-Thứ hai,các ngân hàng nước ngoài có thế mạnh về cung cấp dịch vụ
,trong khi các ngân hàng nội địa hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tín dụng
.Theo HSBC,doanh thu từ thanh toán quốc tế chiếm 1/3 tổng doanh thu
của ngân hàng này,khách hàng là công ty Việt Nam cách đây 3 năm chỉ
chiếm 3%,nay đã chiếm 50% trên tổng số khách hàng của HSBC,dự đoán
3 năm nữa tăng len 70%.
-Thứ ba,là vấn đề công nghệ .Các ngân hàng nước ngoài vượt khá xa về
trình độ công nghệ ngân hàng với hệ thống máy móc thiết bị cũng như các
ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiệp vụ ngân hàng
-Thứ tư là trình độ quản lý.Yếu tố này liên quan về vấn đề nhân sự .VN
còn thiếu rất nhiều các chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực ngân hàng . Điều
này không những đáng lo ngại cho các ngân hàng nội địa trong vấn đề
quản lý ngân hàng mà còn là nguy cơ cạnh tranh nhân lực giữa các ngân
hàng sẽ đẩy chi phí tiền lương,tiền công lao động lên cao.Các ngân hàng
trong nước sẽ gặp khó khăn và phải đối mặt với sự chảy máu chất xám
.Bên cạnh những điểm hạn chế này còn gọi là những nguy cơ tìêm ẩn nêu
trên ,các ngân hàng trong nước còn gặp phải vấn đề đáng lo ngại nữa là thị
phần co hẹp.
Những cơ hội và nguy cơ đối với doanh nghiệp
ngân hàng hiện nay:
1.Cơ hội
a,Cơ hội trực tiếp:
Cơ hội cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính tín dụng trong nước
tiếp cận thị trường tài chính quốc tế đã phát triển ở mức cao hơn. Ðây là
cơ hội để học tập và nâng cao trình độ quản trị và cung cấp dịch vụ, phát
triển các loại hình và kỹ năng kinh doanh mới mà các ngân hàng trong
nước chưa có hoặc có ít kinh nghiệm, như kinh doanh ngoại hối, thanh
toán quốc tế, tín dụng thương mại quốc tế, dịch vụ ngân hàng điện tử, quản
lý quỹ, môi giới tiền tệ, quản lý rủi ro, v.v.
Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam cho phép các ngân hàng
nước ngoài được đầu tư mua cổ phần của các ngân hàng trong nước. Do
đó, đây cũng là cơ hội cho các ngân hàng trong nước tăng vốn, tiếp thụ
kiến thức, kinh nghiệm và công nghệ hiện đại về quản lý và hoạt động
ngân hàng, vì các ngân hàng nước ngoài được lựa chọn làm đối tác chiến
lược đều là các ngân hàng lớn có danh tiếng.
Thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, tính đến nay
các Ngân hàng nước ngoài (NHNNg) đã có mặt tại Việt Nam dưới các
hình thức: 34 chi nhánh NHNNg, 4 NH liên doanh và trên 40 văn phòng
đại diện đến từ hơn 10 quốc gia, hiện tập trung chủ yếu tại TP: Hà Nội và
TP Hồ Chí Minh. Hầu hết các NHNNg có mặt tại VN đều trong Top
1.000 ngân hàng lớn trên thế giới.
Tăng trưởng nhanh, sinh lời, và thâm nhập sâu vào thị trường - đó là
những dấu hiệu khởi sắc của các chi nhánh NHNNg tại Việt Nam thời gian
qua. Mới đây, HSBC - NHNNg lớn nhất tại Việt Nam đã chính thức mua
lại 10% vốn điều lệ của Techcombank để trở thành nhà đầu tư chiến lược
của NHCP này. Trước đó, ANZ đã mua cổ phần Sacombank; Standard
Chartered mua cổ phần ACB, OCBC Singapore mua cổ phần của VPBank
theo tỷ lệ 10% vốn điều lệ .Xu hướng này đang tiếp diễn rất khả quan với
việc một số NHNNg khác cũng đang tiếp cận và sẽ sớm tham gia các
NHTMCP khác (giới quan sát đang dự đoán tới đây có thể là Citibank ở
NHCP Đông Á -PV ).
Đặc biệt, các Cty tài chính nước ngoài cũng bắt đầu bày tỏ mối quan
tâm và tìm hiểu để thành lập Cty tài chính 100% vốn nước ngoài tại Việt
Nam. Những cuộc “kết hôn” giữa NH “nội” và NH “ngoại”, theo các
chuyên gia, chính là sự chuẩn bị khôn ngoan của các NHNNg để đặt chân
vào thị phần vốn rất màu mỡ mà các NH nội đang chiếm giữ.
Trước thực tế này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khi soạn thảo nghị
định mua bán cổ phần NH trong giai đoạn hiện nay đã nhất quán: giữ
nguyên hạn mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các
NHTM niêm yết trên sàn chứng khoán khống chế “room” ở mức 30% (các
đối tác đàm phán WTO đã chấp nhận - PV).
Theo tính toán, đến cuối năm 2005, thị phần của các chi nhánh NHNNg
xét về dư nợ khoảng hơn 9%, tăng gần 1% so với năm 2004. Tổng dư nợ
của tất cả chi nhánh NHNNg tăng gần 30% so với năm ngoái, với tổng giá
trị cho vay lên tới 49.000 tỷ VND; trong đó tỷ lệ nợ quá hạn giảm từ hơn
0,1% xuống chỉ còn 0,06%.
Bên cạnh đó, huy động vốn của chi nhánh cũng tăng hơn 20%, chủ yếu
từ nguồn tiền gửi (nhất là của tổ chức và doanh nghiệp); tỷ lệ khách hàng
là DN hiện nay trên 70%, thậm chí đến 100%.
b,Cơ hội gián tiếp:
Tạo cơ hội và thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tích cực cạnh
tranh thị trường để tồn tại và phát triển, không chỉ ở trong nước mà còn
mở rộng hoạt động ra khu vực và thế giới. Các doanh nghiệp này (cả trong
nước và nước ngoài) sẽ trở thành các khách hàng tiềm năng của ngân
hàng. Ngân hàng là nhà cung cấp dịch vụ. Vì vậy, ngân hàng và các tổ
chức tài chính tín dụng sẽ có điều kiện phát triển tốt khi khách hàng -
những người sử dụng dịch vụ của họ làm ăn tốt và phát triển.
2.Nguy cơ- thách thức
Hiện nay, số lượng các ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam
đã khá nhiều, hơn 30 ngân hàng. Tuy nhiên, quy mô về vốn và hoạt động
vẫn còn nhỏ bé, do đó hạn chế khả năng mở rộng mạng lưới trong nước và
quốc tế, đầu tư phát triển công nghệ ngân hàng hiện đại để đa dạng hoá sản
phẩm dịch vụ cũng như mở rộng đối tượng khách hàng.
Các ngân hàng trong nước vẫn chỉ tập trung vào các dịch vụ huy động
và cho vay truyền thống, chất lượng dịch vụ chưa cao. Trong khi đó, trước
sự tham gia thị trường ngày càng sâu rộng của các ngân hàng nước ngoài,
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng tăng, các ngân hàng
trong nước sẽ đối mặt với nguy cơ mất dần lợi thế về dịch vụ ngân hàng
bán lẻ với mạng lưới các kênh phân phối và cơ sở khách hàng đã có sẵn.
Ngoài ra, mở cửa thị trường tài chính ngân hàng không chỉ buộc các
ngân hàng trong nước cạnh tranh thị trường với các ngân hàng nước ngoài
mà còn phải cạnh tranh thị trường với các định chế tài chính phi ngân
hàng. Nhiều quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty tài chính nước ngoài
đang nghiên cứu thị trường Việt Nam, một thị trường được đánh giá là rất
nhiều tiềm năng, với tốc độ tăng trưởng nhanh trong khi mức độ và trình
độ cung cấp dịch vụ tài chính còn ở giai đoạn phát triển ban đầu. Các tổ
chức này sẽ cạnh tranh thị trường mạnh với ngân hàng về các hoạt động
huy động vốn cũng như đầu tư.
Thêm vào đó, với việc mở cửa thị trường tài chính, các ngân hàng trong
nước phải đối mặt với nhiều rủi ro thị trường. Chẳng hạn rủi ro về giá, tỷ
giá và lãi suất và các rủi ro hệ thống, bắt nguồn từ sự lan truyền của các
cuộc khủng hoảng, các cú sốc kinh tế tài chính khu vực và trên thế giới.
Rủi ro cũng có thể đến từ các doanh nghiệp là khách hàng của ngân hàng
do làm ăn thua lỗ, thất bại trong cạnh tranh. Khi có bất cứ một biến động
tài chính nào thì những ngân hàng quy mô nhỏ dễ bị tổn thương hơn cả.
Theo TS Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ chiến lược phát triển NHNN,
thách thức lớn nhất đối với các NHTM Việt Nam khi mở cửa đó chính là
gia tăng áp lực cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa.
Điểm yếu của các NHTM “nội” là quy mô tài chính của các NH còn rất
nhỏ (trung bình từ 20 đến 250 triệu USD - PV); nợ xấu của các NH Việt
Nam theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế còn lớn; 5 NHTMNN chiếm thị phần
tín dụng đến 75% nhưng tổng vốn tự có cũng chỉ trên 1 tỷ USD, chưa đạt
hệ số an toàn vốn tối thiểu (8%), khả năng tăng vốn và xử lý nợ xấu của
các NHTMNN còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, sản phẩm dịch vụ
của các NH trong nước còn đơn điệu, tính tiện ích chất lượng chưa cao.
Theo yêu cầu gia nhập WTO, Việt Nam không được áp dụng các hạn
chế định lượng đối với số nhà cung cấp dịch vụ, tổng giá trị giao dịch về
dịch vụ, số lượng nghiệp vụ, số người tham gia làm việc tại các NH.
Ông Lê Đắc Sơn, Tổng giám đốc NHTM ngoài quốc doanh VPbank
tiên đoán: “Chắc chắn sẽ có một cuộc chảy máu nhân lực cấp cao và
chuyên nghiệp từ các NH Việt Nam sang NH nước ngoài bởi hiện tại nhu
cầu về nhân lực (đặc biệt là các NHTMCP), mỗi năm tăng tối thiểu 50%”.
Cách giữ người tốt nhất bây giờ, theo ông Sơn, là: Các NHTM trong
nước phải có lực lượng kế cận và thay thế khi cần thiết. Khi đó, nguồn lực
nếu bị “chảy máu” sang NH ngoại cũng sẽ không ào ào, mà dịch chuyển từ
từ.
Việc mở cửa thị trường tài chính nội địa sẽ làm tăng rủi ro thị trường về
giá cả, tỷ giá, lãi suất. Hệ thống các NH trong nước sẽ phải đối mặt các rủi
ro khủng hoảng, các cú sốc kinh tế tài chính khu vực và trên thế giới khi
lan truyền; mất dần lợi thế về khách hàng và hệ thống kênh phân phối,
nhất là từ sau năm 2010, khi những phân biệt về huy động vốn, sản phẩm
dịch vụ, việc đặt máy ATM sẽ căn bản bị loại bỏ.
Một thách thức mà chính các NHTM trong nước sẽ phải tự giải quyết
đó là việc có thể một bộ phận khách hàng chiến lược của hệ thống NHTM
đang hưởng sự bảo hộ của Nhà nước (nhất là DNNN sản xuất trong các
lĩnh vực nhiên liệu, sắp thép, xi măng, phân bón, giấy, hoá chất) khi họ
làm ăn kém hiệu quả sẽ tăng rủi ro đối với hoạt động của các ngân hàng.
Giải pháp để tận dụng cơ hội và giải quyết
nguy cơ
Sau một năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có những
chuyển động tích cực để từng bước đáp ứng yêu cầu cam kết khi gia nhập
WTO. Cụ thể ở một số nội dung cơ bản: Việc hoàn thiện khung pháp lý
được khẩn trương thực hiện; Tăng trưởng GDP cả năm ước đạt 8,48%, giá
trị kim ngạch xuất khẩu đạt mức kỷ lục và ước tăng 21,5% so với năm
2006; Thị trường tài chính nói chung tăng trưởng mạnh, trong đó thị
trường chứng khoán đang ổn định và phát triển, vốn hoá có khả năng đạt
xấp xỉ 50% GDP, nguồn vốn nước ngoài chảy vào Việt Nam nhiều hơn (cả
FDI, thông qua thị trường chứng khoán và kiều hối)…
1. Về phía Ngân hàng Nhà nước
Việc khởi động chung và có lẽ cũng là quan trọng nhất của Ngân hàng
Nhà nước (NHNN)nhằm đáp ứng yêu cầu đã cam kết khi gia nhập WTO là
việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật với phương châm: Hoàn thiện và minh
bạch. Việc hoàn thiện pháp luật của NHNN tức là việc nghiên cứu bổ
sung, sửa đổi hoặc ban hành mới các quy định pháp luật phục vụ công tác
quản lý của NHNN. Chính vì vậy, ngay từ khi chuẩn bị thực hiện hội nhập,
NHNN đã khởi động và đang xúc tiến các chương trình: Xây dựng NHNN
Việt Nam trở thành Ngân hàng Trung ương hiện đại; Chỉ đạo việc tổng kết
các Luật Ngân hàng và tiến hành thành lập Ban soạn thảo Luật Ngân hàng
Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng cũng như thực hiện các bước triển
khai Đề án thanh toán không dùng tiền mặt, tiếp tục thực hiện Đề án hiện
đại hoá công nghệ ngân hàng giai đoạn II…
Trong việc xây dựng NHNN Việt Nam trở thành Ngân hàng Trung
ương hiện đại, NHNN đã và đang thực hiện các công việc chủ yếu như:
- Tổng kết và đang xúc tiến khẩn trương hoàn thành Dự thảo mới Luật
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các Tổ chức tín dụng. Trong quá
trình soạn thảo Luật Ngân hàng Nhà nước, việc xác định địa vị pháp lý của
NHNN Việt Nam đã được chú trọng, trong đó: xác định rõ mục tiêu, chức
năng, nhiệm vụ; các hoạt động quản lý và thanh tra giám sát theo thông lệ
quốc tế, phù hợp với đặc điểm Việt Nam.
- Hoàn thành dự thảo và trình Chính phủ ban hành Nghị định về tổ
chức và hoạt động của NHNN thay thế Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày
19/5/2003 của Chính phủ.
- Khẩn trương hoàn thành dự thảo Luật giám sát an toàn hoạt động
ngân hàng, Luật bảo hiểm tiền gửi để trình Chính phủ ban hành trong thời
gian tới.
- Hoàn thành Đề án cải cách Thanh tra ngân hàng và xây dựng hệ thống
giám sát từ xa.
- Hoàn thiện để trình Chính phủ các Nghị định bổ sung, sửa đổi Nghị
định số 86/1999/NĐ-CP về quản lý ngoại hối, Nghị định số 91/1999/NĐ-
CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngân hàng.
- Xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai đề án về thanh toán không
dùng tiền mặt giai đoạn 2006 - 2010 theo Quyết định số 291/TTg của
Chính phủ.
- Triển khai thực hiện cải cách hành chính, với những việc trọng tâm là:
rà soát, đơn giản hoá các thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động của các tổ chức tín dụng và công tác chỉ đạo, điều hành của
các đơn vị thuộc NHNN.
- Một trong những cam kết của ngành Ngân hàng đối với WTO là việc
bảo đảm sự bình đẳng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
(NHTM), đó là việc NHNN ban hành các quy định về cổ đông, cổ phần;
về quản lý rủi ro…, đặc biệt là việc ban hành quy định về cấp phép đối với
NHTM như: Ban hành hai Quyết định số 24/QĐ-NHNN ngày 7/6/2007 và
Quyết định số 46/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 12 năm 2007 bổ sung
sửa đổi Quyết định số 24 nói trên. Hiện, NHNN đã đồng ý về nguyên tắc
thành lập mới cho bốn ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) là: Bảo
Việt, Tài chính Dầu khí, Liên Việt, FPT và đang xem xét để cấp phép một
NHTMCP nữa. Riêng bốn ngân hàng trên đã có vốn điều lệ tới 10.500 tỉ
đồng, sẽ được ra đời và hoạt động vào đầu năm 2008. Mặt khác, NHNN
cũng đang tiến hành việc dự thảo xây dựng Nghị định bổ sung, sửa đổi
Nghị định số 48/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân
hàng thương mại.
- NHNN cũng đã có những đổi mới trong quản lý tiền tệ và hoạt động
ngân hàng, trong đó đáng chú ý là Quyết định số 3039/QĐ-NHNN ngày
24/12/2007 của Thống đốc NHNN, theo đó NHNN quản lý biên độ tỷ giá
chính thức, đồng thời tạo sự thông thoáng trong quản lý và nâng cao tính
tự chủ trong hoạt động này của NHTM. Mặt khác NHNN cũng đang tích
cực triển khai các biện pháp nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét