khai thác hết những nội lực sẵn có của mình để tạo ra những thuận lợi phát triển
kinh tế.
Chính vì vậy mà đại hội Đảng VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1991
đã đề ra đờng lối chiến lợc: Thực hiện đa dạng hoá, đa phơng hoá quan hệ quốc
tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại . Đến đại hội đảng VIII, nghị quyết TW4
đã đề ra nhiệm vụ: giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực
từ bên ngoài, xây dựng một nền kinh tế mới, hội nhập với khu vực và thế giới .
3.2 Thời cơ đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập:
Tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực sẽ tạo điều kiện cho
Việt Nam phát triển một cách nhanh chóng. Những cơ hội của hội nhập đem lại
mà Việt Nam tận dụng đợc một cách triệt để sẽ làm bàn đạo để nền kinh tế sớm
sánh vai với các cờng quốc năm châu.
3.2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần mở rộng thị trờng xuất nhập khẩu của
Việt Nam:
Nội dung của hội nhập là mở cửa thị trờng cho nhau, vì vậy, khi Việt Nam
gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế sẽ mở rộng quan hệ bạn hàng. Cùng với việc
đợc hởng u đãi về thuế quan, xoá bỏ hàng rào phi thuế quan và các chế độ đãi ngộ
khác đã tạo điều kiện cho hàng hoá của Việt Nam thâm nhập thị trờng thế giới.
Chỉ tính trong phạm vi khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) kim ngạch xuất
khẩu của ta sang các nớc thành viên cũng đã tăng đáng kể. Năm 1990, Việt Nam
đã xuất khẩu sang ASEAN đạt 348,6 triệu USD, nhng đến năm 1998 đạt 2349
triệu USD. Nếu thực hiện đầy đủ các cam kết trong AFTA thì đến năm 2006 hàng
công nghiệp chế biến có xuất xứ từ nớc ta sẽ đợc tiêu thụ trên tất cả các thị trờng
các nớc ASEAN. Nếu sau 2000 nớc ta gia nhập WTO thì sẽ đợc hởng u đãi dành
cho nớc đang phát triển theo quy chế tối huệ quốc trong quan hệ với 132 nớc
thành viên của tổ chức này. Do vậy, hàng của ta sẽ xuất khẩu vào các nớc đó dễ
dàng hơn. Đối với các nớc EU cũng vậy, tiềm năng mở rộng thị trờng hàng hoá
Việt Nam tại các nớc đó là rất lớn. Dĩ nhiên nớc ta có bán đợc hàng ra bên ngoài
hay không còn phụ thuộc vào chất lợng, giá cả, mẫu mã hay nói cách khác là sức
cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam ra sao? Nếu hàng hoá Việt Nam có mẫu mã
5
đẹp, chất lợng tốt, giá thành rẻ thì việc chiếm lĩnh thị trờng thế giới là tất yếu.
Nhng do hiện nay nớc ta còn thiếu vốn, khoa học kĩ thuật cha đợc cải tiến đồng
bộ, do đó chất lợng hàng hoá cha cao, giá thành cha rẻ, mặc dù có đợc hởng
những u đãi về thuế.
3.2.2 Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút đầu t nớc ngoài, viện
trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế:
- Thu hút vốn đầu t nớc ngoài: Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội
để thị trờng nớc ta đợc mở rộng, điều này sẽ hấp dẫn các nhà đầu t. Họ sẽ
mang vốn và công nghệ vào nớc ta sử dụng lao động và tài nguyên sẵn có của
nớc ta làm ra sản phẩm tiêu thụ trên thị trờng khu vực và thế giới với các u đãi
mà nớc ta có cơ hội mở rộng thị trờng, kéo theo cơ hội thu hút vốn đầu t nớc
ngoài. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp trong nớc huy động và sử dụng vốn
có hiệu quả hơn.
Hiện nay đã có trên 70 nớc và vùng lãnh thổ có dự án đầu t vào Việt
Nam, trong đó có nhều công ty và tập đoàn lớn, có công nghệ tiên tiến. Điều
này góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nớc theo hớng công
nghiệp, phát triển lực lợng sản xuất và tạo nên công ăn việc làm. Tuy nhiên kể
từ giữa năm 1997 đến nay, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ,
đầu t trực tiếp nớc ngoài vào nớc ta có hớng suy giảm. Tuy vậy, kim ngạch
xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài vẫn tăng nhanh. Nếu
nh năm 1991 đạt 52 triệu USD thì năm 1997 là 1790 triệu USD.
- Viện trợ phát triển ODA: Tiến hành bình thờng hoá quan hệ tài chính của Việt
Nam, các nớc tài trợ và các thể chế tài chính tiền tệ quốc tế đã tháo gỡ từ năm
1992 đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào việc
xây dựng và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng. Tính đến 1999, tổng số vốn viện
trợ phát triển cam kết đã đạt 13,04 tỉ USD. Tuy nhiên, vấn đề quản lý và sử
dụng nguồn vốn ODA còn bộc lộ nhiều yếu kém, nhất là tình trạng giải ngân
chậm và việc nâng cao hiêu quả của việc sử dụng nguồn vốn ODA.
- Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần giải quyết tốt vấn đề nợ Việt Nam:
Trong những năm qua nhờ phát triển tốt mối quan hệ đối ngoại song phơng và
6
đa phơng, các khoản nợ nớc ngoài cũ của Việt Nam về cơ bản đã đợc giải
quyết thông qua câu lạc bộ Paris, London và đàm phán song phơng. Điều đó
góp phần ổn định cán cân thu chi ngân sách, tập trung nguồn lực cho các ch-
ơng trình phát triển kinh tế xã hội trong nớc.
3.2.3. Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện cho ta tiếp thu khoa
học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh:
- Việt Nam gia nhập kinh tế quốc tế sẽ tranh thủ đợc kĩ thuật, công nghệ tiên
tiến của các nớc đi trớc để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá,
tạo cơ sở vật chất kĩ thuật cho công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội. Hội
nhập kinh tế quốc tế là con đờng để khai thông thị trờng nớc ta với khu vực và
thế giới, tạo ra môi trờng đầu t hấp dẫn và có hiệu quả . Qua đó mà các kĩ
thuật, công nghệ mới có điều kiện du nhập vào nớc ta, đồng thời tạo cơ hội để
chúng ta lựa chọn kĩ thuật, công nghệ nớc ngoài nhằm phát triển năng lực kĩ
thuật, công nghệ quốc gia. Trong cạnh tranh quốc tế có thể công nghệ này là
cũ đối với một số nớc phát triển, nhng lại là mới, có hiệu quả tại một nớc đang
phát triển nh Việt Nam. Do yêu cầu sử dụng lao động của các công nghệ đó
cao, có khả năng tạo nên nhiều việc làm mới. Trong những năm qua, cuộc
cách mạng khoa học kĩ thuật, nhất là công nghệ thông tin và viễn thông phát
triển mạnh làm thay đổi bộ mặt kinh tế thế giới và đã tạo điều kiện để Việt
Nam tiếp cận và phát triển mới này. Sự xuất hiện và đi vào hoạt động của
nhiều khu công nghiệp mới và hiện đại nh Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Vĩnh
Phúc, Đồng Nai, Bình Dơng, Hải Phòng và những xí nghiệp liên doanh trong
ngành công nghệ dầu khí đã chứng minh điều đó.
Dĩ nhiên ngoài việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài để tạo cơ hội
tiếp nhận tiến bộ kĩ thuật và công nghệ, nớc ta vẫn có thể sử dụng ngoại tệ có
đợc nhờ xuất khẩu để nhập công nghệ mới về phục vụ các nhu cầu sản xuất
kinh doanh. Song vì nớc ta còn nghèo, dự trữ ngoại tệ rất hạn hẹp, kinh
nghiệm tiếp cận thị trờng bên ngoài cha nhiều, trình độ thẩm định công nghệ
lại kém và khả năng quản lý sản xuất kinh doanh với công nghệ cao còn yếu
cho nên còn đờng thích hợp hơn với nớc ta hiện nay là tiếp tục đổi mới cơ chế
7
và chính sách, tạo ra môi trờng đầu t hấp dẫn để lấy lại nhịp độ gia tăng thu
hút đầu t trực tiếp nh những năm trớc, qua đó tiếp nhân và chuyển giao công
nghệ có hiệu quả hơn.
- Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần không nhỏ vào công tác đào tạo và
bồi dỡng đội ngũ cán bộ trong nhiều lĩnh vực. Phần lớn cán bộ khoa học kĩ
thuật, cán bộ quản lý, các nhà kinh doanh đã đợc đào tạo ở trong và ngoài nớc.
Bởi mỗi khi liên doanh hay liên kết hay đợc đầu t từ nớc ngoài thì từ ngời lao
động đến các nhà quản ký đều đợc đào tạo tay nghề, trình độ chuyên môn đợc
nâng cao. Chỉ tính riêng trong các công trình đầu t nớc ngoài đã có khoảng 30
vạn lao động trực tiếp, 600 cán bộ quản lý và 25000 cán bộ khoa học kĩ thuật
đã đợc đào tạo. Trong lĩnh vực xuất khẩu lao động tính đến năm 1999 Việt
Nam đã đa 7 vạn ngời đi lao động ở nớc ngoài.
3.2.4. Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần duy trì hoà bình ổn định, tạo dựng môi
trờng thuận lợi để phát triển kinh tế, nâng cao vị trí Việt Nam trên trờng quốc tế.
Đây là thành tựu lớn nhất sau hơn một thập niên triển khai các hoạt động hội
nhập.
Trớc đây, Việt Nam chỉ có quan hệ chủ yếu với Liên Xô và các nớc Đông
Âu, nay đã thiết lập đợc quan hệ ngoại giao với 166 quốc gia trên thế giới. Với
chủ trơng coi trọng các mối quan hệ với các nớc láng giềng và trong khu vực
Châu á Thái Bình Dơng. Chúng ta đã bình thờng hoá hoàn toàn quan hệ với Trung
Quốc và các quốc gia trong khu vực Đông Nam á. Điều này có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng môi trờng quốc tế hoà bình, ổn
định nhằm tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc. Ngoài ra
đối với Mĩ chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1955. Tháng 7 Việt
Nam, Mĩ đã kí kết hiệp định thơng mại, đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến
trình bình thờng hoá nối quan hệ kinh tế giữa hai nớc.
3.2.5. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội mở rộng giao lu các nguồn lực nớc ta
với các nớc:
Với dân số khoảng 80 triệu ngời, nguồn nhân lực nớc ta khá dồi dào. Nhng
nếu chúng ta không hội nhập quốc tế thì việc sử dụng nhân lực trong nớc sẽ bị
8
lãng phí và kém hiệu quả. Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo cơ hội để nguồn nhân
lực của nớc ta khai thông, giao lu với các nớc. Ta có thể thông qua hội nhập để
xuất khẩu lao động hoặc có thể sử dụng lao động thông qua các hợp đồng gia
công chế biến hàng xuất khẩu. Đồng thời tạo cơ hội để nhập khẩu lao động kĩ
thuật cao, các công nghệ mới, các phát minh sáng chế mà t a cha có.
4. Thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế:
Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đa lại những lợi ích mà còn đặt
nớc ta trớc nhiều thử thách. Nếu chúng ta không có biện pháp ứng phó tốt thì sự
thua thiệt về kinh tế và xã hội có thể rất lớn. Ngợc lại, nếu chúng ta có chiến lợc
thông minh, chính sách không khéo thì sẽ hạn chế đợc thua thiệt, dành đợc lợi ích
nhiều hơn cho đất nớc.
4.1. Hiện trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay:
Việt Nam là một nớc có nền kinh tế đang phát triển. Mặc dù đã có những
bớc tiến quan trọng về tăng trởng kinh tế. Song chất lợng tăng trởng, hiệu quả sản
xuất, sức cạnh tranh của các sản phẩm, các doanh nghiệp và của nền kinh tế còn
thấp.
4.1.1. Tình trạng phổ biến hiện nay là sản xuất còn mang tính tự phát, cha bám sát
nhu cầu thị trờng. Nhiều sản phẩm làm ra chất lợng thấp, giá thành cao nên giá trị
gia tăng thấp, khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn, thậm chí có nhiều sản phẩm
cung vợt quá cầu, hàng tồn kho lớn. Năng lực cạnh tranh hàng hoá, dịch vụ của n-
ớc ta nói chung còn thấp do trang thiết bị công nghệ của nhiều doanh nghiệp còn
yếu kém, lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 30 năm, cộng thêm những yếu kém về
quản lý, môi trờng đầu t kinh doanh (thủ tục hành chính cha thông thoáng, chính
phủ đầu t quá cao so với các nớc trong khu vực), hạn chế về cung cấp thông tin
xúc tiến thơng mại.
4.1.2. Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nớc cha cao, tỉ lệ số doanh
nghiệp kinh doanh thua lỗ liên tục còn nhiều thực trạng tài chính của nhiều doanh
nghiệp thực sự đáng lo ngại: nhìn chung thiếu vốn, nợ nần kéo dài, tổng số nợ
phải thu của các doanh nghiệp chiếm 24% doanh thu, nợ phải trả chiếm 133%
9
tổng số vốn nhà nớc các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp không xác định tự lực
phấn đấu vơn lên mà còn dựa vào sự hỗ trợ, bảo hộ của nhà nớc, cha tích cực
chuẩn bị theo yêu cầu tiến trình hội nhập khu vực và thế giới.
Tuy nhiên không thể đổ lỗi hoàn toàn cho các doanh nghiệp mà nó còn phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố khác. Chi phí sản xuất của các doanh nghiệp còn lớn
đang làm giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm của doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp chỉ có thể giảm chi phí đầu vào bằng cách đầu t công nghệ mới, thay đổi
phơng thức quản lý triệt để tiết kiệm. Song họ không thể ngăn chặn đợc sự gia
tăng của chi phí đầu vào do sự leo thang giá cả của không ít loại vật t, nguyên
liệu, điện nớc, cớc phí giao thông, viễn thông. Nhất là cớc phí của các ngành có
tính độc quyền. Chẳng hạn nh giá truy cập internet trực tiếp có mức cớc cao hơn
các nớc trong khu vực là 139% Thêm vào đó hầu hết các sản phẩm của ta dù để
xuất khẩu hay tiêu dùng đều phải nhập ngoại nguyên, phụ liệu nên chi phí đầu
vào cao. Đã vậy hàng nhập khẩu ngoài việc phải chịu thuế nhập khẩu còn phải
chịu thuế VAT dù cha có giá trị tăng thêm. Trong khi đó thời gian hoàn thuế giá
trị gia tăng lại chậm, do vậy làm khó khăn cho doanh nghiệp về vòng quay vốn,
chịu lãi suất ngân hàng. Ngoài ra các doanh nghiệp còn phải chịu chi phí do sự
sách nhiễu của một số cán bộ nhà nớc thoái hoá biến chất. Hơn nữa sự rờm rà về
thủ tục hành chính, thanh kiểm tra chồng chéo cũng làm tăng chi phí đầu vào của
các doanh nghiệp. Do chi phí đầu vào cao nên giá thành sản phẩm quá cao so với
khu vực và thế giới, dẫn đến ứ đọng, khó tiêu thụ, năng lực sản xuất không khai
thác hết làm cho nhiều doanh nghiệp thua lỗ.
Điều đáng lo ngại nữa hiện nay là mặc dù thời điểm hội nhập với khu vực
và thế giới đang đến gần, song t tởng đòi bảo hộ, cha tích cực chuẩn bị còn phổ
biến ở nhiều doanh nghiệp. Theo điều tra của phòng Thơng Mại và Công Nghiệp
Việt Nam mới có 84% doanh nghiệp điều tra trả lời là có nhận đợc tin về hội
nhập, 16% doanh nghiệp cha có hiểu biết về quá trình hội nhập. Trong các doanh
nghiệp sản xuất hàng công nghiệp chỉ có 23,8% doanh nghiệp có hàng hoá xuất
khẩu, 13,7% doanh nghiệp có triển vọng xuất khẩu và 62,5% doanh nghiệp hoàn
toàn không có khả năng xuất khẩu. Việc Trung Quốc, Đài Loan gia nhập WTO,
10
việc 6 nớc thành viên ASEAN cũ thực hiện AFTA từ 1/1/2002 và gần đây Nhật
Bản kí thoả thuận với Singapo về thành lập khu vực tự do thơng mại giữa hai nớc,
cũng nh kế hoạch thành lập khu vực tự do thơng mại giữa Trung Quốc và ASEAN
vào 2010 sẽ tạo ra 1 số tuận lợi, song sẽ làm tăng cạnh tranh gay gắt về kinh tế
giữa các nớc trong khu vực cũng nh đối với nền kinh tế nớc ta về thơng mại, đầu t.
4.1.3. Môi trờng kinh doanh đầu t ở Việt Nam mặc dù đang đợc cải tiến song nhìn
chung còn cha thuận lợi, còn nhiều khó khăn: khuôn khổ pháp lý cha đảm bảo
cho cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, sự độc quyền trong một số
lĩnh vực của một số tổng công ti nhà nớc, hệ thống tài chính ngân hàng còn yếu
kém, sự thiếu minh bạch về cơ chế chính sách, chế độ thơng mại còn nặng về bảo
hộ, thủ tục hành chính còn rờm rà, cha thông thoáng. Các thể chế thị trờng nh thị
trờng vốn, sức lao động, thị trờng công nghệ, thị trờng bất động sản còn sơ khai,
cha hình thành đồng bộ.
4.1.4. Nguồn nhân lực Việt Nam dồi dao nhng tay nghề kém, lợi thế về lao động
rẻ có xu hớng đang mất dần:
Trớc mắt, do giá nhân công còn rẻ và đang có thị trờng rộng lớn nên ngành
may mặc và giầy da là hai ngành có lợi thế cạnh tranh cao nhất trong nhóm năm
sản phẩm công nghiệp có khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên lợi thế về nhân công rẻ
đang mất dần và giá nhân công các ngành này hiện đang cao hơn một số nớc
trong khu vực. Hơn thế nữa, để đào tạo nghề, nâng cao kĩ năng, trình độ tay nghề
cần phải chi phí đầu t lớn, điều này sẽ làm cho giá thành sản phẩm tăng lên, ảnh
hởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá.
Nh vậy nền kinh tế nớc ta còn tồn tại nhiều yếu kém, sức cạnh tranh thấp.
4.2. Những nguy cơ của Việt Nam khi tham gia kinh tế quốc tế và khu vực:
4.2.1. Nếu nh những u đãi về hàng rào thuế quan và xoá bỏ phí thuế quan tạo điều
kiện để nớc ta mở rộng thị trờng xuất khẩu ra các nớc thì nó cũng gây ra những
thách thức khá nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp Việt Nam:
Tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, nớc ta phải giảm dần
thuế quan và gỡ bỏ hàng rào phi thuế quan, thì hàng hoá nớc ngoài sẽ ào ạt đổ vào
nớc ta, chèn ép nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh trong nớc, kéo thoe hệ quả xấu
11
về việc làm, thu nhập và đời sống của ngời lao động. Bởi hàng hoá Việt Nam do
kĩ thuật và công nghệ và quản lý còn kém nên chất lợng thấp, giá thành lại cao.
Trong khi đó, nớc ngoài với dây chuyền công nghệ hiện đại, tay nghề lao động
vững vàng, trình độ quản lý cao, vốn lớn nên sản phẩm làm ra mẫu mã đẹp, chất l-
ợng tốt lại không phải nộp thuế khi xuất khẩu sang thị trờng Việt Nam nên giá
thành phù hợp. Sức cạnh tranh bấp bênh của các doanh nghiệp trong nớc đợc thể
hiện rõ. Ví dụ đờng của ta xuất xởng năm 1999 là 340 400 USD/tấn nhng giá
nhập khẩu chỉ có 260 300 USD/tấn (giá nhập khẩu rẻ hơn giá xuất xởng 20
30%), giá săt thép trong nớc sản xuất bình quân 300 USD/tấn nhng nhập khẩu chỉ
285 USD/tấn, giá xi măng Việt Nam là 840 ngàn đồng/tấn trong khi nhập khẩu
chỉ có 630 ngàn đồng/tấn.
Với vấn đề trên, nhiều doanh nghiệp trung bình và yếu kém thờng đòi hỏi
nhà nớc thi hành chính sách càng lâu càng tốt. Tuy nhiên nếu đứng từ góc độ lợi
ích toàn cục và lâu dài của quốc gia mà xem xét thì nhà nớc không thể và không
nên đáp ứng đòi hỏi của các doanh nghiệp đó. Bởi Việt Nam có nghĩa vụ thực
hiện các cam kết về tự do hoá thơng mại. Khi đã tham gia vào các tổ chức kinh tế
thế giới. Hơn nữa, việc thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch luôn là con dao hai l-
ỡi. Một chính sách bảo hộ có chọn lọc có điều kiện có thời hạn thích hợp thì sẽ
kích thích các nhà sản xuất trong nớc khẩn trơng đổi mới, tích cực vơn lên để có
sức cạnh tranh mạnh hơn. Trái lại, một chính sách bảo hộ quá mức thì rất có thể
trở thành gậy ông đập lng ông gây thiệt hại cả về kinh tế và xã hội. Chẳng hạn nh
việc hạn chế định lợng nhập khẩu xi măng năm 1999, làm cho giá xi măng thông
dụng cao hơn giá xi măng nhập khẩu cha có thuế là 50%. Do đó năm 1999, toàn
bộ xã hội phải trả thêm 220 triệu USD để bảo hộ ngành xi măng, trong đó gần 1/2
số tiền vào túi các nhà đầu t nớc ngoài.
Tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế để đi đến tự do hoá thơng mại tức
là chấp nhận t cách thành viên cạnh tranh ngang bằng với các nớc khác. Nhng
hiện tại chúng ta vẫn còn tụt hậu khá xa về kinh tế (nhất là trình độ công nghệ và
thu nhập bình quân đầu ngời) so với các nớc trong các tổ chức kinh tế mà ta sẽ và
đã tham gia. Chẳng hạn so vơi AFTA, thu nhập bình quân đầu ngời của ta cha
12
bằng 1/3 của Indonexia, 1/100 của Singapo Đây là một thách thức, bất lợi lớn
đòi hỏi ta phải có nỗ lực và quyết tâm cao. Đã vậy, trên thị trờng thế giới ta mới
chỉ xuất khẩu các mặt hàng sơ chế nh: dầu thô, gạo, cà phê còn các sản phẩm
công nghiệp chế biến nhất là sản phẩm chất lợng cao còn ít, sức cạnh tranh yếu.
Trong khi đó giá mặt hàng nguyên liệu và sơ chế lại bấp bênh hay bị tác động
xấu, bất lợi cho nớc xuất khẩu.
4.2.2. Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ ảnh hởng đến quyền độc lập tự chủ của một
quốc gia:
Không it ý kiến cho rằng: nớc ta hiện nay với xuất phát điểm kinh tế quá
thấp, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, thị trờng phát triển cha đồng
bộ, một bộ phận đáng kể của nền kinh tế cha thoát khỏi lối sản xuất hàng hoá
nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp, sức cạnh tranh kém. Trong khi
đó các nớc đi trớc, nhất là các cờng quốc t bản phát triển có lợi thế hơn hẳn về
nhiều mặt. Do đó nếu chúng ta mở rộng quan hệ với các nớc đó thì nớc ta khó
tránh khỏi sẽ bị lệ thuộc về kinh tế, và từ chỗ lệ thuộc về mặt kinh tế có thể đi đến
không giữ vững đợc quyền độc lập tự chủ.
Độc lập tự chủ về thực chất là mỗi nớc cần có sự tự lựa chọn còn đờng và
mô hình phát triển của mình, tự quyết định các chủ trơng, chính sách kinh tế
xã hội, tự đề ra mục tiêu chiến lợc và kế hoạch trong từng thời kì và các biện pháp
thực hiện mục tiêu đó. Nhng độc lập tự chủ không có nghĩa là đóng cửa với thế
giới. Nếu đóng cửa với thế giới là đi ngợc xu thế chung của thời đại, đẩy đất nớc
vào tình trạng chậm phát triển. Khi tình trạng chậm phát triển về kinh tế không đ-
ợc sớm khắc phục thì sẽ làm xói mòn lòng tin của nhân dân, làm nảy sinh nhiều
vấn đề xã hội nan giải, tạo ra nguy cơ t bên trong đối với trật tự an toàn xã hội.
Trái lại, mở rộng hợp tác kinh tế hai bên cùng có lợi, nớc ta với các nớc, các tổ
chức quốc tế đan xen lợi ích với nhau, chúng ta sẽ có thêm thế lực để củng cố độc
lập tự chủ của đất nớc. Quốc gia nào muốn độc lập và giàu mạnh thì phải buôn
bán với nhiều nớc, còn quốc gia nào chỉ buôn bán với một nớc thôi thì khó tránh
khỏi bị phụ thuộc vào nớc duy nhất ấy (Jose Marti)
4.2.3 Hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hởng tới bản sắc văn hoá dân tộc:
13
Xu thế toàn cầu hoá và tiến trình hội nhập với quốc tế thông qua siêu lộ
thông tin với mạng internet, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cha từng có để các
dân tộc, cộng đồng ở mọi nơi có thể nhanh chóng trao đổi với nhau về hàng hoá,
dịch vụ, kiến thức Qua đó góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế, phát triển khoa
học và công nghệ, mở mang sự hiểu biết về văn hoá của nhau. Mặt khác, quá trình
trên cũng làm nảy sinh mối nguy cơ ghê gớm về sự đồng hoá các hệ thống giá trị
và tiêu chuẩn, đe doạ, làm suy kiệt khả năng sáng tạo của nền văn hoá, nhân tố
hết sức quan trọng đối với sự tồn tại của nhân loại.
Nguy cơ nói trên lại càng tăng gấp bội khi một siêu cờng nào đó tự xem giá
trị văn hoá của mình là u việt, từ đó nảy sinh thái độ ngạo mạn và ý đồ áp đặt các
giá trị của mình cho các dân tộc khác bằng một chính sách có thể gọi là xâm lợc
văn hoá với nhiều biện pháp trắng trợn tinh vi. Trớc tình hình đó chúng ta không
thể lui về chính sách đóng cửa, khớc từ giao lu, trao đổi, đối thoại với bên ngoài.
Ngợc lại, chúng ta, với bản lĩnh vốn có của dân tộc: hoà nhập chứ không hoà tan
, tiếp thu những yếu tố nhân bản, hợp lí, khoa học tiến bộ của văn hoá các nớc để
làm giàu bản sắc văn hoá dân tộc. Đây sẽ là nhân tố khơi dậy tiềm năng sáng tạo
làm nên những giá trị vật chất và tinh thần mới trong quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nớc. Tuy nhiên chúng ta cũng tỉnh táo phản đối những văn hoá
ngoại lai không phân biệt tốt hay xấu dẫn đến mất gốc, lai căng về văn hoá gây
hậu quả xấu về t tởng đạo đức của các tầng lớp dân c.
Nh vậy chỉ có trên cơ sở giữ gìn và phát huy những giá trị u tú của văn hoá
dân tộc đi đôi với tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại thì văn hoá Việt Nam
ngày nay mới có thể đóng đợc vai trò vừa là mục tiêu, vừa là động lực và sẽ điều
tiết sự phát triển của kinh tế xã hội.
5. Điều kiện để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế :
5.1 Lợi thế cơ bản của nớc ta khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế :
- Vị trí địa lý thuận lợi
Bản chất kinh tế của vị trí địa lý là địa tô chênh lệch. Vị trí địa lý thuận lợi
sẽ cho phép thu đợc địa tô chênh lệch cao và ngợc lại, vị trí địa lý không thuận lợi
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét