thể chế này đôi lúc
bị coi là những đối tượng đầu tư quá dè dặt và bảo thủ, không chạy theo mức sinh lợi cao. Trên thực tế, có
một số trường hợp chỉ mang lại sức sinh lợi vô cùng thấp. Trong những trường hợp như vậy, tác động của
sự biến động trên thị trường có thể dẫn tới tình trạng vốn bị hướng vào các khoản đầu tư an toàn nhưng
lợi tức thấp thay vì vào các khoản đầu tư mới, rủi ro cao hơn nhưng lợi tức hứa hẹn cũng cao hơn. Sự tăng
trưởng của bảo hiểm nhân thọ cũng chịu tác động của tỷ lệ lạm phát cao và tình trạng bị kiềm chế của thị
trường tài chính. Emery (1970) có cân nhắc rằng “khu vực bảo hiểm tại hầu hết các nước Đông Nam Á
không phải là một nguồn vốn đáng kể”. Chỉ có ở Malaysia các công ty bảo hiểm mới có vai trò quan
trọng trong việc cung cấp nguồn vốn phí ngân hàng. Ở Singapre, Philippine và Miến điện, các công ty
này chỉ đóng một vai trò tương đối quan trọng. Tại các nước khác, khu vực này luôn hoàn toàn không
quan trọng. Emery cho rằng sự tăng trưởng của khu vực này bị hạn chế do “chỉ có một bộ phận nhỏ dân
13
chúng có quan tâm tới bảo hiểm nhân thọ “và “tỷ lệ lạm phát cao ở indonesia và Việt Nam, 2 trong số
nhiều nước khác, cũng làm cho việc bán dịch vụ bảo hiểm bị hạn chế. Đối với các nước Mỹ la tinh, Riette
(1979) cũng nhận thấy rằng “tỷ lệ tích luỹ qua hình thức bảo hiểm nhân thọ đã ngày một giảm trong
những năm gần đây, chủ yếu là do tác động của lạm phát đã hạn chế việc bán các hợp đồng và chính sách
bảo hiểm nhân thọ”.
Các số liệu về nguồn vốn đầu tư cho hình thức bảo hiểm nhân thọ tại các nước thứ ba không được
đầy đủ lắm, mặc dù cảm giác chung là doanh số không lấy gì làm quan trọng. Rietti (1979) cho rằng tại
Châu Mỹ la tinh, chí có khoảng 5% bộ phận dân chúng tham gia hoạt động kinh tế là có mua bảo hiểm
sinh mạng, và trong toàn khu vực, chỉ khoảng 25% thu nhập quốc dân được mua bảo hiểm nhân thọ, trong
khi đó tại các nước phát triển, con số này là 100%.
Tương tự, các quỹ hưu trí cũng không có vị trí quan trọng. Emery (1970) báo cáo rằng chỉ có 4
nước Đông Nam Á (trên tổng số 10 nước) là có những quỹ hưu trí chính thức. Đó là Malaysia, Singapore,
Phillipine và Miến điện. Tuy nhiên, nguồn quỹ từ các thể chế này tại Malaysia, Singapore và Phillipine
cũng chiếm vị trí là một nguồn vốn dài hạn quan trọng và ở Malaysia, tính tại thời điềm cuối năm 1967,
tổng đầu tư của các quỹ hưu trí của cán bộ công nhân viên cũng chiếm tới 80% tổng vốn cho vay và đầu
tư của các ngân hàng thương mại. Kể từ đó tới nay, khu vực này cũng đã được mở rộng tại các nước khác
trong khu vực, trong đó có cả Indonesia. Việc đầu tư của các quỹ hưu trí cũng phải chịu những quy định
hạn chế của luật pháp và quy chế. Ở Nigeria chẳng hạn, Quỹ Hưu trí Quốc gia do chính phủ sở hữu đầu tư
phần lớn nguồn vốn của mình vào chứng khoán Chính phủ (theo Ajayi và Ojo). Tại Kenya, tình hình cũng
tương tự. Mức độ tăng hoặc huy động tích luỹ của các quỹ hưu trí bắt buộc cũng chưa được xác định rõ
ràng. Rất nhiều thành viên của các quỹ này có lẽ cũng sẽ tích luỹ một khoản đang kể phần đóng góp của
mình tại các quỹ tương tự và sự đóng góp của cán bộ công nhân viên trong các chương trình do chính phủ
đưa ra cũng chỉ là một khoản thuế lượng phát sinh thêm mà thôi. Nhưng tác động của các quỹ này, đặc
biệt đối với các quỹ do chính phủ lập ra, là đã hướng vốn tích luỹ vào trong tay chính phủ. Các quy này
còn thực hiện chức năng chuyển hoá thời hạn, do tính chất dài hạn của phí bảo hiểm cho phép vốn được
cấp vay trên cơ sở dài hạn. Phương án tích luỹ khác (ví dụ: gửi tiền tại ngân hàng thương mại) có sẽ
không cho phép thực hiện chức năng chuyển hoá thời hạn như vậy.
(h) Các công ty cho vay xây dựng nhà ở (Housing Finance Companies)
Các tổ chức này thường nhận tiền gửi của hội viên để cho các hội viên khác vay mua nhà. Người
tích luỹ thường gửi tiền nhằm mục đích có đủ tieu chuẩn vay mua nhà. Trên thực tế, có lẽ đây là lý do duy
nhất của việc tích luỹ theo phương thức này do một số công ty cho vay xây dựng nhà ở k hông dành cho
người gửi những điều khoản ưu đãi lắm. Phần lớn những khoản vốn gửi sẽ được dùng để cho vay mua
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét