Mai Thị Thanh Thuỷ
Khoá luận tốt nghiệp 2003
Qua sơ đồ trên ta thấy, sự chuyển dịch vốn đợc thực hiện qua hai con đờng
tài trợ trực tiếp và tài trợ gián tiếp. Trong tài trợ trực tiếp, những ngời cần vốn
huy động trực tiếp từ những ngời có vốn bằng cách bán các chứng khoán cho họ.
Các chứng khoán này là các công cụ tài chính, nó cung cấp quyền yêu cầu về thu
nhập và tài sản và các quyền khác cho chủ sở hữu đối với ngời phát hành. Các
chứng khoán đợc mua bán rộng rãi trên thị trờng cấp một và thị trờng cấp hai.
Cách thức thứ hai để dẫn vốn là tài trợ gián tiếp thông qua các trung gian tài
chính. Các trung gian tài chính nh các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các tổ
chức bảo hiểm và các trung gian khác có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tích
tụ, tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, đồng thời các tổ chức này cũng
có vai trò quan trọng trong việc cấp vốn và hỗ trợ cho dòng tài chính trực tiếp nh
thông qua các hoạt động đại lý, bảo lãnh, thanh toán
Nh vậy, thông qua việc dẫn chuyển vốn, thị trờng tài chính có vai trò quan
trọng trong việc tích tụ, tập trung và phân phối trong nền kinh tế, trên cơ sở đó
làm tăng năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Thị trờng tài chính trực
tiếp cải thiện mức sống cho cả những ngời có vốn và những ngời cần vốn.
2.2. Xác định giá cả của các tài sản tài chính
Thông qua quan hệ giữa ngời mua và ngời bán (quan hệ cung cầu trên thị tr-
ờng) giá cả của các tài sản tài chính đợc xác định, hay nói cách khác, lợi tức yêu
tài trợ gián tiếp
Tài trợ trực tiếp
5
Thị trư
ờng tài
chính
Ng ời cho vay vốn
1. Hộ gia đình
2. Doanh nghiệp
3. Chính phủ
Ng ời đi vay vốn
1. Hộ gia đình
2. Doanh nghiệp
3. Chính phủ
Vốn Vốn
Vốn
Vốn
Trung
gian tài
chính
Mai Thị Thanh Thuỷ
Khoá luận tốt nghiệp 2003
cầu của tài sản tài chính đợc xác định. Vì vậy, thị trờng tài chính là nơi hình
thành nên giá cả của các tài sản tài chính - các "hàng hoá" trên thị trờng.
2.3. Tạo tính thanh khoản cho tài sản tài chính
Thị trờng tài chính cung cấp một cơ chế để các nhà đầu t có thể trao đổi,
mua bán các tài sản tài chính của mình trên thị trờng thứ cấp, nh vậy thị trờng tài
chính tạo ra tính thanh khoản cho các tài sản tài chính. Nếu thiếu tính thanh
khoản, ngời đầu t sẽ buộc phải nắm giữ các công cụ nợ cho tới khi đáo hạn, hoặc
nắm giữ các công cụ vốn cho tới khi công ty phá sản hoặc giải thể phải thanh lý
tài sản. Mức độ thành khoản của các thị trờng tài chính là khác nhau, nó phụ
thuộc vào sự phát triển của thị trờng.
2.4. Giảm thiểu chi phí cho các chủ thể tham gia trên thị trờng
Để cho các giao dịch có thể diễn ra, những ngời mua và những ngời bán cần
phải bỏ ra các chi phí nh chi phí tìm kiếm đối tác và tìm kiếm thông tin trong quá
trình trớc, trong và sau khi ra các quyết định đầu t. Nhờ tính tập trung, các thông
tin phục vụ quá trình đầu t đợc cung cấp đầy đủ, chính xác và nhanh chóng trên
thị trờng tài chính, từ đó cho phép giảm thiểu những chi phí đối với các bên tham
gia giao dịch và góp phần tăng hiệu quả đối với các chủ thể trên thị trờng cũng
nh đối với toàn bộ nền kinh tế.
2.5. Khuyến khích cạnh tranh và phát triển hiệu quả kinh doanh
Thị trờng tài chính là thị trờng định giá các công cụ tài chính. Vì vậy, sẽ
khuyến khích quá trình phân phối vốn một cách có hiệu quả, góp phần tăng tính
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và từ đó đặt ra cho các doanh nghiệp phải tăng
hiệu quả kinh doanh để có thể tồn tại và phát triển.
6
Mai Thị Thanh Thuỷ
Khoá luận tốt nghiệp 2003
2.6. ổn định và điều hoà lu thông tiền tệ
Thị trờng tài chính có một chức năng quan trọng là ổn định và điều hoà lu
thông tiền tệ, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Chức năng này đ-
ợc thể hiện thông qua việc mua bán các trái phiếu, tín phiếu và các giấy tờ có giá
khác của Ngân hàng Trung ơng trên thị trờng tài chính là thị trờng tiền tệ. Thông
qua đó, Chính phủ có thể huy động đợc nguồn vốn lớn để bù đắp thâm hụt ngân
sách và kiểm soát lạm phát. Ngoài ra, Ngân hàng Trung ơng cũng có thể mua bán
ngoại tệ trên thị trờng ngoại hối để điều chỉnh lợng cung và cầu ngoại tệ nhằm
giúp Chính phủ ổn định tỷ giá hối đoái.
Nh vậy, thị trờng tài chính có chức năng hết sức quan trọng không những
đối với nền kinh tế mà cả đối với từng các nhân, tổ chức kinh tế. Thị trờng tài
chính tạo điều kiện cho phép vốn đợc chuyển từ ngời có tiền nhàn rỗi và không
có cơ hội đầu t hiệu quả sang cho ngời có cơ hội đầu t, có khả năng sản xuất,
giúp nâng cao năng suất và hiệu quả toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, thị trờng tài
chính cũng trực tiếp cải thiện mức sống của ngời tiêu dùng bằng cách giúp họ
chọn thời điểm cho việc mua sắm tốt hơn. Thị trờng tài chính hoạt động hiệu quả
sẽ trực tiếp cải thiện đời sống kinh tế xã hội.
II. Các thành viên thị trờng
1. Các trung gian tài chính
Các trung gian tài chính hoạt động nh là những ngời trung gian chuyển vốn
từ những ngời cho vay cuối cùng tới những ngời đi vay cuối cùng. Điểm chung
của tất cả các trung gian tài chính là huy động vốn bằng cách phát hành các
phiếu nợ của chính mình cho công chúng (tiền gửi tiết kiệm, tiền tiết kiệm và các
cổ phiếu) rồi sau đó sử dụng tiền (vay đợc) để mua các chứng khoán nh cổ phiếu,
trái phiếu, cầm cố - mortage cho chính mình.
Các cơ quan tài chính có vị trí tốt hơn so với các cá nhân trong việc gánh
chịu và phân chia các rủi ro của sở hữu chứng khoán. Nhờ có quy mô lớn nên các
7
Mai Thị Thanh Thuỷ
Khoá luận tốt nghiệp 2003
trung gian có thể đa dạng hoá các loại chứng khoán và giảm tới mức tổi thiểu các
rủi ro trong việc giữ các loại chứng khoán. Họ là các chuyên gia trong việc đánh
giá các thuộc tính của tín dụng vay. Họ thuê những vị quản lý chứng khoán thành
thạo và có thể chiếm đợc lợi thế của các nền kinh tế hành chính trong việc mua
và bán có quy mô lớn.
Vì những lý do này, họ có thể chịu đựng đợc việc nhận những khoản lãi suất
thấp hơn cho các tài sản của mình và họ sẽ chấp nhận các mức lãi suất thấp hơn
nếu tình thế bắt buộc. Sự cạnh tranh giữa các trung gian tài chính ép các mức lãi
suất xuống mức thấp nhất tơng đơng với sự đánh giá của họ về những rủi ro trong
việc sở hữu chứng khoán. Những mức lãi suất này thấp hơn so với khi các chứng
khoán khởi thuỷ ở trong tay các nhà đầu t cá thể là những ngời không thể tối
thiểu hoá một cách có hiệu quả các rủi ro của mình.
Cần thấy rằng lãi suất thấp đã tạo ra nhiều thuận lợi cho mức tăng trởng
kinh tế. Mức lãi suất mà những ngời đi vay cuối cùng phải trả càng thấp thì
khoản chi phí cho đầu t thực càng thấp. Dới giác độ gánh chịu mạo hiểm ta cũng
thấy đợc tác động thuận lợi của các trung gian tài chính tới tăng trởng kinh tế.
Các trung gian có nhiều khả năng hơn so với các cá thể để gánh chịu các rủi ro
trong việc cho vay vốn. Đó là nhờ vào khả năng đa dạng hoá, các nền kinh tế có
quy mô và sự thành thạo trong việc tính toán tới việc cho vay của các cơ quan tài
chính hơn hẳn so với các cá thể. Do các trung gian tài chính ngày càng nắm một
phần lớn hơn của các chứng khoán lu thông cha đợc thanh toán nên những rủi ro
do nền kinh tế gây ra bị giảm xuống, các mức lãi suất đợc hạ thấp và các đầu t
thực đợc thực hiện nhiều hơn. Các vốn đợc chuyển từ những ngời cho vay cuối
cùng, thông qua các trung gian tới những ngời đi vay cuối cùng một cách hiệu
quả hơn so với khi không có các trung gian.
Các trung gian tài chính không phải ai khác mà chính là các cơ quan tài
chính - các ngân hàng thơng mại, quỹ tiết kiệm, các hiệp hội tích luỹ và cho vay,
các liên đoàn tín dụng, các quỹ hu trí, các công ty bảo hiểm
2. Những ng ời sử dụng cuối cùng trong hệ thống tài chính
8
Mai Thị Thanh Thuỷ
Khoá luận tốt nghiệp 2003
Trong hệ thống tài chính có hai loại "ngời sử dụng cuối cùng" đó là những
ngời cho vay cuối cùng và những ngời đi vay cuối cùng.
Ngời cho vay cuối cùng thờng là các cá nhân, hộ gia đình. Mục đích cuối
cùng của họ có thể nói là làm sao nâng tới mức tối đa lợi ích tiêu dùng trong đời
sống hàng ngày. Nếu nh ở thời điểm hiện tại họ không chi tiêu hết toàn bộ thu
nhập vào tiêu dùng thì chắc chắn họ sẽ tìm một chỗ cất giữ nhất thời và chỉ huy
động để chừng nào cần tài trợ cho việc chi tiêu tiếp theo. Điều này dẫn đến hoạt
động mua tậu các tài sản tài chính. Mặc dù đôi khi các hãng kinh doanh và các
cơ quan chính phủ (của liên bang, bang và của địa phơng) cũng cho vay những
khoản đáng kể.
Những ngời đi vay cuối cùng chủ yếu là các hãng kinh doanh và các cơ
quan chính phủ, mặc dù các hộ gia đình cũng là một bộ phận quan trọng là
những ngời đi vay tín dụng tiêu dùng và những ngời đi vay cầm cố. Thị trờng tài
chính mà tại đó các hoạt động đợc diễn ra nói chung mang tên do những ngời đi
vay đặt ra - chủ yếu mang tên của loại chứng khoán khởi thủy đợc kinh doanh:
thị trờng chứng khoán chính phủ, thị trờng chứng khoán thành phố (Municipal
Bond Market), thị trờng chứng khoán công ty (Corporate Bond Market), thị trờng
cầm cố gia đình (Home Mortage Market) Song đôi khi những ng ời cho vay
cũng đặt tên cho thị trờng, ví dụ nh, thị trờng đối với các khoản cho vay của các
ngân hàng (Market For Bank Loans).
3. Các nhà môi giới
Hoạt động môi giới là loại hoạt động trung gian thuần tuý. Các nhà môi giới
chứng khoán hoạt động nh các đại lý cho các nhà đầu t trong việc mua, bán
chứng khoán. Chức năng của họ là hoà hợp yêu cầu của ngời mua và bán chứng
khoán, qua đó, họ nhận đợc các khoản hoa hồng môi giới. Cơ chế tiền hoa hồng
môi giới đợc chia làm 2 loại:
- Cơ chế tiền hoa hồng định sẵn hay cơ chế tiền hoa hồng tối thiểu. Trong
trờng hợp này, chi phí môi giới do từng Sở giao dịch chứng khoán quy định.
9
Mai Thị Thanh Thuỷ
Khoá luận tốt nghiệp 2003
- Cơ chế tiền hoa hồng thoả thuận. Chi phí môi giới đợc hình thành dựa trên
sự thoả thuận giữa nhà môi giới và khách hàng trong từng giao dịch.
Đặc trng của các nhà môi giới chứng khoán là họ không nắm giữ chứng
khoán trong khi tiến hành các hoạt động dịch vụ nên không bị đặt trớc bất kỳ một
rủi ro nào có liên quan đến chứng khoán.
Căn cứ vào đặc điểm hoạt động trên thị trờng chứng khoán, hoạt động môi
giới đợc chia ra làm các loại sau:
Các nhà môi giới của hãng dịch vụ hoa hồng: Các nhà môi giới của hãng
dịch vụ hoa hồng hầu hết là các thành viên của Sở giao dịch chứng khoán. Họ là
cổ đông có quyền bỏ phiếu và là các uỷ viên quản trị (hoặc các bên góp vốn) của
một công ty môi giới. Hoạt động của họ là thực hiện các lệnh cho khách hàng
của công ty trong phòng giao dịch trên Sở nên họ đợc gọi là nhà môi giới của
hàng dịch vụ hoa hồng hay nhà môi giới trong phòng giao dịch.
Nhà môi giới độc lập (hay nhà môi giới hai đô la): Nhà môi giới độc lập là
một thành viên của Sở giao dịch chứng khoán. Anh ta không thuộc một công ty
môi giới nào mà tự thuê hoặc sở hữu chỗ để hoạt động trên Sở. Anh ta thực hiện
các lệnh giao dịch do bất kỳ một công ty môi giới nào thuê anh ta với mức định
phí trớc đây là 2 đô la/100 cổ phiếu (trong cả hai trờng hợp mua và bán). Hiện
nay, mức định phí mà các nhà môi giới độc lập đợc trả thờng lớn hơn 2 đô la/100
cổ phiếu.
Nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký: Một số ngời mua chỗ trên Sở giao
dịch chứng khoán chỉ nhằm mục đích mua và bán chứng khoán cho chính họ.
Những ngời đó đợc gọi là nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký. Hiện nay, do
sự gia tăng các nguyên tắc, các quy định nên đặc quyền này bị hạn chế nghiêm
ngặt. Các nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký chỉ đợc hoạt động với t cách là
ngời tạo thị trờng hoặc là một nhà môi giới hai đô la.
Nhà môi giới chuyên môn: Mỗi chứng khoán niêm yết tại Sở chỉ đợc buôn
bán trên một vị trí nhất định trong phòng giao dịch. Vị trí này đợc gọi là khu.
10
Mai Thị Thanh Thuỷ
Khoá luận tốt nghiệp 2003
Trong mỗi khu có một số nhà môi giới đợc gọi là những nhà môi giới chuyên
môn. Mỗi nhà môi giới chuyên môn trong số này đợc Hội đồng quản trị của Sở
chứng khoán phân công vào một khu nhất định. Anh ta mua và bán các chứng
khoán đã đợc Hội đồng quản trị phân công.
III. Phân loại thị trờng tài chính
1. Căn cứ vào thời hạn luân chuyển của vốn
Căn cứ vào thời hạn luân chuyển của vốn thì thị trờng tài chính có thể phân
chia thành thị trờng tiền tệ và thị trờng vốn.
Thị trờng tiền tệ là thị trờng tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn (có kỳ
hạn dới một năm) đợc mua bán, còn thị trờng vốn là thị trờng giao dịch, mua bán
các công cụ tài chính trung và dài hạn (gồm các công cụ vay nợ dài hạn và cổ
phiếu). Vốn ngắn hạn chủ yếu do các ngân hàng cung cấp, còn thị trờng chứng
khoán là đặc trng cơ bản của thị trờng vốn.
Các hàng hoá trên thị trờng tiền tệ có đặc điểm là thời gian đáo hạn ngắn
hạn nên có tính lỏng cao, độ rủi ro thấp và ổn định. Thị trờng tiền tệ bao gồm: thị
trờng liên ngân hàng, thị trờng tín dụng và thị trờng ngoại hối.
2. Căn cứ vào tính chất của việc phát hành các công cụ tài
chính
Căn cứ vào tính chất của việc phát hành các công cụ tài chính thì thị trờng
tài chính đợc chia thành thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp.
Thị trờng sơ cấp hay còn gọi là thị trờng phát hành, là thị trờng trong đó các
công cụ tài chính đợc mua bán lần đầu tiên. Do là thị trờng phát hành lần đầu nên
thị trờng này còn đợc gọi là thị trờng cấp một.
Thị trờng sơ cấp ít quen thuộc với công chúng đầu t vì việc bán chứng khoán
tới những ngời mua đầu tiên đợc tiến hành theo những phơng thức và đặc thù
riêng, thông thờng chỉ giới hạn ở một số thành viên nhất định.
11
Mai Thị Thanh Thuỷ
Khoá luận tốt nghiệp 2003
Thị trờng thứ cấp là thị trờng giao dịch các công cụ tài chính sau khi chúng
đã đợc phát hành trên thị trờng sơ cấp. Thị trờng thứ cấp còn đợc gọi là thị trờng
cấp hai.
Hoạt động trên thị trờng thứ cấp diễn ra trong phạm vi rộng hơn với tổng
mức lu chuyển vốn lớn hơn nhiều so với thị trờng sơ cấp. Tuy nhiên, việc mua
bán chứng khoán trên thị trờng này không làm thay đổi nguồn vốn của tổ chức
phát hành mà thực chất chỉ là quá trình chuyển vốn từ chủ thể này sang chủ thể
khác hay nói cách khác trên thị trờng thứ cấp diễn ra việc trao đổi, mua bán các
"quyền sở hữu công cụ tài chính".
Thị trờng thứ cấp làm cho các công cụ tài chính có tính lỏng và tính sinh lợi
cao hơn và do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành trên thị trờng sơ cấp.
Vì vậy, có thể nói là thị trờng thứ cấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của thị
trờng sơ cấp.
Mối quan hệ giữa thị trờng sơ cấp và thứ cấp là mối quan hệ nội tại, hữu cơ
và biện chứng. Thị trờng sơ cấp đóng vai trò là động lực, thúc đẩy thị trờng sơ
cấp phát triển.
3. Căn cứ theo cách thức tổ chức thị tr ờng
Căn cứ theo cách thức tổ chức thị trờng thì thị trờng tài chính đợc phân
thành thị trờng sàn giao dịch (thị trờng tập trung) và thị trờng OTC (thị trờng vi
tính hoá, thị trờng phi tập trung).
Thị trờng sàn giao dịch (exchange market) là một thị trờng đợc tổ chức tập
trung có địa điểm giao dịch cố định nh một toà nhà vì vậy thờng hay gọi là thị tr-
ờng tập trung.
Thị trờng OTC là một thị trờng chứng khoán phi tổ chức. Các công ty chứng
khoán giao dịch mua bán chứng khoán trực tiếp tại quầy giao dịch của các ngân
hàng hoặc qua điện thoại, mạng lới internet chứ không phải trực tiếp gặp nhau
trên sàn giao dịch hoặc thông qua trung gian, nếu họ là ngời bán và ngời mua
chứng khoán. Việc mua bán chứng khoán trên thị trờng OTC đợc tiến hành trên
12
Mai Thị Thanh Thuỷ
Khoá luận tốt nghiệp 2003
nhiều địa điểm khác nhau và danh mục chứng khoán cũng rất đa dạng. Vì chứng
khoán giao dịch trên thị trờng OTC không phải đăng ký, do đó, các chứng khoán
đã đợc đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán cũng có thể đợc mua bán tại đây. ở
Mỹ vào năm 1939, một Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán (National
Association of Securities Dealer - NASD) đợc thành lập và là tổ chức điều chỉnh
hoạt động thị trờng OTC.
4. Căn cứ vào ph ơng thức huy động vốn của tổ chức phát
hành
Căn cứ vào phơng thức huy động vốn của tổ chức phát hành, thị trờng tài
chính đợc phân thành thị trờng nợ và thị trờng vốn cổ phần.
Thị trờng nợ là thị trờng mà hàng hoá đợc mua bán tại đó là các công cụ nợ.
Thực chất của việc phát hành các công cụ nợ này là nhà phát hành đứng ra đi vay
theo phơng thức có hoàn trả cả gốc và lãi. Ngời cho vay không chịu bất cứ trách
nhiệm nào về kết quả hoạt động sử dụng vốn của ngời vay và trong mọi trờng
hợp, nhà phát hành phải có trách nhiệm hoàn trả theo các cam kết đã đợc xác
định trong hợp đồng vay. Các công cụ nợ có thời hạn xác định, có thể là ngắn
hạn, trung hạn hay dài hạn. Tín phiếu và trái phiếu là hai ví dụ điển hình của các
công cụ nợ.
Khác với thị trờng nợ, thị trờng vốn cổ phần là nơi mua bán các cổ phiếu,
giấy xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông. Cổ đông là chủ sở hữu của công ty
và phải chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của mình. Cổ phiếu sẽ cho phép
họ có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng nh đối với tài
sản của công ty. Cổ phiếu là vô thời hạn vì chúng không xác định cụ thể ngày
mãn hạn. Ngời sở hữu cổ phiếu chỉ có thể lấy lại tiền bằng cách bán lại cổ phiếu
đó trên thị trờng thứ cấp hoặc khi công ty tuyên bố phá sản.
13
Mai Thị Thanh Thuỷ
Khoá luận tốt nghiệp 2003
IV. Cơ cấu thị trờng tài chính
Dựa theo kỳ hạn thanh toán của chứng khoán thì thị trờng tài chính đợc
phân thành thị trờng tiền tệ và thị trờng vốn. Song ở nhiều nớc phát triển thị trờng
tài chính còn có thể phân ra thêm một loại nữa là thị trờng ngoại tệ hay còn gọi là
thị trờng hối đoái. ở Việt Nam thị trờng này còn sơ khai và đợc đặt trong thị tr-
ờng ngoại tệ liên ngân hàng - tức là một thành phần của thị trờng tiền tệ.
1. Thị tr ờng tiền tệ
Theo nghĩa rộng thì thị trờng tiền tệ là thị trờng vay vốn ngắn hạn giữa các
tổ chức tài chính và khách hàng của họ. Trớc đây, thị trờng tiền tệ đợc hình thành
do nhu cầu của các ngân hàng với những khoản vốn thiếu ở một số ngân hàng
khác. Do đó, việc tham gia thị trờng tiền tệ chỉ hạn chế trong một số tổ chức tài
chính nhất định nh các Ngân hàng thơng mại, các tổ chức tín dụng, các công ty
bảo hiểm, quỹ hu trí, quỹ đầu t.
Những năm gần đây, khái niệm thị trờng tiền tệ đợc mở rộng bao hàm
không chỉ ngân hàng và các tổ chức tài chính mà còn cả các doanh nghiệp không
phải ngân hàng. Ngân hàng và các tổ chức tài chính này mua và bán trên thị tr-
ờng số vốn tạm thời d thừa nhằm duy trì khả năng thanh toán của mình, cho vay
để kiếm lãi, vay vốn để hoạt động.
Thị trờng tiền tệ kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt là tiền tệ. Sự biến
động về số lợng, tỷ giá, lãi suất của loại hàng hoá này không chỉ ảnh hởng tới
việc kinh doanh của mỗi cá nhân mà còn tác động tới sự ổn định và tăng trởng
của cả một nền kinh tế. Chính vì vậy, Thị trờng tiền tệ luôn đợc Nhà nớc quan
tâm và kiểm soát chặt chẽ bằng hệ thống pháp luật.
Đối tợng tham gia Thị trờng tiền tệ là các Ngân hàng thơng mại và các tổ
chức tín dụng thực hiện chức năng vay để cho vay với lãi suất cao hơn. Với chức
năng này, các ngân hàng thơng mại hoạt động trong giới hạn quy định của
NHTƯ về khoản dự trữ bắt buộc (khoản này không đợc trả lãi) và về các khoản
vốn vay cho hoạt động tín dụng (NHTƯ khống chế bằng lãi suất chiết khấu).
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét