Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

một số vấn đề về công tác thu bảo hiểm xã hội ở cơ quan bảo hiểm xã hội huyện gia lộc


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số vấn đề về công tác thu bảo hiểm xã hội ở cơ quan bảo hiểm xã hội huyện gia lộc": http://123doc.vn/document/1053282-mot-so-van-de-ve-cong-tac-thu-bao-hiem-xa-hoi-o-co-quan-bao-hiem-xa-hoi-huyen-gia-loc.htm


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Gvhd: Th.S Nguyễn Thị Lệ Huyền
là một chính sách mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, sự tồn tại rộng rãi
và lâu dài đã minh chứng đây là một chính sách cần thiết cho mọi xã hội.
1.2 Bản chất của BHXH.
Nói tới BHXH, có nhiều khái niệm khác nhau. Nhng có một khái niệm
chung nhất về BHXH nh sau: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập đối với ngời lao động khi họ gặp những biến cố làm giảm
hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng
quỹ tiền tệ tập trung nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Với cách hiểu nh trên, bản chất của BHXH đợc thể hiện ở những nội
dung sau đây:
Thứ nhất, BHXH là nhu cầu khách quan đa dạng và phức tạp của xã
hội nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị tr-
ờng, mối quan hệ thêu mớn lao động phát triển đến một mức độ nào đó.
Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể
nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vợt quá trạng thái kinh
tế của mỗi nớc. BHXH nhằm đảm bảo an toàn về kinh tế, giữ cho cuộc sống
ổn định, an toàn, tránh đợc đói nghèo sa sút khi bị mất nguồn thu nhập
trong cuộc sống. Theo tổ chức lao động thì BHXH đảm bảo đảm trợ cấp
cho 9 chế độ đợc nêu trong công ớc 102 (6/1952) chế độ này hình thành hệ
thống các chế độ BHXH. Tuỳ theo điều kiện kinh tế-xã hội mà mỗi nớc
tham gia công ớc thực hiện khuyến nghị đó ở mỗi mức độ khác nhau. Mỗi
chế độ trong hệ thống trên khi xây dựng đều phải dựa trên cơ sở kinh tế
xã hội, tài chính, thu nhập, tiền lơng, tuổi thọ bình quân, xác suất rủi ro.
Vậy có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH.
Thứ hai, BHXH là mối quan hệ giữa ba bên: bên tham gia BHXH,
bên đợc BHXH và bên BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là ngời lao
động hoặc cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Bên BHXH (bên
nhận nhiệm vụ BHXH) thông thờng là cơ quan chuyên trách do nhà nớc lập
ra và bảo trợ. Bên đợc BHXH là ngời lao động và gia đình họ khi có đầy đủ
các điều kiện ràng buộc cần thiết. BHXH đợc xem nh là một loạt các hoạt
Svth: Nguyễn Thị Nguyệt Lớp: Bảo hiểm 44A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Gvhd: Th.S Nguyễn Thị Lệ Huyền
động mang tính xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho ngời dân và làm lành
mạnh xã hội. Thông qua đó, bảo vệ và phát triển nguồn lao động xã hội, mở
rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã hội nói chung. BHXH
mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc vì lợi ích con ngời trong hoàn cảnh
khó khăn, vì an toàn xã hội và có ý nghĩa xã hội lâu dài.
Thứ ba, những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ
quan của con ngời nh ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hoặc
có những trờng hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên nh tuổi già, thai
sản Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình
lao động. Quỹ BHXH sẽ trợ cấp cho những gặp biến cố đó. BHXH cũng có
thể coi là sự san sẻ rủi ro, sự gắn kết quyền lợi và trách nhiệm của các cá
nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội đối với mỗi ngời lao động.
Thứ t, về mặt kinh tế phần thu nhập của ngời lao động giảm hoặc mất
khi gặp phải những biến cố, rủi ro thì họ sẽ bù đắp hoặc thay thế từ một
nguồn quỹ tiền tệ tập trung đợc tồn tích lại. Nguồn quỹ này bên tham gia
BHXH đóng góp là chủ yếu ngoài ra còn có sự hỗ trợ từ phía Nhà nớc. Nh
vậy BHXH là sự đảm bảo kinh tế cho ngời lao động.
Thứ năm, mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn nhu cầu thiết yếu
của ngời lao động trong trờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm.
Mục tiêu này đợc tổ chức ILO cụ thể hoá nh sau:
- Đền bù cho ngời lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo
nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
- Chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật.
- Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu đặc biệt của ngời già,
ngời tàn tật và trẻ em.
Nh vậy, BHXH không thể tách khỏi một thể chế chính trị nhất định
và phải dựa trên nền tảng cụ thể. BHXH không phải là một loại hình bảo
hiểm cá nhân hay cá nhân tự bảo hiểm mà nó là sự bảo hiểm đặt trong mối
quan hệ nhất định trong cộng đồng mặc dù xuất phát điểm bao giờ cũng là
Svth: Nguyễn Thị Nguyệt Lớp: Bảo hiểm 44A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Gvhd: Th.S Nguyễn Thị Lệ Huyền
nhu cầu của mỗi con ngời. Về mặt lợi ích xã hội thì BHXH góp phần đảm
bảo ổn định tình hình chính trị trật tự an toàn xã hội, giáo dục cho họ ý thức
tiết kiệm và lợi ích. Đó là những lợi ích lâu dài của xã hội.
1.3 Đối tợng của BHXH.
BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất
đi do ngời lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các
nguyên nhân nh ốm đau, tai nạn, già yếu Chính vì vậy, đối t ợng của
BHXH chính là thu nhập của ngời lao động bị biến động giảm hoặc mất khả
năng lao động, mất việc làm của những ngời tham gia BHXH.
Cần phân biệt đối tợng này với đối tợng tham gia BHXH. Đối tợng
tham gia BHXH là ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Tuy vậy, tuỳ
điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nớc mà đối tợng này có thể là
tất cả hoặc một bộ phận những ngời lao động nào đó. Hầu hết các nớc khi
mới có chính sách BHXH, đều thực hiện chính sách BHXH đối với các viên
chức Nhà nớc, những ngời làm công ăn lơng. ở Việt Nam BHXH là chính
sách của Đảng, Nhà nớc do đó đối tợng tham gia của BHXH là những đối t-
ợng đợc điều chỉnh theo Luật Lao động và Điều lệ BHXH của Chính phủ.
Đó là các đối tợng làm công ăn lơng trong các tổ chức chính trị xã hội, các
doanh nghiệp thuộc mọi loại hình, họ đóng BHXH với tỷ lệ phần trăm nhất
định theo lơng của từng ngời cộng thêm với sự tham gia của ngời chủ sử
dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nớc. Ngoài các đối tợng đó thì đối tợng
thuộc diện u đãi xã hội, đối tợng có công với tổ quốc cũng là đối tợng tham
gia BHXH.
Đối tợng đợc hởng BHXH rất đa dạng đó có thể là bản thân ngời
tham gia trong trờng hợp ốm đau hay không may gặp rủi ro trong quá trình
lao động, lao động nữ sinh đẻ, lao động hết tuổi lao động hoặc có thể là
những ngời thân trong gia đình của ngời tham gia nếu ngời tham gia không
may bị chết.
Svth: Nguyễn Thị Nguyệt Lớp: Bảo hiểm 44A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Gvhd: Th.S Nguyễn Thị Lệ Huyền
1.4 Chức năng của BHXH.
Thứ nhất, đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngời
lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm, mất khả năng lao động,
mất việc làm. Sự đảm bảo thay thế, bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy
cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi ngời lao động khi
hết tuổi lao động theo điều kiện của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả
năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, ngời lao động cũng sẽ
đợc hởng trợ cấp BHXH với mức hởng phụ thuộc vào các điều kiện cần
thiết, thời điểm và thời hạn đợc hởng phải đúng theo quy định. Khi ngời lao
động đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ (đóng BHXH theo luật định) thì
họ có quyền nhận trợ cấp BHXH khi phát sinh những rủi ro ốm đau, tai nạn
lao động và bệnh nghề nghiệp, tuổi già hoặc chết đã làm thu nhập của họ
giảm hoặc mất hẳn. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết
định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
Thứ hai, tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những
ngời tham gia BHXH. Tham gia BHXH bao gồm những ngời lao động và
ngời sử dụng lao động, họ thuộc tất cả những ngành nghề lĩnh vực hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Các bên tham gia đều phải
đóng góp vào quỹ BHXH, quỹ này dùng để trợ cấp cho một số ngời lao
động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lợng những ngời này
chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số ngời tham gia BHXH. Nh vậy, theo quy luật
số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc
và chiều ngang. Phân phối lại giữa những ngời khoẻ mạnh đang làm việc
với những ngời ốm yếu phải nghỉ việc Thực hiện chức năng này có nghĩa
là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Thứ ba, góp phần tạo ra tinh thần san sẻ, tơng trợ nhóm ngời lao
động. Ngời lao động hàng tháng chỉ phải trích một tỷ lệ nhỏ từ thu nhập
đóng cho quỹ BHXH, nhng với số đông ngời tham gia sẽ có một nguồn tiền
đủ lớn để trang trải cho những ngời không may gặp rủi ro. Góp phần kích
thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao
Svth: Nguyễn Thị Nguyệt Lớp: Bảo hiểm 44A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Gvhd: Th.S Nguyễn Thị Lệ Huyền
động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia lao
động sản xuất, ngời lao động đợc chủ sử dụng lao động trả tiền lơng hoặc
tiền công. Khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế,
cuộc sống của họ và gia đình họ luôn đợc đảm bảo ổn định và có chỗ dựa.
Do đó, ngời lao động luôn yên tâm, tận tình với công việc, với nơi làm việc.
Từ đó, họ rất tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng xuất lao động và
hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu hiện nh một đòn bẩy kinh tế kích
thích ngời lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là
năng suất lao động xã hội.
Thứ t, BHXH gắn bó lợi ích giữa ngời lao động với ngời sử dụng lao
động, giữa ngời lao động với xã hội. Trong thực tế ngời lao động và ngời sử
dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nhất định về tiền lơng, tiền công,
thời gian lao động Thông qua BHXH những mâu thuẫn đó sẽ đ ợc điều
hoà và giải quyết. Đặc biệt, cả hai đều nhờ có BHXH mà có lợi và đợc bảo
vệ. Bởi vì thông qua quỹ tiền tệ tập trung mà ngời lao động và chủ sử dụng
lao động đóng góp thì rủi ro, bất lợi của ngời lao động đợc dàn trải đảm bảo
cuộc sống ổn định và giới chủ cũng thấy mình có lợi, tránh đợc những xáo
trộn ảnh hởng đến quá trình kinh doanh vì phải chi ra những khoản tiền lớn
mà họ không muốn do rủi ro xảy ra đối với ngời lao động. Từ đó giúp họ
hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích với nhau. Đối với Nhà nớc và xã hội, nguồn
quỹ BHXH nhàn rỗi đợc đem đi đầu t sinh lợi vừa góp phần tăng sự tích luỹ
cho nguồn quỹ vừa là nguồn đầu t cho nền kinh tế đang lớn mạnh rất cần
nguồn vốn. BHXH chính là góp phần ổn định, tạo sự phát triển bền vững
cho từng doanh nghiệp, góp phần xoá đói giảm nghèo, và là nền tảng vững
chắc cho sự ổn định chính trị xã hội, phát triển kinh tế.
1.5 Tính chất của BHXH.
BHXH gắn liền với đời sống của ngời lao động, vì vậy có một số tính
chất cơ bản sau đây:
Svth: Nguyễn Thị Nguyệt Lớp: Bảo hiểm 44A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Gvhd: Th.S Nguyễn Thị Lệ Huyền
Thứ nhất, đó là tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Trong
quá trình lao động sản xuất ngời lao động có thể gặp những biến cố rủi ro,
khi đó ngời sử dụng lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn không kém
nh: sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng và hợp đồng lao
động luôn phải đợc đặt ra để thay thế Sản xuất càng phát triển, những rủi
ro đối với ngời lao động và những khó khăn đối với ngời sử dụng lao động
càng nhiều và trở lên phức tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ-thợ ngày càng căng
thẳng. Để giải quyết vấn đề này, Nhà nớc phải đứng ra can thiệp thông qua
BHXH. Và nh vậy, BHXH ra đời hoàn toàn mang tính chất khách quan trong
đời sống kinh tế xã hội của mỗi nớc.
Thứ hai, BHXH có tính chất ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều
theo thời gian và không gian. Tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi
nớc triển khai BHXH vào mỗi thời điểm nhất định, những nớc có nền kinh
tế phát triển sản xuất hàng hoá ra đời sớm thì BHXH cũng ra đời sớm hơn.
Mặt khác, mỗi quốc gia thực hiện BHXH khác nhau về số lợng các chế độ
cũng nh quy định cụ thể trong từng chế độ. Việc trợ cấp BHXH cho các chế
độ có lúc nhiều, lúc ít, có lúc dồn dập và có lúc lại không có.
Thứ ba, BHXH vừa mang tính kinh tế, tính xã hội, đồng thời còn có
tính dịch vụ. Tính kinh tế thể hiện rõ nhất ở chỗ, quỹ BHXH muốn đợc hình
thành, bảo toàn và tăng trởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và
phải đợc quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích. Mức đóng góp của các
bên phải đợc tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất rủi ro phát sinh thiệt hại
của tập hợp ngời lao động tham gia BHXH. Quỹ BHXH chủ yếu dùng để
trợ cấp cho ngời lao động theo các điều kiện của BHXH. Thực chất phần
đóng góp của mỗi ngời lao động là không đáng kể, nhng quyền lợi nhận đ-
ợc là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với ngời sử dụng lao động việc tham gia
đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho ngời lao động mà họ sử dụng.
Xét dới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền
lớn để trang trải cho ngời lao động bị mất, giảm khả năng lao động. Với
Svth: Nguyễn Thị Nguyệt Lớp: Bảo hiểm 44A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Gvhd: Th.S Nguyễn Thị Lệ Huyền
Nhà nớc BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách đồng thời
quỹ BHXH còn là nguồn đầu t đáng kể cho nền kinh tế quôc dân.
BHXH là bộ phận của hệ thống an sinh xã hội, vì vậy tính xã hội của
nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu dài, mọi ngời trong xã hội có quyền tham gia
BHXH. Và ngợc lại, BHXH phải có trách nhiệm BHXH cho mọi ngời lao
động và gia đình họ. Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ
của nó. Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính
chất xã hội hoá của nó ngày càng cao.
II. Những quan điểm cơ bản về BHXH và sơ lợc lịch
sử phát triển của BHXH
1. Quan điểm cơ bản về BHXH.
Khi thực hiện BHXH, các nớc đều phải lựa chọn hình thức, cơ chế và
mức độ thoả mãn các nhu cầu BHXH phù hợp với tập quán, khả năng trang
trải và định hớng phát triển kinh tế xã hội của nớc mình. Đồng thời, phải
nhận thức thống nhất các quan điểm về BHXH sau đây:
a. Chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là bộ phận quan
trọng của chính sách xã hội.
Mục đích chủ yếu của chính sách này nhằm đảm bảo đời sống cho
ngời lao động và gia đình họ, khi ngời lao động bị giảm hoặc mất thu nhập
do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm. ở nớc ta BHXH nằm
trong hệ thống các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nớc. Thực chất, đây
là một trong những loại chính sách đối với con ngời nhằm đáp ứng một
trong những quyền và nhu cầu hiển nhiên của con ngời, nhu cầu an toàn về
việc làm, an toàn lao động, an toàn xã hội Chính sách BHXH còn thể
hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và
quản lý quốc gia. Trong một chừng mực nhất định, nó còn thể hiện tính u
việt của một chế độ xã hội. Nếu tổ chức thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ
là một động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của ngời lao động trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.
Svth: Nguyễn Thị Nguyệt Lớp: Bảo hiểm 44A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Gvhd: Th.S Nguyễn Thị Lệ Huyền
b. Ngời sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho
ngời lao động.
Ngời sử dụng lao động thực chất là các tổ chức, các doanh nghiệp và
các cá nhân có thuê mớn lao động. Họ phải có nghĩa vụ đóng góp và quỹ
BHXH và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với ngời
lao động mà mình sử dụng theo đúng pháp luật quy định. Ngời sử dụng lao
động muốn ổn đinh và phát triển kinh doanh thì ngoài việc phải chăm lo
đầu t để có máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo
tay nghề và đời sống cho ngời lao động mà mình sử dụng. Chủ sử dụng
ngoài việc trả lơng theo thoả thuận cho ngời lao động còn phải có trách
nhiệm BHXH cho họ để đảm bảo cuộc sống ổn định cho ngời lao động. Chỉ
có nh vậy, ngời lao động mới yên tâm, tích cực lao động sản xuất, phát huy
sáng kiến cải tiến kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng
hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
c. Ngời lao động đợc bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối với
BHXH, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.
Điều đó có nghĩa là mọi ngời lao động trong xã hội đều đợc hởng
BHXH nh tuyên ngôn nhân quyền đã nêu, đồng thời bình đẳng về nghĩa vụ
đóng góp và quyền lợi trợ cấp BHXH. Ngời lao động khi gặp rủi ro không
mong muốn và không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của ngời khác thì
trớc hết đó là rủi ro của bản thân. Vì thế, nếu muốn đợc BHXH tức là muốn
nhiều ngời khác hỗ trợ cho mình là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều ngời
khác thì tự mình phải gánh chịu trực tiếp và trớc hết. Điều đó có nghĩa là
bản thân ngời lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm
cho mình.
Tuy nhiên, nghĩa vụ và quyền lợi của ngời lao động về BHXH còn
tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, vào các mối quan hệ kinh tế,
chính trị, xã hội và lịch sử mỗi quốc gia. Nhìn chung, khi sản xuất phát
triển, kinh tế tăng trởng, chính trị xã hội ổn định thì ngời lao động tham gia
và đợc hởng trợ cấp BHXH ngày càng đông.
Svth: Nguyễn Thị Nguyệt Lớp: Bảo hiểm 44A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Gvhd: Th.S Nguyễn Thị Lệ Huyền
d. Mức trợ cấp BHXH phụ thuộc vào các yếu tố.
- Tình trạng mất khả năng lao động.
- Tiền lơng lúc đang đi làm.
- Tuổi thọ bình quân của ngời lao động.
- Điều kiện kinh tế xã hội của đất nớc trong từng thời kỳ.
Tuy nhiên, về nguyên tắc mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức lơng lúc
đang đi làm, nhng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu.
Quan điểm này vừa phản ánh tính cộng đồng xã hội, vừa phản ánh
nguyên tắc phân phối lại quỹ BHXH cho ngời lao động tham gia BHXH.
Trợ cấp BHXH là loại trợ cấp thay thế tiền lơng. Mà tiền lơng là khoản tiền
mà ngời sử dụng lao động trả cho ngời lao động khi họ thực hiện những
công việc hoặc định mức công việc nào đó. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay
tuổi già không làm việc đợc mà trớc đó có tham gia BHXH thì chỉ có trợ
cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lơng mà lao động trớc đó tạo
ra đợc. Nếu mức trợ cấp bằng hoặc cao hơn tiền lơng thì không một ngời
lao động nào phải cố gắng tìm việc làm và tích cực làm việc để có lơng mà
ngợc lại sẽ lợi dụng BHXH để đợc nhận trợ cấp. Hơn nữa cách lập quỹ
BHXH theo phơng thức dàn trải rủi ro cũng không cho phép trợ cấp BHXH
bằng tiền lơng lúc đang đi làm. Và nh vậy thì chẳng khác gì ngời lao động
bị rủi ro, qua rủi ro của mình dàn trải hết cho ngời khác.
Nh vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi
làm. Tuy nhiên, do mục đích bản chất và phơng thức BHXH thì mức trợ cấp
thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức tối thiểu.
e. Nhà nớc quản lý thống nhất chính sách BHXH, tổ chức bộ máy
thực hiện chính sách BHXH.
BHXH là một bộ phận cấu thành các chính sách xã hội, nó vừa là
nhân tố ổn định, vừa là nhân tố động lực phát triển kinh tế xã hội. Chính vì
vậy, vai trò của Nhà nớc là rất quan trọng. Nếu không có sự can thiệp và
quản lý vĩ mô của Nhà nớc thì mối quan hệ giữa ngời lao động và ngời sử
Svth: Nguyễn Thị Nguyệt Lớp: Bảo hiểm 44A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Gvhd: Th.S Nguyễn Thị Lệ Huyền
dụng lao động sẽ không đợc duy trì bền vững, mối quan hệ ba bên trong
BHXH sẽ bị phá vỡ.
Đặc biệt, BHXH đợc thực hiện thông qua một quy trình, từ việc hoạch
định chính sách, đảm bảo trợ cấp đến việc xét trợ cấp Vì vậy Nhà n ớc quản
lý toàn bộ quy trình này, hay có những giới hạn mức độ và phạm vi.
Có thể khẳng định rằng việc hoạch định chính sách BHXH là khâu
đầu tiên và quan trọng nhất. Sự quản lý của Nhà nớc về vấn đề này thể hiện
ở việc xây dựng các dự án luật, các văn bản pháp quy về BHXH và ban
hành thực hiện. Sau đó là hớng dẫn, kiểm tra, thanh tra các tổ chức, cá nhân
thực hiện chính sách.
Đối với việc đảm bảo vật chất cho BHXH thì vai trò của Nhà nớc phụ
thuộc vào chính sách BHXH do Nhà nớc quy định. Có những mô hình về đảm
bảo vật chất cho BHXH do NSNN cung cấp thì vai trò quản lý Nhà nớc là trực
tiếp và toàn diện, nếu nguồn đảm bảo trợ cấp do ngời sử lao động, ngời lao
động và Nhà nớc đóng góp thì Nhà nớc tham gia quản lý.
Để quản lý BHXH, Nhà nớc sử dụng công cụ chủ yếu nh luật pháp và
bộ máy tổ chức. Nhìn chung, hầu hết các nớc trên thế giới, việc quản lý vĩ
mô BHXH đều đợc Nhà nớc giao cho Bộ Lao động hoặc Bộ xã hội trực tiếp
điều hành.
2. Sơ lợc lịch sử phát triển của BHXH.
2.1 Trên thế giới
BHXH ra đời vào những năm của thế kỷ XIV, khi nền công nghiệp
và kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ ở các nớc châu Âu. Sự hình thành
BHXH gắn với quá trình phát triển của của cách mạng Công nghiệp, khi mà
ngời nông dân thoát khỏi Nông nghiệp và các hình thức sản xuất tự cung tự
cấp để trở thành ngời làm công ăn lơng và lấy tiền lơng làm nguồn sống chủ
yếu. Vì vậy, khi mà họ nghỉ việc do ốm đau, thai sản, tuổi già thì cuộc
sống lập tức bị đe doạ và vấn đề này trở thành một yêu cầu, đòi hỏi Chính
phủ các nớc giải quyết. Năm 1850 ở các bang Đức đã hình thành quỹ bảo
hiểm ốm đau do công nhân tự nguyện đóng tiền để đợc bảo hiểm. Từ năm
Svth: Nguyễn Thị Nguyệt Lớp: Bảo hiểm 44A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét