LỜI NÓI ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển,chất lượng cuộc sống được cải thiện
khiến cho nhu cầu và thói quen tiêu dùng cũng có sự thay đổi, ngày nay
người mua hàng ko chỉ quan tâm đến chất lượng mà con quan tâm tới cả
hình thức, thương hiệu …để đáp ứng nhu cầu khách hàng,nhà sản xuất
không ngừng phát triển hình thức mẫu mã và quan tâm nhiều hơn đến thị
hiếu khán giả đi đôi với đó là chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng
cao. Có thể nói chất lượng sản phẩm là tiền đề thúc đẩy quảng cáo, và quảng
cáo đồng thời mang sản phẩm đến gần người tiêu dùng hơn
Một bộ quần áo sạch sẽ luôn mang lại tâm lý thật thoải mái cho
chúng ta mỗi khi giao tiếp,làm việc hay cả giải trí,tập luyện thể thao. Bột
giặt cũng ra đời vì nhu cầu làm sạch quần áo cho mọi người. Trong nước ta
có khá nhiều hãng bột giặt uy tín như Omo, Tide, Daso… Trong số
này,Omo là hãng bột giặt đứng đầu với chất lượng tốt và hoạt động quảng bá
thương hiệu,thu hút khách hàng với những chương trình tiếp thị hiệu qua
̉.Nội dung của hoạt động quảng cáo sản phẩm là những ưu việt của Omo về
tính an toàn và độ sạch khi giặt…. , cùng với hình thức quảng cáo bắt
mắt,bao bì thu hút…. Omo đã đến gần hơn với mỗi gia đình.
Sau đây chúng em sẽ vận dụng cặp phạm trù “ Nội dung – Hình thức” để
đánh giá sự hiệu quả của hoạt động này.Bài tiểu luận của chúng em sẽ được
chia làm 3 phần:
Phần I: Lý luận của triết học mác về cặp phạm trù “Nội dung – Hình
thức”
Phần II: Phân tích hoạt động quảng cáo của bột giặt Omo để thấy được
cặp phạm trù này
Phần III: Một số giải pháp cho hoạt động quảng cáo các sản phẩm trên
thị trường
Do đây là lần đầu tiên viết tiểu luận nên sẽ không tránh khỏi những
sai sót. Chúng em mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến cho chúng em.
NỘI DUNG
Phần I: Lý luận của Triết học Mác về cặp phạm trù "Nội dung - hình
thức"
1. Khái niệm về phạm trù:
Phạm trù trong chủ nghĩa duy vật biện chứng là những khái niệm chung
nhất, phản ánh những mặt những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và
phổ biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực.
2. Khái niệm Nội dung và hình thức
Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình
tạo nên sự vật. Còn hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật,
là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố đó.
VD: Nội dung của hoạt động quảng cáo là tổng hợp tất cả những yếu
tố vật chất như con người, đặc điểm sản phẩm cần quảng cáo…….Còn hình
thức của hoạt động quảng cáo là những kịch bản,nhân viên tiếp thị,phương
tiện truyền thông…… sử dụng để đưa sản phẩm tới gần người dân
Bất cứ sự vật nào cũng có hình thức bề ngoài của nó. Song phép biện
chứng duy vật chú ý chủ yếu đến hình thức bên trong của sự vật, nghĩa là cơ
cấu bên trong của nội dung.
Thí dụ, nội dung của hoạt động quảng cáo Omo là sự phản ánh những
mặt,yếu tố,quá trình tạo ra sản phẩm, còn hình thức bên trong của hoạt động
quảng cáo đó là thể loại, những phương tiện được sử dụng trong hoạt động
quảng cáo như công nghệ 3D ,tranh vẽ … Ngoài ra,hoạt động quảng cáo
còn có hình thức bề ngoài như những video clip,phông lớn, áp phích, băng
zôn,bao bì sản phẩm…
Trong cặp phạm trù nội dung và hình thức, phép biện chứng duy vật
chủ yếu muốn nói đến hình thức bên trong gắn liền với nội dung, là cơ cấu
của nội dung chứ không muốn nói đến hình thức bề ngoài của sự vật.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
a. Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức
Vì nội dung là những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự
vật, còn hình thức là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các
yếu tố của nội dung. Nên nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với
nhau trong một thể thống nhất. Không có hình thức nào tồn tại thuần tuý
không chứa đựng nội dung, ngược lại cũng không có nội dung nào lại không
tồn tạitrong một hình thức xác định. Nội dung nào có hình thức đó.
Nội dung và hình thức không tồn tại tách rời nhau, nhưng không phải
vì thế mà lúc nào nội dung và hình thức cũng phù hợp với nhau. Không phải
một nội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện ra trong một hình thức nhất
định, và một hình thức luôn chỉ chứa một nội dung nhất định, mà một nội
dung trong quá trình phát triển có thể có nhiều hình thức thể hiện, ngược lại,
một hìnhhệ thức có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau.
Thí dụ, quá trình quảng cáo một sản phẩm của hãng omo có thể bao gồm
những yếu tố nội dung giống nhau như: con người, công cụ, vật liệu…
nhưng cách tổ chức, phân công trong quá trình Tiếp thị,quảng cáo có thể
khác nhau. Như vậy, nội dung quá trình quảng cáo được diễn ra dưới những
hình thức khác nhau. Hoặc cùng một hình thức tổ chức quảng cáo như nhau
nhưng được thực hiện trong những loại bột giặt khác nhau, thì sẽ cho thông
tin về các sản phẩm khác nhau. Vậy là một hình thức có thể chứa đựng nhiều
nội dung khác nhau.
b. Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình vận
động phát triển của sự vật
Vì khuynh hướng chủ đạo của nội dung là biến đổi, còn khuynh hướng
chủ đạo của hình thức là tương đối bền vững, chậm biến đổi hơn so với nội
dung. Dưới sự tác động lẫn nhau của những mặt trong sự vật, hoặc giữ các
sự vật, với nhau trước hết làm cho các yếu tố của nội dung biến đổi trước;
còn những mối liên kết giữa các yếu tố của nội dung, tức hình thức thì chưa
biến đổi ngay, vì vậy hình thức sẽ trở nên lạc hậu hơn so với nội dung và sẽ
trở thành nhân tố kìm hãm nội dung phát triển. Do xu hướng chung của sự
phát triển của sự vật, hình thức không thể kìm hãm mãi sự phát triển của nội
dung mà sẽ phải thay đổi cho phù hợp với nội dung mới.
Ví dụ, Chất lượng và công dụng của gói bột giặt là nội dung của hoạt
động quảng cáo sản phẩm tuy vậy mỗi khi có phát minh mới để khách hàng
kịp thời cập nhật và mua hàng thì lại phải có những hình thức quảng cáo mới
. Như vậy sự biến đổi của nội dung quy định sự biến đổi của hình thức.
c. Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung
Hình thức do nội dung quyết định nhưng hình thức có tính độc lập
tương đối và tác động trở lại nội dung. Sự tác động của hình thức đến nội
dung thể hiện ở chỗ: Nếu phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ tạo điều kiện
thuận lợi thúc đẩy nội dung phát triển; nếu không phù hợp với nội dung thì
hình thức sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của nội dung.
Phần II: Thực tiễn áp dụng cặp phạm trù "Nội dung - hình
thức"trong vấn đề quảng cáo của OMO.
1.Quảng cáo là gì?
Quảng cáo là hình thức tuyên truyền, giới thiệu thông tin về sản phẩm,
dịch vụ, công ty hay ý tưởng, quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực
tiếp giữa người với người mà trong đó người muốn truyền thông phải trả tiền
cho các phương tiện truyền thông đại chúng để dưa thông tin đến thuyết
phục hay tác động đến người nhận thông tin
Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng
của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp
bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán.
Trên thế giới, quảng cáo hiện nay đã phát triển tới những trình độ cao, tuy
nhiên ở Việt Nam - do còn nhiều hạn chế - nên đa số các sản phẩm quảng
cáo vẫn còn ở trình độ thấp. Các sản phẩm quảng cáo để có thể đến với
khách hàng tiềm năng cần phải được truyền tải qua cac hương tiện truyền
thông, như: báo in, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, báo điện tử.
Thể loại
Quảng cáo thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như:
• Truyền hình
• Báo chí
• Internet
• Phát thanh
• Quảng cáo trực tuyến
• Quảng cáo qua bưu điện
• Quảng cáo trên các phương tiện vận chuyển
• Quảng cáo qua các trang vàng
• Quảng cáo trên tờ rơi, áp phích, pano hay băng-rôn
• Quảng cáo trên bao bì sản phẩm
• Quảng cáo qua gửi thư trực tiếp
• Quảng cáo truyền miệng
• Quảng cáo từ đèn LED
2. Biểu hiện của mối quan hệ Nội dung – hình thức trong hoạt động
quảng cáo Omo
Có nhiều góc độ để đánh giá một hoạt dộng quảng cáo nhưng nét
chung của giá trị mà hoạt động quảng cáo đem lại là:
Giá trị hữu hình: Tổng thu nhập từ sản phẩm được quảng cáo có hình
thức trong hoạt quảng cáo ăn khớp với nội dung cao hơn thu nhập của sản
phẩm cùng loại nhưng có hình thức trong hoạt động quảng cáo không ăn
khớp với nội dung.
Giá trị vô hình: Đi với sản phẩm không thể tính bằng tiền hoặc con số
cụ thể mà qua con đường quảng cáo nhu cầu của người tiêu dùng muốn trả
giá cao hơn cho sản phẩm có hoạt động quảng cáo tốt hơn so với các sản
phẩm khác dù chúng đều có chất lượng tương đương nhau.
Sự nhận thức về chất lượng: Nhận thức tổng quát của người tiêu dùng
về chất lượng và hình ảnh đối với sản phẩm. Qua nhiều năm tiếp thị, xây
dựng thương hiệu qua các hoạt động quảng cáo và sản xuất theo chất lượng.
Công ty Unilever đã hướng người tiêu dùng đến chỗ nhận thức rằng tất cả
các dòng sản phẩm OMO đều có chất lượng tuyệt hảo. Những ngày đầu xâm
nhập vào thị trường Việt Nam, OMO đã mở đầu bằng những mẩu quảng cáo
nêu bật tính năng tẩy vượt trội của mình. TVC (television commercial –
Phim quảng cáo) đặc trưng nhất là phỏng vấn người tiêu dùng về những trải
nghiệm của họ khi dùng bột giặt OMO. Bên cạnh đó Unilever cũng sản xuất
ra OMO với chất lượng đúng hoặc thậm chí còn cao hơn cam kết. Kết quả
hầu hết người tiêu dùng đã nhớ nằm lòng thương hiệu OMO.
Từ đây có thể thấy,yếu tố Nội dung trong hoạt động quảng cáo có vai trò
chủ đạo,nội dung là bột giặt Omo có sức giặt tẩy mạnh mẽ đi còn hình thức
gồm các các hoạt động tiếp thị,quảng cáo phù hợp với nội dung cần trình
bày.Cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa Nội dung – Hình thức. Nội dung –
Hình thức 0 bao giờ tách rời nhau.Vì nếu sự thật Omo không giặt tẩy tốt thì
dù hình thức quảng cáo có công phu và tốn kém,người tiêu dùng vẫn sẽ quên
lãng thậm chí tẩy chay sản phẩm nếu Nội dung quảng cáo sản phẩm lệch với
Hình thức quảng cáo sản phẩm.
Nhớ những ngày đầu tiên xâm nhập thị trường Việt Nam, Omo mở đầu
bằng những mẩu quảng cáo nêu bật tính năng giặt tẩy vượt trội của mình.
TVC đặc trưng nhất là phỏng vấn người tiêu dùng về những trải nghiệm của
họ khi dùng bột giặt Omo. Hình như Unilever rất kết hình thức này nên “tra
tấn” khán giả trong một thời gian dài làm họ ớn tới tận cổ nhưng kể ra cũng
khá “hiệu nghiệm”. Hầu hết người tiêu dùng đều nhớ nằm lòng nhãn hiệu
Omo. Khi nhãn hiệu Tide của kỳ phùng địch thủ P&G chính thức bước vào
thị trường thì cuộc đua giành vị trí trong tâm trí người tiêu dùng bắt đầu đến
hồi….gay cấn. Kết hợp với quảng bá trên truyền hình, báo chí…hai hãng
bột giặt cùng bước vào cuộc cạnh tranh. Lúc này omo đã chọn 1 hướng định
vị mới trong tâm trí ng tiêu dùng với thông điệp : Omo – chuyên gia giặt tẩy
vết bẩn. Chiến lược này thực sự đã thành công vì khi nghĩ đến Omo. người
ta nghĩ ngay đến đặc tính “trắng sạch”. Năm 2002 đánh dấu sự ra đời của
một chương trình thành công của Omo, được dân trong nghề đánh giá cao là
chương trình “Omo áo trắng ngời sáng tương lai”. Chương trình này vẫn
được duy trì đế tận bây giờ vì nó vẫn tiếp tục đem lại hiệu quả tiếp thị lớn.
Từ cuối năm 2005 chúng ta được chứng kiến một bước chuyển mình mới
của Omo với chiến lược Tiếp thị hướng về cộng đồng. OMO thực sự định vị
trên một tầm cao mới. Bà Nguyễn Thị Mai, brand manager của Omo cho
chúng ta biết: “Omo đựơc định vị dựa trên việc khai thác sự trải nghiệm và
phát triển của trẻ em. Tất cả mọi hoạt động của Omo đều hướng đến mục
tiêu định vị này”.
Để đi vào lòng người,Omo đã liên tục thay đổi các hình thức quảng cáo
nhưng vẫn thể hiện được rõ rệt Nội dung mà Unilever muốn truyền tải tới
người tiêu dùng.Một nội dung được chứa đựng trong nhiều hình thức,để giới
thiệu về tính Trắng sạch của sản phẩm.Omo đã sử dụng nhiều hoạt động
quảng cáo với hình thức sinh động và hiệu quả.Dù nội dung chưa thay đổi
nhưng trong chiến dịch world cup năm 2006,Omo đã sử dụng hình ảnh cầu
thủ Ronaldinho để quảng bá hình ảnh của sản phẩm tăng doanh thu của hãng
bột giặt của mình.Cho thấy Hình thức do nội dung quyết định nhưng hình
thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung. Hình thức có phù
hợp thì mới thúc đẩy cho sự phát triển của nội dung. Một ví dụ khác nữa của
omo cho thấy sự tác động trở lại của hình thức lên nội dung đó là việc mới
đây,omo đã thay đổi mẫu bao bì của sản phẩm để tạo sự thuận tiện của các
bà nội trợ khi họ chỉ cần dùng tay cũng có thể bóc túi bột giặt ra dùng.
Dù chưa cải tiến Nội dung quảng cáo bột giặt nhưng việc thay đổi Hình thức
của nó khiến Omo có thêm một hoạt động quảng cáo thành công nữa.Cũng
giống như việc nếu áp dụng hình thức quảng cáo cũ để tiếp thị sản phẩm mới
cũng sẽ không tạo được sức hút.
3.Hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những thắng lợi đạt được, dường như Omo cũng có một vài
bước đi hơi bị …hụt chân. Tiêu biểu là event gần đây nhất của dòng “Omo
tẩy an toàn” với việc giặt sạch chiếc áo ngắn tay khổng lồ trên sân vận động
Quân khu 7. Đây là một chương trình hoành tráng rất tốt kém nhưng lại
“được” dư luận đánh giá không cao mấy. Âu cũng là bài học cho Unilever
và cho cả chúng ta, đó là phải cân nhắc thật kỹ yếu tố văn hoá khi tổ chức
một hoạt động marketing, hãy nghĩ theo nếp nghĩ của người Việt. Người
Việt theo truyền thống của người Á Đông đa số không thích những gì giật
gân phi thực tế nên việc may chiếc áo đó là một sự xa xỉ không cần thiết. Rất
may Unilever đã “chữa cháy” kịp thời bằng việc cắt chiếc áo ra làm nhiều
mảnh để may áo tặng trẻ em nghèo nên đã tự cứu mình một bàn thua trông
thấy. Có lẽ chương trình này được tổ chức ở một nước phương Tây nào đó
thì sẽ rất thành công nhưng ở Việt Nam khi vẫn còn tồn tại cách nhìn nhận,
đánh giá khá chặt chẽ và bảo thủ trong dư luận thì rõ ràng việc tổ chức hoạt
động này là một điều chưa hoàn toàn phù hợp. Cũng là một ví dụ cho sự tác
động trở lại của hình thức với nội dung.
Phần III: Một số giải pháp cho hoạt động quảng cáo các sản phẩm trên thị
trường
Để nâng tầm cho hoạt động quảng cáo sản phẩm omo cũng như các sản
phẩm khác ta cần tìm hiểu kỹ về:
1,Sự thật về quảng cáo
Quảng cáo là một mắt xích trong tiến trình marketing và là công cụ quan
trọng để truyền đạt thông điệp thương hiệu đến người tiêu dùng. Tuy nhiên
không thể có sự lẫn lộn giữa “marketing – người đặt hàng quảng cáo” và
"đại lý - người làm ra quảng cáo", hai lực lượng khác biệt này kết hợp ăn ý
sẽ tạo nên sức mạnh của thương hiệu. Marketing – khách hàng nắm vững
đường hướng, chiến lược phát triển của thương hiệu và đưa ra những yêu
cầu sáng tạo – truyền thông rõ ràng, còn đại lý quảng cáo sẽ tiếp nhận những
yêu cầu và cung cấp cho khách hàng những ý tưởng quảng cáo độc đáo thể
hiện hiệu quả thông điệp sản phẩm. Trong thực tế, một thương hiệu thành
công bao giờ cũng có dấu ấn của hai bên đối tác vì lợi ích chung. Họ luôn
tránh một điều tối kỵ: làm thay việc của nhau. Các giám đốc thương hiệu
nên được huấn luyện để biết cách dẫn dắt và đánh giá các tác phẩm sáng tạo
một cách sáng suốt và công bằng. Họ không nên can thiệp quá chi tiết vào
công việc của bên quảng cáo.
Một sai lầm nữa trong tiến trình quảng cáo là người ta thường hy vọng bỏ ra
một số tiền nào đó làm quảng cáo để khách hàng mua ngay tức thì sản phẩm
của mình, doanh thu sẽ lập tức tăng lên. Đó là sự hiểu lầm tai hại, bởi từ
quảng cáo đến việc tác động nhận thức nhiều lần, khiến người tiêu dùng nhớ
đến nhãn hiệu, mua dùng thử, thấy tốt, mới đi mua thường xuyên và dần dần
trở thành khách hàng trung thành, là cả một giai đoạn dài. Thách thức lớn
nhất với người làm quảng cáo là liệu thông điệp mình đưa ra có hiệu quả, có
tác động đến nhận thức, tiềm thức của người tiêu dùng, dẫn dắt người ta đến
mua hàng của mình hay không. Làm thế nào gây sự chú ý, khiến người tiêu
dùng nhớ ngay đến thương hiệu của mình giữa một rừng quảng cáo? Đó là
mới chỉ nói đến thông điệp hiệu quả, chứ chưa đụng chạm gì tới chiến lược
quảng cáo và lựa chọn kênh truyền thông. Nếu không tạo được thông điệp
độc đáo và gắn liền với nhãn hiệu, có khi bạn lại bỏ tiền ra để quảng cáo
giùm cho đối thủ. Thông điệp như một “cơ quan ngôn luận”, bộ máy tuyên
truyền của nhãn hiệu. Tuyên truyền sai có khi còn làm cho khách hàng “rời
bỏ đội ngũ”. Tần suất cũng là điều mà bạn phải lưu ý, vì nó chuyển động
theo biểu đồ hình sin. Ở một số lần nhất định sẽ làm người ta nhớ, nhưng
nếu quảng cáo quá nhiều lần sẽ làm người ta chán, nhất là với những quảng
cáo chất lượng kém thì giống như phải ăn hoài những chén cơm đầy sạn, làm
sao nuốt cho trôi.
2,Cách làm quảng cáo hay nhất: chính xác, đúng mục đích
Nói đến Pepsi, người ta liên tưởng ngay tới một lớp trẻ đầy cá
tính, thích thể hiện mình, năng động, sáng tạo trong cách thể hiện bản thân.
Hình ảnh ấy khó có thể được hưởng ứng, trở nên lẻ loi, không hòa nhập với
xã hội trong ngày Tết, bởi Tết của Việt Nam mang giá trị truyền thống rất
cao, đó là ngày của gia đình đoàn tụ. Thách thức đặt ra với những người làm
marketing và người sáng tạo quảng cáo của Pepsi là làm thế nào tạo ra một
hình ảnh mới của Pepsi, chứng tỏ bản thân của lớp trẻ vẫn còn đó nhưng
bằng cách riêng của mình, họ luôn tỏ lòng kính trọng với gia đình, với
những giá trị truyền thống trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Chúng tôi
đã bàn bạc với giám đốc sáng tạo của công ty quảng cáo cho Pepsi, một
người nước ngoài đã sống ở Việt Nam vài năm. Ông hào hứng: “Tôi đã
hưởng nhiều cái Tết Việt Nam, lần đầu tiên tôi rất ngạc nhiên khi thấy chiều
30 Tết mọi người đều hối hả chạy ngoài đường để mua cái gì đó mang về
làm quà cho gia đình. Và dường như họ cảm thấy rất áy náy nếu như không
làm được điều đó. Tôi nghĩ đó là nét đặc trưng của giới trẻ Việt Nam”. Nghe
xong, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Thế là ông ấy đã hiểu điều mà chúng tôi
muốn. Quảng cáo “Pepsi – mang lộc về nhà” đã ra đời như thế.
Mẫu quảng cáo được xem là sáng tạo chỉ khi nó làm cho bạn…
S.M.I.L.E (Smile có nghĩa là mỉm cười), làm người ta muốn mua hàng.
Công thức S.M.I.L.E là: S–simple (đơn giản), M-memorable (dễ nhớ), I-
interesting (gây chú ý – có ngầm hiểu), L-linked to the brand (gắn kết tốt với
nhãn), E-emotional (gây xúc cảm và thú vị). Quảng cáo đơn giản là quảng
cáo chỉ nói lên một ý duy nhất, là cách tốt nhất để khách hàng nhớ đến sản
phẩm. Thông điệp duy nhất được quảng cáo phải trả lời được ngầm hiểu của
nhãn hiệu. Quảng cáo ấn tượng – dễ nhớ là giải pháp duy nhất cho tình trạng
quá thừa thông tin hiện nay, người tiêu dùng luôn có khuynh hướng bỏ qua
những hình ảnh, câu chữ bình thường. Cũng cần chú ý mức độ chấp nhận
quảng cáo của khách hàng. Các ý tưởng quá sốc có thể gây tai hại cho nhãn
hiệu. Quảng cáo cũng phải gắn kết được các thông tin phù hợp với hình ảnh,
tính cách riêng có của nhãn hiệu. Cuối cùng, thật tuyệt vời khi xem một
quãng cáo nhiều cảm xúc, người tiêu dùng sẽ thích thú ghi nhận và nhớ rất
lâu, thậm chí họ còn kể lại cho nhiều người khác. Tuy nhiên, một quảng cáo
lay động và chứa nhiều cảm xúc (còn gọi là quảng cáo “hay”) chỉ là một
trong 5 yếu tố hội đủ điều kiện một quãng cáo hiệu quả trong các nguyên tắc
S.M.I.L.E, điều quan trọng hơn là nó có thúc đẩy người ta đi mua hàng hay
không. Ví dụ như những mẫu quảng cáo bột giặt Omo có “hay” đâu, nhưng
rất hiệu quả vì nó đạt được mục đích của nó: người tiêu dùng luôn lựa chọn
Omo.
C – KẾT LUẬN
Nhìn chung quãng đường định vị theo hướng mới của Omo vẫn chưa đủ dài
song những gì họ làm được đáng để coi là thành công. Thành công trong
việc mở cho mình một lối đi riêng trên thị trường Việt Nam, thành công
trong việc nâng cao giá trị thương hiệu của một sản phẩm thuộc hàng tiêu
dùng thiết yếu. Sau này rất có thể những đối thủ cạnh tranh sẽ theo bước
chân định vị của họ, song Omo có lợi thế là người tiên phong trên thị trường,
mà cái gì đầu tiên thường để lại ấn tượng lâu phai trong tâm trí khách hàng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét