Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

giải pháp mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại sgd nhn0 & ptntvn


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại sgd nhn0 & ptntvn": http://123doc.vn/document/1047453-giai-phap-mo-rong-tin-dung-doi-voi-cac-doanh-nghiep-vua-va-nho-tai-sgd-nhn0-ptntvn.htm


Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại SGD NHN0 & PTNTVN
Các kí hiệu viết tắt
DNVVN : doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNL : doanh nghiệp lớn
NHTM : ngân hàng thơng mại
NHNN : ngân hàng nhà nớc
SGD : Sở giao dịch
NHNO & PTNTVN: ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam
Công ty TNHH : công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty CP : công ty cổ phần
Công ty TN : công ty t nhân
DNNN : doanh nghiệp nhà nớc
HTX : hợp tác xã
TCTD : tổ chức tín dụng
KH : kế hoạch
5
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại SGD NHN0 & PTNTVN
Chơng I
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
và nhu cầu tín dụng
I. Doanh nghiệp vừa và nhỏ và vai trò của nó đối với nền
kinh tế Việt Nam
1. Những ý kiến khác nhau về định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đợc đề cập đến trong nhiều nghiên
cứu, nhng việc xác định các tiêu thức phân loại vẫn còn cha đợc thống nhất.
Để phân biệt DNVVN với doanh nghiệp lớn, ngời ta thờng căn cứ vào các tiêu
thức nh : Tổng vốn đầu t, giá trị tài sản cố định, số lợng lao động thờng xuyên,
giá trị bằng tiền của sản phẩm bán hay dịch vụ, lợi nhuận, vốn bình quân cho
một lao động. Tuỳ vào tình hình cụ thể ở mỗi quốc gia mà các tiêu thức nào đ-
ợc lựa chọn, tuy nhiên phổ biến là:
- Số lao động thờng xuyên đợc sử dụng;
- Tổng số vốn đầu t huy động vào sản xuất kinh doanh
Sự phân loại doanh nghiệp ở Việt Nam cũng dựa trên hai tiêu thức là vốn và
lao động. Trớc đây theo công văn số 681/CP-KTN do Chính phủ ban hành
ngày 20/6/1998, DNVVN là các doanh nghiệp có vốn kinh doanh dới 5 tỷ
đồng (tơng đơng 387.000 USD theo tỷ giá giữa đồng VNN và đồng đô la Mỹ
tại thời điểm đó) và số lao động thờng xuyên không quá 200 ngời.
Cùng với sự phát triển chung của đất nớc, số lợng các doanh nghiệp đang
ngày một tăng, có không ít doanh nghiệp có số vốn vợt quá 5 tỷ đồng nhng
cha đủ mạnh để đợc coi là doanh nghiệp lớn. Vì vậy Chính phủ ban hành Nghị
định số 90/2001/NĐ-CP ra ngày 23/11/2001 về trợ giúp và phát triển
DNVVN, trong đó có nêu ra định nghĩa sau :
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng
hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 ngời. Căn cứ vào tình
hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phơng, trong quá trình thực hiện
các biện pháp, chơng trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai
chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Đây cũng là
khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ em sử dụng trong bài luận văn để làm
cơ sở cho những phân tích sau này
6
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại SGD NHN0 & PTNTVN
Theo định nghĩa trên, các DNVVN gồm có các loại hình, cơ sở sản xuất
kinh.doanh nằm trong những tiêu thức và giới hạn tiêu chuẩn quy định sau:
- Các doanh nghiệp nhà nớc đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh Nghiệp
- Các công ty cổ phần, Công ty TNHH và doanh nghiệp t nhân đăng ký hoạt
động theo Luật Doanh Nghiệp.
- Các hợp tác xã đăng ký hoạt động theo Luật Hợp tác xã
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày
3/2/2000 của Chính Phủ về đăng ký kinh doanh
Nh vậy tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh
doanh và thoả mãn hai tiêu thức : vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng, lao động
trung bình hàng năm không quá 300 ngời thì đều đợc coi là DNVVN
2. Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.1. Lợi thế của qui mô vừa và nhỏ.
Các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ có những lợi thế sau:
- Qui mô nhỏ có tính năng động, linh hoạt, tự do sáng tạo trong kinh doanh:
So với doanh nghiệp lớn, DNVVN năng động hơn trớc những thay đổi
liên tục của thị trờng. Với quy mô và cơ sở vật chất hạ tầng đồ sộ, các doanh
nghiệp lớn thờng không nhanh nhạy theo kịp sự chuyển biến của nhu cầu ngời
tiêu dùng. DNVVN có khả năng chuyển hớng kinh doanh và chuyển đổi mặt
hàng nhanh hơn, tăng giảm lao động dễ dàng vì có thể sử dụng nguồn lao
động thời vụ.
Một lợi thế đáng kể nữa là DNVVN khi chuyển địa điểm sản xuất
không gặp nhiều khó khăn nh doanh nghiệp lớn. Trong khi đó, các DNVVN
lại có thể nắm bắt đợc cả những yêu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực, địa phơng.
DNVVN có thể dễ dàng chuyển đổi mặt hàng, chuyển hớng kinh doanh. Điều
này càng làm cho doanh nghiệp vừa và nhỏ khai thác hết năng lực của mình,
đạt đợc hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.
- Các DNVVN dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích
ứng với cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại. :
Khác với các doanh nghiệp lớn, DNVVN với yêu cầu vốn bổ xung không
nhiều và giảm đợc sự thiệt hại trong việc thay đổi t bản cố định khi có sự cạnh
7
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại SGD NHN0 & PTNTVN
tranh phải chuyển sang kinh doanh ngành khác nên các DNVVN dễ dàng và
nhanh chóng trong việc đổi mới thiết bị công nghệ khi cần thiết.
Ngày nay, do sự phát triển của khoa học và công nghệ, nên nhiều khi thời
gian tồn tại của một mặt hàng ngắn hơn thời gian tồn tại thế hệ máy móc sản
xuất ra nó. Vì vậy đòi hỏi phải khấu hao nhanh để chuyển sang sản xuất mặt
hàng mới với thiết bị và công nghệ mới. Trong trờng hợp này, các DNVVN lại
sẽ có lợi thế hơn.
- Các DNVVN chỉ cần lợng vốn đầu t ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi vốn
nhanh. Hấp dẫn nhiều cá nhân, tổ chức ở mọi thành phần kinh tế đầu t vào
khu vực này.
- DNVVN có tỷ suất vốn đầu t trên lao động thấp hơn nhiều so với doanh
nghiệp lớn (DNL), cho nên chúng có hiệu suất tạo việc làm cao hơn.
- Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các DNVVN gọn nhẹ, linh hoạt,
công tác điều hành mang tính trực tiếp: bộ máy tổ chức của các DNVVN
thờng đơn giản, gọn nhẹ. Các quyết định đợc thực hiện nhanh, công tác
kiểm tra giám sát đợc tiến hành chặt chẽ, không phải qua nhiều khâu trung
gian. Chính vì vậy đã tiết kiệm đợc chi phí quản lý doanh nghiệp .
- Quan hệ giữa những ngời lao động và ngời quản lý ( quan hệ chủ- thợ)
trong các DNVVN khá chặt chẽ:
Quan hệ giữa các thành viên trong DNVVN chặt chẽ gắn bó hơn, tạo ra môi
trờng làm việc tốt. Các lao động dễ dàng trao đổi với nhau và với lãnh đạo, đề
xuất những ý tởng mới lạ đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp. Trong
một doanh nghiệp mà số lao động không lớn lắm, ngời lãnh đạo doanh nghiệp
mới có điều kiện biết rõ khả năng làm việc cũng nh đời sống tinh thần của
từng thành viên một việc mà rất khó thực hiện ở các doanh nghiệp lớn. Nhờ
vậy kịp thời điều chỉnh vị trí công việc của ngời lao động để tận dụng đợc hết
khả năng của họ.
- Sự đình trễ, thua lỗ, phá sản của các DNVVN có ảnh hởng rất ít hoặc
không gây nên khủng hoảng kinh tế xã hội, đồng thời ít chịu ảnh hởng
bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế dây chuyền.
2.2. Bất lợi của qui mô nhỏ.
Tuy nhiên với những đặc trng của mình nên các DNVVN nói chung cũng nh
các DNVVN của Việt Nam nói riêng còn rất nhiều hạn chế. Cụ thể :
8
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại SGD NHN0 & PTNTVN
- Nguồn vốn tài chính hạn chế:
Trong khi các doanh nghiệp lớn có nhiều khả năng nhận đợc các nguồn
tài chính khác nhau thì các DNVVN lại gặp khó khăn giai đoạn mới hình
thành, phần lớn các DNVVN đều gặp phải khó khăn về vốn. Các NHTM cũng
nh các tổ chức tài chính khác thờng e ngại không muốn cho DNVVN vay vốn
bởi vì họ cha có quá trình kinh doanh uy tín và cha tạo lập đợc khả năng trả
nợ. Điều này ngăn cản sự mở rộng doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp gặp
nhiều khó khăn khác nh thiếu sức cạnh tranh trên thị trờng, không kịp thời cải
tiến công nghệ sản xuất. Khó có điều kiện nâng cao chất lợng lực lợng lao
động
ở Việt Nam hiện nay, sự thiếu vốn của các DNVVN đã và đang diễn ra
trên bình diện khá rộng. Bởi vì một mặt với qui mô vốn tự có đều rất nhỏ, hạn
hẹp không đủ sức tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh có chất lợng
và hiệu qủa, đặc biệt đối với các doanh nghiệp muốn mở rộng, phát triển qui
mô và đổi mới nâng cấp chất lợng thiết bị công nghệ, sản phẩm. Mặt khác, thị
trờng vốn dài hạn, thị trờng chứng khoán, về cơ bản nớc ta cha phát triển, hơn
nữa điều kiện tham gia thị trờng chứng khoán của các DNVVN Việt Nam là
hết sức khó khăn và hiếm hoi. Trong khi đó khả năng và điều kiện tiếp cận các
nguồn vốn trên thị trờng tín dụng đối với các DNVVN ở nớc ta hiện nay còn
bị hạn chế và khó khăn lớn , là do : không đủ tài sản thế chấp, mức lãi suất
cho vay còn quá cao so với mức lợi nhuận thu đợc; khối lợng cho vay ít, thời
hạn cho vay quá ngắn , các thủ tục rờm rà, phiền hà, hình thức và thể chế tín
dụng , nhất là khu vực nông thôn, còn nghèo nàn, đơn điệu và hiệu lực pháp lý
không cao. Những khó khăn đó rất cần đợc giải quyết tháo gỡ để tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh va phát triển của các DNVVN .
- Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ thờng yếu kém, lạc hậu:
Do nguồn vốn nhỏ và sự hiểu biết còn hạn chế, thông thờng các
DNVVN chỉ sử dụng các công nghệ trung bình, đơn giản nên năng suất lao
động thấp, làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Rất ít DNVVN
đợc trang bị công nghệ hiện đại, trừ khi liên doanh với nớc ngoài. Hơn nữa,
các DNVVN rất khó có thể vay đợc một khoản tín dụng trung dài hạn cần
thiết để nâng cấp công nghệ. So với các DNNN ( quy mô lớn), các DNVVN
rất khó tiếp cận với thị trờng công nghệ, máy móc và thiết bị quốc tế. Do thiếu
thông tin về thị trờng này, các DNVVN cũng khó tiếp cận những dịch vụ t vấn
hỗ trợ trong việc xác định công nghệ thích hợp và hiệu quả, giúp họ cải tiến và
nâng cao sức cạnh tranh.
9
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại SGD NHN0 & PTNTVN
Trong những năm đổi mới vừa qua ở nớc ta, do sức ép của thị trờng và
những tác động của cơ chế quản lý kinh tế, các DNVVN đã có sự đổi mới
công nghệ ở mức độ nhất định. Đó là việc dùng điện vào sản xuất và gắn liền
với nó là thực hiện nửa cơ khí, cơ khí hoá từng phần hoặc toàn bộ quá trình
sản xuất. Song nhìn chung, thiết bị công nghệ của các DNVVN hiện vẫn còn
lạc hậu và ở trình độ thấp, hiệu quả cha cao, đang gặp nhiều khó khăn đối với
việc nâng cao năng suất, chất lợng sản phẩm.
- Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các DNVVN bị hạn chế rất
nhiều
Do quy mô nhỏ và không có mạng lới, các mối quan hệ rộng nên
DNVVN không có hệ thống cung cấp thông tin chuyên môn, không nắm đợc
tình hình biến đổi bên ngoài doanh nghiệp mình nh nguyên liệu, mặt hàng,
trình độ công nghệ, các đối thủ cạnh tranh Các DNVVN không có bộ phận
chuyên trách về thu thập và xử lý thông tin. Nguồn vốn tài chính có hạn,
chúng không đủ kinh phí để mua sắm các thiết bị phục vụ công tác thông tin
nhanh chóng, kịp thời nói riêng và chi phí cho hoạt động tiếp cận, thu thập, xử
lý thông tin nói chung. Trình độ tri thức và năng lực thu thập, xử lý thông tin
của các chủ DNVVN còn rất hạn chế.
- Trình độ quản lý ở các DNVVN còn bị hạn chế:
Nhiều chủ DNTN không có kiến thức quản lý, không có trình độ
chuyên môn, thậm chí trình độ văn hoá thấp, không đủ khả năng xây dựng đợc
dự án phát triển kinh doanh và xây dựng dự án đầu t, xin vay vốn ngân hàng
theo quy định.
Nhìn lại đội ngũ các chủ DNVVN ở nớc ta hiện nay cho thấy, họ có
nhiều bất cập với đòi hỏi kinh doanh trong thơng trờng hiện đại. Đại đa số các
chủ doanh nghiệp chỉ có trình độ kiến thức văn hoá phổ thông cấp II (45-
50%), một số không nhiều có trình độ văn hoá phổ thông trung học, cao đẳng
và đại học (30-35%). Còn một bộ phận đáng kể có trình độ văn hoá cấp tiểu
học (10-15%), thậm chí cá biệt có ngời cha đọc thông viết thạo. Chỉ có rất ít
chủ doanh nghiệp (2-3%) của các DNVVN đợc đào tạo kiến thức quản lý
doanh nghiệp chính quy, một số ít (20-30%) đợc tập huấn, đào tạo ngắn hạn
(dới 6 tháng), còn đại bộ phận chỉ quản lý doanh nghiệp của mình bằng kinh
nghiệm.
10
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại SGD NHN0 & PTNTVN
Đây là một điểm yếu rất lớn và là một điều kiện khó khăn quan trọng
đối với các DNVVN cần có sự giúp đỡ khắc phục tích cực của Nhà nớc và các
tổ chức phi Chính phủ.
- Trình độ tay nghề công nhân thấp. Cơ sở kinh doanh phân tán, lạc hậu:
Cơ sở vật chất hạ tầng nghèo nàn, lạc hậu dẫn đến năng suất lao động
thấp và kém sức cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp lớn . Về trình độ tay
nghề, kỹ thuật của những ngời lao động trong các DNVVN đặc biệt rất thấp,
đặc biệt ở khu vực nông thôn. Số lao động có tính chất phổ thông, có trình độ
tay nghề giản đơn, cha đợc đào tạo, bình quân chiếm khoảng 60-70%. ở một
số vùng nông thôn, số đợc đào tạo nghề chính quy chỉ chiếm khoảng 10%. Đó
cũng là một trong những khó khăn đối với việc phát triển mạnh mẽ các
DNVVN hiện nay.
- Thị trờng của DNVVN thờng nhỏ bé và không ổn định, lại phải chia sẻ với
nhiều doanh nghiệp khác :
Một trong những khó khăn không nhỏ của các DNVVN Việt Nam hiện
nay chính là thị trờng tiêu thụ sản phẩm. Các DNVVN gặp khó khăn do những
thủ tục và điều kiện cạnh tranh không bình đẳng ở thị trờng trong nớc mà
nguyên nhân chủ yếu là bản quyền trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp cha đ-
ợc thực hiện nghiêm túc. Sản phẩm, dịch vụ của các DNVVN làm ăn chân
chính luôn phải cạnh tranh với hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu diễn ra một
cách phổ biến. Cùng với sự độc quyền của một số doanh nghiệp lớn khiến sức
cạnh tranh của DNVVN lại càng giảm trên thị trờng nội địa.
Với đặc điểm u thế của mình, định hớng chiến lợc ngắn hạn, trớc mắt
của các DNVVN là tập trung vào các thị trờng nhỏ lẻ, địa phơng và đặt trọng
tâm vào những sản phẩm hàng hóa có giá bán thấp, nhng định chiến lợc dài
hạn cần phải chú ý tới thị trờng của các địa phơng khác và tới thị trờng quốc
tế
Các DNVVN ở Việt Nam hiện nay để tiếp cận với thị trờng quốc tế còn
phải khắc phục nhiều hạn chế nh : hạn chế về công nghệ dẫn đến mẫu mã
hàng hoá xuất khẩu không đa dạng, chất lợng thấp; khả năng tiếp thị kém, rất
ít doanh nghiệp giao dịch đợc trên mạng, giới thiệu chào hàng trên Iternet,
tham gia hội chợ triển lãm. Khi ký hợp đồng xuất khẩu thiếu thông tin, thờng
bị ép giá hoặc xuất khẩu qua các đối tác trung gian nên không bán đợc giá
cao, hiệu quả xuất khẩu thấp; thiếu am hiểu luật pháp quốc tế và tập quán th-
ơng mại quốc tế chịu nhiều thua thiệt trong quá trình tiếp cận thị trờng nớc
11
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại SGD NHN0 & PTNTVN
ngoài (trờng hợp bị mất thơng hiệu của một số nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng),
bị cạnh tranh không lành mạnh bởi chính các nhà sản xuất tại thị trờng xuất
khẩu của nớc đó (trờng hợp cá Tra xuất khẩu sang Mỹ).
* Trong những khó khăn nêu trên, thiếu vốn là nguyên nhân căn bản vì
DNVVN hạn hẹp về vốn đa tới năng lực kinh doanh bị hạn chế. Và thực lực
kinh tế yếu nên khả năng vay vốn lại càng khó khăn. bên cạnh đó môi trờng
thể chế, chính sách kinh tế còn nhiều khiếm khuyết không tạo điều kiện bảo
vệ và bảo đảm cho sự phát triển của khu vực này. trong đó cơ chế chính sách
về tín dụng ngân hàng, kể cả những vấn đề cụ thể về nghiệp vụ ngân hàng còn
đang cản trở cho việc vay vốn tín dụng của các DNVVN. Do vậy các DNVVN
phát triển hoàn toàn cha có định hớng và cha đợc hỗ trợ nhiều từ phía nhà nớc
nh các doanh nghiệp lớn khác.
3. Vai trò và tác động kinh tế - xã hội của DNVVN
Nh vậy, mặc dù có những thế bất lợi nhất định, nhng do đặc điểm, tính chất
và lợi thế của chúng, nên các DNVVN có vị trí, vai trò và tác động kinh tế
xã hội rất lớn.
Thứ nhất : các DNVVN có vị trí rất quan trọng ở chỗ, chúng chiếm đa số
về mặt số lợng trong tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày càng gia
tăng mạnh. ở hầu hết các nớc, số lợng các DNVVN chiếm khoảng trên dới
90% tổng số các doanh nghiệp. Tốc độ gia tăng số lợng các DNVVN nhanh
hơn số lợng các DNL.
ở nớc ta hiện nay, Theo số liệu thống kê, tính đến hết tháng 4/2002 ,
Việt Nam có 81.584 doanh nghiệp đợc thành lập với tổng số vốn là trên
70000 tỷ đồng Trong đó nếu theo Nghị định 90 của Chính phủ về DNVVN thì
97,8% doanh nghiệp dới 300 lao động , 95,6% doanh nghiệp có vốn dới 10 tỷ
đồng, có nghĩa là đại bộ phận doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ.
Doanh nghiệp quy mô lớn không nhiều, chỉ có 0,6% số doanh nghiệp
có từ 1000 lao động trở lên và gần 0,4% số doanh nghiệp có vốn từ 500 tỷ
đồng trở lên, những doanh nghiệp này thờng là doanh nghiệp Nhà nớc và
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.

Thứ hai : các DNVVN có vai trò quan trọng trong sự tăng trởng của nền
kinh tế. Chúng đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân
của các nớc trên thế giới, bình quân chiếm khoảng trên dới 50% GDP ở mỗi n-
ớc. ở Việt Nam, theo đánh giá của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, thì
hiện nay, khu vực DNVVN của cả nớc chiếm khoảng 24% GDP.(theo Báo cáo
12
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại SGD NHN0 & PTNTVN
Hoàn thiện các chính sách kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục hành chính để thúc
đẩy phát triển các DNVVN ở Việt Nam trong khuôn khổ dự án
UNIDO_MPI_US/VIE/95/004, tr. 5 )
(1)

Thứ ba : Tác động kinh tế- xã hội lớn nhất của các DNVVN là giải quyết
một lợng lớn chỗ làm việc cho dân c, làm tăng thu nhập cho ngời lao động,
góp phần xoá đói giảm nghèo. Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm và thu
nhập cho ngời lao động, thì khu vực này vợt trội hơn hẳn các khu vực khác,
góp phần giải quyết nhiều vấn đề bức xã hội bức xúc. ở hầu hết các nớc,
DNVVN tạo công ăn việc làm cho khoảng 50-80% lao động trong các ngành
công nghiệp và dịch vụ. Đặc biệt, trong nhiều thời kỳ, các DNL sa thải công
nhân thì khu vực DNVVN lại thu hút thêm nhiều lao động hoặc có tốc độ thu
hút lao động mới cao hơn khu vc DNL. ở Việt Nam , cũng theo đánh giá của
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW, thì số lao động của các DNVVN trong
các lĩnh vực phi nông nghiệp hiện có khoảng 7,8 triệu ngời, chiếm tới 79,2%
tổng số lao động- phi nông nghiệp và chiếm khoảng 22,5% lực lợng lao động
của cả nớc.( theo nh
(1)
, tr.6)

Thứ t : Các DNVVN góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị
trờng. do lợi thế của qui mô nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh
doanh , cùng với các hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn
hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp với đòi hỏi uyển chuyển của nền kinh
tế thị trờng , cho nên các DNVVN có vai trò to lớn góp phần làm năng động
nền kinh tế trong cơ chế thị trờng. Một số nớc nh Đài Loan, vừa qua ít chịu
ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, chủ yếu là dựa vào
DNVVN. Đối với DNL, DNVVN cũng có thể làm đại lý, vệ tinh, tiêu thụ
hàng hoá hoặc cung cấp các vật t đầu vào với giá rẻ hơn, do đó góp phần hạ
giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất cho DNL.

Thứ năm : DNVVN phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Khu
vực DNVVN thu hút đợc khá nhiều vốn ở trong dân. Do tính chất nhỏ lẻ, dễ
phân tán đi sâu vào các ngõ, ngách, bản, làng và yêu cầu số lợng vốn ban đầu
không nhiều, cho nên các DNVVN có vai trò và tác dụng rất lớn trong việc
thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân c đầu t vào sản
xuất - kinh doanh. Chúng tự tạo lập dần tập quán đầu t vào sản xuất kinh
doanh và hình thành khu vực mồi cho việc thực hiện có kết quả vấn đề huy
động vốn của dân c theo Luật Khuyến khích đầu t trong nớc.
13
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại SGD NHN0 & PTNTVN
ở Việt Nam , đối với những ngành nghề thủ công nh mây tre nan, gốm sứ mỹ
nghệ, dệt may, cói xuất khẩu thì quy mô lớn không hiệu quả bằng các quy mô
nhỏ và vừa các DNVVN có thể huy động các nguồn tài chính , nhân lực,
nguyên liệu, vật liệu ngay tại từng địa phơng đa vào sản xuất , phát triển kinh
tế vùng, khai thác hợp lý những nguồn lực sẵn có. Ngoài ra, những ngành mà
nớc ta có lợi thế cạnh tranh từ giá thành sức lao động (nh may mặc, chế biến l-
ơng thực, thực phẩm, thuỷ hải sản, giày dép) đều là những ngành không có lợi
ích từ quy mô lớn. Vì vậy, trong một nớc nông nghiệp , với nền sản xuất nhỏ,
mô hình DNVVN là sự lựa chọn đúng đắn cho hiệu quả kinh tế , là bớc phát
triển tất yếu đa đất nớc phát triển theo định hớng CNH, HĐH.

Thứ sáu : các DNVVN có vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế , đặc biệt với khu vực nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời
thúc đẩy các ngành thơng mại- dịch vụ phát triển. Sự phát triển của các
DNVVN ở thành thị cũng góp phần làm tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp,
dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế
quốc dân. các DNVVN còn đóng vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi và
đa dạng hóa cơ cấu công nghiệp.

Thứ bảy: các DNVVN góp phần đáng kể vào việc thực hiện đô thị hoá phi
tập trung và thực hiện phơng châm ly nông bất ly hơng. Sự phát triển của
các DNVVN ở nông thôn sẽ thu hút những ngời lao động thiếu hoặc cha có
việc làm và có thể thu hút số lợng lớn lao động thời vụ trong các kỳ nông nhàn
vào hoạt động sản xuất kinh doanh , rút dần lực lợng lao động làm nông
nghiệp chuyển sang làm công nghiệp, dịch vụ nhng vẫn sống ngay tại quê h-
ơng bản quán, không phải di chuyển đi xa, thực hiện đợc phơng châm ly
nông bất ly hơng. Đồng hành với nó là diễn ra xu hớng hình thành những khu
vực khá tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ nhỏ ngay ở nông thôn, tiến
dần lên hình thành những thị tứ, thị trấn, là hình thành các đô thị nhỏ đan xen
giữa những làng quê, là quá trình đô thị hoá phi tập trung.

Thứ tám: các DNVVN là nơi ơm mầm các tài năng kinh doanh , là nơi
đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp. Kinh doanh qui mô nhỏ sẽ là nơi
đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp làm quen với môi trờng kinh doanh.
Bắt đầu từ kinh doanh qui mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh
qui mô vừa và nhỏ, một số nhà doanh nghiệp sẽ trởng thành lên thành những
nhà doanh nghiệp lớn, tài ba, biết đa doanh nghiệp của mình nhanh chóng
phát triển . Các tài năng kinh doanh sẽ đợc ơm mầm từ trong các DNVVN .
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét