Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

nghiên cứu tác động cuả quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đến hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại công ty bhdk khu vực tây bắc


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nghiên cứu tác động cuả quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đến hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại công ty bhdk khu vực tây bắc": http://123doc.vn/document/1049546-nghien-cuu-tac-dong-cua-quy-dinh-che-do-bao-hiem-chay-no-bat-buoc-den-hoat-dong-trien-khai-nghiep-vu-bao-hiem-chay-tai-cong-ty-bhdk-khu-vuc-tay-bac.htm



năng xảy ra của nó, về thời gian và không gian xảy ra, về mức độ nghiêm trọng
của rủi ro và hậu quả của nó.
Có rất nhiều nguyên nhân để xảy ra rủi ro, nhưng có thể tập hợp rủi ro
vào ba nhóm chính:
Thứ nhất là nhóm các rủi ro do thiên tai gây ra như bão, lũ lụt, hạn hán,
động đất, sét, lốc, sương muối, dịch bệnh, sóng thần làm ảnh hưởng đến đời
sống và sức khoẻ của con người.
Thứ hai là nhóm rủi do do biến động cuả khoa học và công nghệ.
Thứ ba, là nhóm rủi ro môi trường xã hội, những rủi ro này chịu tác động
cuả nhiều yếu tố và ảnh hưởng trực tiếp đến mọi thành viên trong xã hội như ốm
đau, dịch bệnh, mất việc làm, trộm cắp, hoả hoạn
Bất kể nguyên nhân gì, khi xảy ra rủi ro thường gây ra cho con người
những khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài
sản, làm ngưng trệ hoạt động sản xuất và kinh doanh của các tổ chức, doanh
nghiệp cá nhân, và làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế- xã hội nói chung.
Để đối phó với các rủi ro có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậu
quả của rủi ro gây ra - đó là nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm các
biện pháp tài trợ rủi ro.
Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh rủi
ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro:
Tránh né rủi ro tức là tìm ra phương thức hành động khác không có dấu
hiệu của bất cứ yếu tố nào có thể dấn tới rủi ro
Ngăn ngừa tổn thất được sử dụng để đưa ra các hành động làm giảm tổn
thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra khi không thể né tránh được dù đã
tìm mọi cách.
Nhóm biện pháp tài trợ rủi ro. Biện pháp tài trợ rủi ro gồm các biện pháp
chấp nhận rủi ro và bảo hiểm. (Đây là các biện pháp phải được thực hiện trước
khi rủi ro xảy ra, nhằm mục đích giảm thiểu hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra,
nếu có).
5

+ Chấp nhận rủi ro, tức là người gặp rủi ro tự chấp nhận khoản tổn thất.
Còn gọi là tự bảo hiểm. Có hai hình thức chấp nhận rủi ro, gồm chấp nhận một
cách chủ động và chấp nhận thụ động. Hiệu quả của hai hình thức này không cao
do rơi vào tình huống thụ động, sử dụng không hiệu quả đồng vốn, hoặc sai lệch
trong tính toán lập quỹ dự phòng
+Bảo hiểm: bảo hiểm ngày nay đã trở thành một lựa chọn không thể thiếu
trong hầu hết các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như các cá
nhân.Do nó khắc phục được hầu hết các nhược điểm của các biện pháp khác.
Bảo hiểm chính là sự lựa chọn tối ưu của các chương trình quản lý rủi ro. Rủi ro
được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm sang nhà bảo hiểm. Người tham
gia bảo hiểm nhận được sự tư vấn cho các chương trình kiểm soát rủi ro và đề
phòng hạn chế tổn thất, nhận được khoản tiền bồi thường nhanh chóng, đủ, kịp
thời khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
Ngày nay, với những lợi ích thiết thực của bảo hiểm đối với mọi thành
viên, đơn vị tham gia bảo hiểm, khái niệm bảo hiểm đã trở nên ngày một gắn bó
và gần gũi với con người, với các đơn vị sản xuất kinh doanh.
1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm.
Như tất cả các ngành khác, bảo hiểm ra đời do nhu cầu khách quan của
đời sống kinh tế xã hội đòi hỏi. Đó là nhu cầu được bảo vệ, giúp đỡ, chia sẻ hoạn
nạn khi rủi ro, tổn thất xảy ra như đã trình bày trên đây.
Bảo hiểm có nguồn gốc rất xa xưa trong lịch sử nền văn minh nhân loại
mà thậm chí cho đến bây giờ người ta vẫn chưa xác định được bảo hiểm xuất
hiện khi nào. Từ thời nguyên thuỷ loài người sống bằng nghề săn bắn, họ đã biết
dự trữ những gì săn bắt được. Đến một giai đoạn phát triển hơn, trong những
cộng đồng dân cư nhỏ, hoặc trong một gia đình, nhóm gia đình đã hình thành
một khối lượng lương thực dự trữ nhất định, được dùng tương trợ lẫn nhau khi
mùa màng thất bát. Đây là hình thức sơ khai của bảo hiểm.
Đến thế kỷ XV, khi châu Âu thực hiện những chuyến khai phá tới Châu
Á và Châu Mỹ, mở đường cho cuộc cách mạngg thương mại, ý tưởng về thành
lập một quỹ chung để đối phó với rủi ro đã hình thành khá rõ ràng. Việc tìm ra
6

châu lục mới, vùng đất mới, tạo ra hoạt động thương mại giữa những nơi này
phát triển ngày một nhanh chóng. Đặc biệt là hình thức vận chuyển bằng đường
biển. Theo dó, bảo hiểm, nhất là bảo hiểm hàng hải cũng phát triển theo. Bởi lẽ,
những người chủ hàng, những người bỏ vốn đầu tư vào những chuyến đi mạo
hiểm đó nhận thấy cần phải chia sẻ những rủi ro để tránh tình trạng một số nhà
đầu tư bị mất trắng khoản đầu tư của mình do những con tàu gặp nạn trên biển,
hoặc bị biến mất một cách bí ẩn. Để đáp ứng nhu cầu này, nhu cầu chia nhỏ tổn
thất, người ta đã có hai phương án. Cách thứ nhất là thành lập một liên doanh có
vốn cổ phần, theo đó, một nhóm đầu tư cùng đầu tư vào một đội thuyền chở hàng
chung, cùng chia sẻ rủi ro khi tổn thất và phân chia lợi nhuận mà liên doanh thu
được (Phuơng án này rất gần với hình thức các chủ hàng trên con đường tơ lụa
nổi tiếng đã chia nhỏ hàng hoá của mình thành hàng trăm phần nhỏ, mỗi lạc đà
sẽ chở một lượng hàng mà trong đó bao gồm nhiều phần hàng hoá của các chủ
hàng khác nhau. Lạc đà nào bị cướp, tổn thất được chia đều cho các chủ hàng,
mỗi người tổn thất một phần nhỏ trong tổng số hàng.). Cách thứ hai là bảo hiểm,
theo cách này các nhà buôn và các chủ tàu thuyền chấp nhận trả một khoản tiền
nhất định cho một cá nhân hay tổ chức, người mà đảm bảo rằng nếu hàng hoá
hoặc tàu thuyền của họ bị tổn thất do một số nguyên nhân nhất định nào đó họ sẽ
được trả một khoản tiền để bù đắp thiệt hại xảy ra.
Bảo hiểm hàng hải là lĩnh vực ra đời sớm nhất. Năm 1347, hợp đồng bảo
hiểm hàng hải đầu tiên được phát hành tại Genoa-Ý. Năm 1424, công ty bảo
hiểm đầu tiên, Marietime Insurance Company ra đời. Năm 1583, xuất hiện hợp
đồng bảo hiểm, mà cho đến nay được coi là cổ xưa nhất. Năm 1667, sau vụ cháy
khủng khiếp tại London, làm hơn 13000 ngôi nhà bị cháy, hàng nghìn người thiệt
mạng vào năm 1666, công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên trên thế giới có tên
“Fire Office” hoạt động tại Anh. Sau bảo hiểm hoả hoạn là các quỹ bảo hiểm
nhân thọ cũng xuất hiện từ nhu cầu của cuộc sống, nhu cầu được chăm lo cho
tương lai.
Từ cuối thế ký 19, cuộc đại cách mạng khoa học kỹ thuật trên toàn thế
giới diễn ra sôi động, mang lại nhiều thành tựu, làm xuất hiện nhiều ngành nghề
7

kinh doanh mới. Cùng với đó là sự gia tăng nhanh chóng các rủi ro có nguyên
nhân xuất phát từ nhóm rủi ro do biến động của khoa học công nghệ. Đây là điều
kiện thuận lợi đẩy mạnh sự phát triển bảo hiểm với những sản phẩm như bảo
hiểm ôtô, máy bay, xây dựng lắp đặt
Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm là một sự đáp ứng đòi hỏi khách
quan của cuộc sống đối với những biến động về tài chính do các sự cố bất ngờ
gây ra. Tham gia bảo hiểm tạo điều kiện khôi phục nhanh chóng thiệt hại, góp
phần sớm ổn định cuộc sống và sản xuất. Ngành bảo hiểm tại tất cả các quốc gia
trên thế giới đóng vai trò không thể thay thế trong các trung gian tài chính, góp
một phần lớn vào sự vững mạnh của thị trường tài chính và sự ổn định của nền
kinh tế quốc dân.
1.1.3 Chức năng, vai trò, tác dụng của bảo hiểm.
Mục đích của bảo hiểm: là đem lại sự an tâm, an toàn về mặt tài chính
cho người tham gia bảo hiểm trước những rủi ro có thể xảy ra.
Chức năng của bảo hiểm :xây dựng quỹ tài chính an toàn, tăng trưởng ổn
định, bồi thường đúng đủ, kịp thời.
Vai trò của bảo hiểm :được biết đến một cách tổng quát nhất, như là một
công cụ an toàn thực hiện chức năng bảo vệ con người, bảo vệ tài sản cho xã hội.
Cụ thể:
 Đối với từng người dân: Bảo hiểm đảm bảo về mặt tài chính nhằm
khắc phục hậu quả bất ngờ khi gặp phải rủi ro liên quan đến tính mạng, tình
trạng sức khoẻ và tài sản mà họ sở hữu.
 Đối với các doanh nghiệp: Tham gia bảo hiểm là chuyển giao rủi ro,
ổn định sản xuất, nhanh chóng khắc phục hậu quả khi rủi ro xảy ra bằng STBT.
 Đối với ngân hàng thương mại: Bảo hiểm là nhà đầu tư lớn, sử dụng
nhiều dịch vụ tín dụng, và đưa lại nhiều hợp đồng tín dụng không cần bảo lãnh
của ngân hàng.
 Đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp: hỗ trợ đắc lực cho nhà nông
khôi phục sản xuất khi gặp rủi ro, thiên tai, đảm bảo cho sản xuất và lưu thông
hàng hoá nông nghiệp không bị ngưng trệ gián đoạn.
8

 Hoạt động bảo hiểm phát triển còn góp phần cải thiện môi trường
đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hợp
tác kinh tế, kỹ thuật, thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác
hoạt động bảo hiểm còn mang về cho kinh té quốc dân một khoản ngoại tệ đáng
kể.
 Bảo hiểm là nhà tư vấn quản trị rủi ro hàng đầu trong xã hội. Doanh
nghiệp bảo hiểm vì lợi ích của bản thân, xã hội, người tham gia bảo hiểm coi
trọng xây dựng các công trình đề phòng hạn chế tổn thất.
 Thị trường bảo hiểm:, Là một trung gian tài chính bên cạnh ngân
hàng, thị trường chứng khoán.
Tác dụng của bảo hiểm: Bảo hiểm có rất nhiều tác dụng khác nhau:
 Dàn trải tổn thất (phân tán rủi ro
 Bảo vệ: Tham gia bảo hiểm là bảo vệ cho tính mạng tình trạng sức
khoẻ và tài sản trước nguy cơ xảy ra tổn thất.
 Đề phòng hạn chế tổn thất
 Ổn định đời sống sản xuất kinh của người được bảo hiểm.
 Tạo sự an tâm về mặt tinh thần cho người tham gia bảo hiểm.
 Kích thích tiết kiệm
 Đầu tư phát triển kinh tế
 Đẩy mạnh tín dụng
 Tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Với những lợi ích kể trên, bảo hiểm đã ra đời từ rất lâu và ngày càng phát
triển.
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm.
Hoạt động bảo hiểm thương mại phải tuân thủ theo các nguyên tắc chung
sau đây:
Nguyên tắc 1: Phải tuân theo luật hợp đồng.
Hợp đồng là căn cứ pháp lý để giải quyết những vấn đề pháp lý về
sau.Các hợp đồng bảo hiểm nhất thiết phải là các văn bản pháp lý thể hiện những
quy định cơ bản của luật pháp.
9

Nguyên tắc 2: Lựa chọn rủi ro.
Nhà bảo hiểm được lựa chọn các rủi ro được bảo hiểm, chỉ rủi ro không
ai lường trước được mới được chấp nhận. Thậm chí với những rủi ro bất ngờ
nhà bảo hiểm cũng có thể từ chối bảo hiểm hay chỉ chấp nhận một hay một số rủi
ro trong đó để tiến hành bảo hiểm.
Nguyên tắc 2: Nguyên tắc phân tán rủi ro.
Sau khi chấp nhận rủi ro của bên tham gia bảo hiểm, đến lượt mình, nhà
bảo hiểm cũng có thể gặp phải rủi ro và rất dễ dẫn đến tình trạng phá sản Để
tránh phá sản, đảm bảo hoạt động kinh doanh, nhà bảo hiểm phải tiến hành phân
tán rủi ro hai cách:
+ Đồng bảo hiểm
+Tái bảo hiểm
Nguyên tắc 3: Nguyên tắc có quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với
người mua bảo hiểm.
Quyền lợi được bảo hiểm tức là chủ thể tham gia mua bảo hiểm phải
chứng minh được mối liên hệ đối với đối tượng được bảo hiểm. Thông thường,
quyền lợi được bảo hiểm liên quan tới tài sản, trách nhiệm, con người
Nguyên tắc 4: Số đông bù số ít.
. Chỉ có số đông người tham gia bảo hiểm thì mới có cơ sở hình thành
quỹ bảo hiểm đủ lớn, rủi ro mới thực sự được san sẻ. …
Nguyên tắc 5: Nguyên tắc tín nhiệm tuyệt đối.
Khách hàng và nhà bảo hiểm tin tưởng tuyệt đối vào sự trung thực của
hai bên trong cung cấp thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm.
Nguyên tắc 6: Nguyên tắc bồi thường.
Được áp dụng trong các hợp đồng bảo hiểm tài sản, trách nhiệm. Theo
đó, số tiền bồi thường không thể lớn hơn quyền lợi bảo hiểm mà họ có.
Nguyên tắc thế quyền:
Tránh trường hợp người gây thiệt hại không thể tiến hành bồi thường cho
người bị hại, và trường hợp số tiền bồi thường nhận được của người đựơc bảo
hiểm lớn hơn tổn thất thực tế, người ta áp dụng nguyên tắc này. Nhà bảo hiểm
10

được phép thế quyền (thay quyền) người được bảo hiểm đòi tổn thất thuộc phần
trách nhiệm của người gây thiệt hại.
Nguyên tắc 8: Đóng góp bồi thường. Trong trường hợp, một tổn thất
được bảo hiểm bằng nhiều đơn bảo hiểm, bảo hiểm trùng, các doanh nghiệp cùng
tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng góp bồi thường khi tài sản bị tổn thất.
Nguyên tắc 9: Nguyên nhân trực tiếp, được hiểu là nguyên nhân đủ mạnh
và có tác dụng làm chuyển động cả một chuỗi sự kiện dẫn đến một kết quả mà
không cần có sự can thiệp cuả bất kỳ một lực nào khác phát sinh và phát huy tác
dụng từ một nguồn độc lập nào khác. Nguyên nhân trực tiếp không nhất thiết là
nguyên nhân đầu tiên hay cuối cùng, nhưng nó phải là nguyên nhân chủ yếu.
1.1.5. Phân loại bảo hiểm.:
1.1.5.1 Theo đối tượng bảo hiểm:
+Bảo hiểm xã hội.
+Bảo hiểm y tế.
+Bảo hiểm thất nghiệp.
+ Bảo hiểm thương mại.
1.1.5.2 Theo tính chất rủi ro hoặc theo luật kinh doanh bảo hiểm:
+Bảo hiểm nhân thọ
+Bảo hiểm phi nhân thọ.
(Bảo hiểm cháy nổ nằm trong mảng bảo hiểm phi nhân thọ, là loại nghiệp
vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm con người
phi nhân thọ)
.1.1.5.3 Theo kỹ thuật quản lý quỹ tài chính:
+Bảo hiểm quản lý theo kỹ thuật phân chia.
+Bảo hiểm quản lý theo kỹ thuật tồn tích.
Cách phân chia thứ hai, sử dụng phổ biến hơn cả.
1.2. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM CHÁY NỔ.
1.2.1 Cháy và sự cần thiết của bảo hiểm cháy.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm cháy, tuy nhiên theo luật
PCCC hiện nay cháy được hiểu là trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát được
11

có thể gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi trường.( Điều 3-Luật
PCCC)
Theo số liệu thống kê, hàng năm trên thế giới có khoảng 5 triệu vụ cháy
lớn, nhỏ gây thiệt hại hàng trăm tỷ đôla. Các vụ cháy không chỉ xảy ra ở các
nước có nền kinh tế chậm phát triển mà còn xảy ra ở các nước có nền kinh tế
phát triển như Anh, Pháp, Mỹ nơi mà nền khoa học, công nghệ đã đạt đến đỉnh
cao của sự hiện đại và an toàn thì cháy vẫn xảy ra ngày một tăng cả về số lượng
và mức độ nghiêm trọng. Mỹ môĩ năm có khoảng 2.4 triêụ vụ cháy, làm chết
trên 300 000 người và thiệt hại 1.8 tỷ đôla. Ở Viêt Nam xảy ra rất nhiều vụ cháy
khác nhau, Giá trị thiệt hại lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người
dân cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cho đến thời điểm năm 2007, tình hình cháy nổ tại Việt Nam được thống
kê như sau:
Năm 1962-1991: Tổng số vụ cháy xảy ra là 566 036 vụ cháy, thiệt hại vật
chất 948 tỷ đồng, làm chết 2574 người, các vụ cháy lớn ngày một gia tăng.
Năm 1990: Số vụ cháy đã xảy ra là 902 vụ, làm chết và bị thương 380
người, thiệt hại 11,5 tỷ đồng.
Năm 1992-1993 tổng số vụ cháy là 1710 vụ, làm chết 213 người, bị
thương 348 người, thiệt hại 114, 76 tỷ đồng.
Từ năm 1996 đến 2003, tổng số vụ cháy xảy ra là 8015 vụ, bình quân
1003 vụ mỗi năm, thiệt hại trên 1000 tỷ đồng, cháy lớn chiếm 2.47% tổng số vụ
cháy nhưng thiệt hại lại chiếm tới 67.25% tổng thiệt hại. Thiệt hại về tài sản giai
đoạn này, tăng gấp 20 lần so với cả giai đoạn 1986 đến 1995. Trong số các vụ
cháy, phần lớn xảy ra ở đô thị, đến 62%. Về đối tượng gây cháy, 70,1% xuất
phát từ thành phần kinh tế tư nhân, và nhà dân.
Ngày 14-7-1994: Vụ cháy chợ đồng Xuân Hà Nội, thiệt hại 14 tỷ đồng ,
2364 hộ kinh doanh bị thiệt hại.
Ngày 26-06-1996: Cháy kho xăng dầu 131 Thuỷ Nguyên, thiệt hại 31 tỷ
đồng.
Ngày 18-11-1996: Cháy công ty giầy Đồng Nai, thiệt hại 12 tỷ đồng.
12

Năm 2001, vụ cháy tại Vising Pack thiệt hại trên 1,4 triệu $.
Ngày 29-10-2002: Cháy lớn tại trung tâm thương mại ITC Thành phố Hồ
Chí Minh làm chết 60 người, trên 100 người bị thương, thiẹt hại 1,1 tỷ đồng cho
toà nhà và 100 tỷ đồng cho các tài sản khác.
01-04-2003: Cháy ở Interfood, thiệt haị 70 tỷ đồng.
03-03-04: Chaý ở nhà máy giày Pouyuen, thiệt hại 9000 m² nhà xưởng,
thiệt hại trên 4,4 triệu $
Năm 2005, tại Thành phố Hồ Chí Minh, xảy ra 270 vụ, giảm 92 vụ
( 35%) so với năm 2004. Tổng thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 21 tỷ 248
triệu đồng, làm chết 13 người, bị thương 50 người
Ngày 29/12/2006 Tại Thành phố Qui Nhơn, xảy ra vụ cháy chợ Qui
Nhơn, thiệt hại 120 tỷ đ.
Năm 2006, cả nước xảy ra 1648 vụ cháy cơ sở sản xuất kinh doanh và
nhà dân, làm chết 53 người, bị thương 154 người.
Riêng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hai trung tâm kinh tế quan
trọng nhất nước, xảy ra tình trạng cháy nổ nhiều nhất nước. Theo thống kê của
phòng PCCC, riêng thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 đã xảy ra 293 vụ cháy,
làm chết 11 người, thiệt hại tài sản 58,7 tỷ đồng. Số vụ cháy xảy ra trên toàn
thành phố gia tăng 24 vụ, thêm 3 người chết, 11 ngưòi bị thương và thiệt hại
hàng tỷ đồng so với 2003. Năm 2007, những tháng đầu năm ,từ tháng 1 đến
tháng 3, tại Hà Nội xảy ra 49 vụ cháy. Tại thành phố Hồ Chí Minh, chỉ riêng
tháng 3/2007 cũng xảy ra 49 vụ cháy,làm chết 3 người và thiệt hại 9,8 tỷ đồng.
Có thể thấy rằng cháy có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, với bất
cứ ai, dù đã có ý thức PCCC nhưng vẫn không thể xoá bỏ hoàn toàn nguy cơ
cháy nổ và tổn thất do cháy gây ra thường rất lớn, có khi mang tính chất thảm
hoạ.
Hoả hoạn là vấn đề nhức nhối của xã hội, và là một trong những rủi ro
diễn ra khá phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, Hậu quả thường rất rất lớn
(cả tài sản và con người, và việc gián đoạn kinh doanh); đồng thời ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường sống. Tại Indonesia, mỗi năm các vụ cháy rừng tạo
13

ra 1400 triệu tấn Cácbonđioxit (CO2); Hà Lan là 80 triệu tấn Các vụ cháy rừng
ở Indonesia là một vấn đề to lớn, thời gian gần đây, các vụ cháy ngày càng tăng
thêm. Hậu quả từ những vụ cháy là khói bụi được tạo ra từ đó phủ xuống cả một
vùng dân cư rộng lớn, có khi tới hàng tuần lễ, khiến cho người, động vật, cây
trồng đều không có khí thở . Mặc dù tất cả các nước trên thế giới đều rất coi
trọng công tác phòng cháy chữa cháy, tuy nhiên hoả hoạn vẫn xảy ra.
Để đối phó với cháy, con người đã sử dụng rất nhiều biện pháp khác
nhau như các biện pháp PCCC, đào tạo nâng cao trình độ kiến thức và ý thức,
thông tin tuyên truyền về PCCC. Tuy nhiên để đối phó với hậu quả do cháy gây
ra thì bảo hiểm được coi là biện pháp hữu hiệu nhất. Do trước khi ký kết hợp
đồng bảo hiểm, nhà bảo hiểm đã tiến hành đánh giá rủi ro, dù hợp đồng có được
kí kết hay không thì đây cũng vẫn là lời cảnh báo đối với các chủ tài sản. Khi
tham gia bảo hiểm hoả hoạn, vì lợi ích trực tiếp của mình, nhà bảo hiểm luôn
luôn phối hợp với chủ tài sản để tư vấn cho họ về công tác PCCC, về an toàn vệ
sinh lao động, về phương án PCCC, thậm chí phối hợp với lực lượng PCCC để
phối hợp tập dượt các phương án đối phó khi hoả hoạn xảy ra. Chính vì vậy, làm
cho tất cả các bên đều có ý thức về PCCC và luôn sẵn sàng PCCC. Hơn nữa, nếu
tham gia bảo hiểm, nhà bảo hiểm luôn luôn phân công, cử cán bộ thường xuyên
theo dõi công tác này, điều này làm công tác đề phòng hạn chế tổn thất rất hiệu
quả. Nếu không may hoả hoạn xảy ra, nhà bảo hiểm sẽ có biện pháp bồi thường
kịp thời để giúp chủ tài sản nhanh chóng ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh,
khắc phục kịp thời việc gián đoạn kinh doanh. Chính vì những lý do nêu trên
đây, bảo hiểm cháy ra đời là sự cần thiết khách quan đối với mỗi nền kinh tế trên
thế giới cũng như đối với mỗi ngành, mỗi cơ quan, mỗi doanh nghiệp…
Tác dụng của bảo hiểm cháy cũng là một trong những nhân tố giải thích
về sự cần thiết của bảo hiểm cháy.
Lịch sử ra đời của bảo hiểm cháy là một minh chứng rõ nét cho tác dụng
của nó. Vào thời kỳ Trung đại, Phục hưng, ở châu Âu vẫn chưa có hệ thống
phòng cháy chữa cháy hữu hiệu. Khi cháy xảy ra, người bị hại thường dựa vào
sự giúp đỡ của phường hội. Phải đến năm 1666, sau vụ cháy lớn ở Luân Đôn kéo
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét