LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Cơ sở khoa học của việc cấp GCNQSDĐ ở cho hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất": http://123doc.vn/document/553728-co-so-khoa-hoc-cua-viec-cap-gcnqsdd-o-cho-ho-gia-dinh-ca-nhan-dang-su-dung-dat.htm
yên tâm đầu t trên mảnh đất của mình. Vì trớc đây, đất đai không có giá, chỉ
sau khi có luật đất đai năm 1993 đất đai mới có giá. Do đó nhiều thửa đát còn ở
dạng xin cho, không có giấy tờ chứng thực hoặc mua bán trao tay (chỉ có
giấy tờ viết tay), hoặc đất đai lấn chiếm. Nên theo nh luật đất đai năm 1993 và
luật sửa đổi bổ sung năm 2001, rất nhiều thửa đất không đủ điều kiện để cấp
GCNQSDĐ nên ngời sử dụng đất rất mong muốn mảnh đất của mình đợc cấp
GCNQSDĐ. Mới đây luật đất đai 2003 đã ra đời và giải quyết những vớng mắc
đó, đã khắc phục những khó khăn trong công tác cấp GCNQSDĐ, để cố gắng
hoàn thành việc này trong năm 2005.
Trong những năm qua cùng với tốc độ phát triển KT XH, tốc độ đô
thị hoá diễn ra nhanh chóng làm cho đất đai biến động lớn và các quan hệ đất
đai diễn ra khá phức tạp. Để đáp ứng đợc nhu cầu thực tế và tăng cờng quản lý
chặt chẽ đất đai, chính phủ đã ban hành nghị định 60/CP ngày 05/7/1994 về
việc cấp GCNQ sở hữu nhà ở và quyền SD Đ ở. Công tác này có ý nghiã thiết
thực trong quản lý đất đai của Nhà nớc, đáp ứng nguyện vọng của các tổ chức
và công dân là đợc nhà nớc bảo hộ tài sản hợp pháp và thuận tiện giao dịch dân
sự về đất đai; tạo tiền đề hình thành và phát triển thị trờng Bất động sản công
khai lành mạnh. Cấp GCNQSDĐ cho nhân dân cũng là chủ trơng lớn của đảng
và nhà nớc nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển KT XH đồng thời tăng c-
ờng thiết chế nhà nớc trong quản lý đất đai tài sản vô giá của đất đai.
Bằng việc cấp GCNQSDĐ thì ngời sử dụng đất hợp pháp có quyền lớn
hơn đối với mảnh đất mình đang sử dụng. Điều mà trớc đây còn hạn chế. Khi
có GCNQSDĐ, ngời sử dụng đất có các quyền sau: chuyển đổi, chuyển nhợng,
cho thuê, thế chấp, thừa kế, và góp vốn liên doanh bằng đất đai, trong khuôn
khổ mà pháp luật cho phép. Điều này có tác dụng tích cực trong quản lý đất đai
cũng nh đảm bảo quyền lợi cho ngời sử dụng đất đai.
3. Cơ sở lý luận của việc cấp GCNQSDĐ ở
Có thể nói quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đát đai luôn là vấn đề quan
tâm của bất cứ một nhà nớc nào.
Hiến pháp năm 1992 của nớc CHXHCNVN đã ghi nhận rằng toàn bộ
đất đai trong phạm vi cả nớc thuộc sở hữu toàn dân do nhà nớc thóng nhất quản
lý. Nhà nớc giao đất cho tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.
Đối với nớc ta sau ngày đất nớc hoàn toàn thống nhất năm 1975 cả nớc
cùng bắt tay vào xây dựng CNXH. Trong hoàn cảnh mới của đất nớc, Hiến
pháp cùng với văn bản pháp luật về đất đai đã đợc ra đời cho phù hợp với sự
phát triển của đất nớc trong tình hình mới.
Hiến pháp năm 1980 là hiến phấp đầu tiên ra đời sau ngày đất nớc độc
lập đã quy định hình thức sở hữu duy nhất đối với đất đai, đó là hình thức sở
hữu toàn dân.
Điều 19 của Hiến pháp đã quy định: Đất đai, rừng núi sông hồ, hầm
mỏ tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa cùng các
tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nớc đều thuộc sở hữu toàn dân.
Để quản lý đất đai đợc thống nhất trong cả nớc và đúng pháp luật. Khi
cha có luật đất đai, nhà nớc đã ban hành nhiều văn bản quy định chế độ quản lý
đất đai.
+ Ngày 10/11/1980, Thủ tớng chính phủ ban hành chỉ thị số 229/TTG
với nội dung đo đạc, phân hạng đất và đăng ký thống kê đất đai trong cả nớc.
Từ đó có thể thấy rằng, cơ sở lý luận của công tác đăng ký đất đai, cấp
GCNQSDĐ đựơc thể hiện thông qua những quy định trong hệ thống các văn
bản pháp luật về đất đai của nhà nớc ta kể từ năm 1980.
Sau luật đất đai 1993, Chính phủ đã ban hành hàng loạt các văn bản về
giao đất, cấp đất, cho thuê đất sử dụng ổn định lâu dài cho các tổ chức, hộ gia
đình cá nhân. và công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ
là nội dung quan trọng nhất trong công tác quản lý của Nhà nớc đối với đất đai.
Trên cơ sở đăng ký, cấp GCNQSDĐ để từng bớc thiết lập và hoàn chình hệ
thống tài liệu, hồ sơ về đất đai.
Tổng cục quản lý ruộng đất đã ban hành các văn bản sau:
+ Quyết định số 201/QĐ - ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cục quản lý
ruộng đất hớng dẫn thi hành quyết định về cấp GCNQSDĐ.
Để đẩy mạnh hơn nữa công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ trong cả nớc
nhằm đáp ứng cho yêu cầu phát triển KT XH. Từ sau luật đất đai năm 1993,
Chính phủ và Tổng cục địa chính đã ban hành các văn bản luật sau:
+ Công văn số 1427/CV - ĐK ngày 13/10/1995 của Tổng cục địa chính
hớng dẫn xử lý một số vấn đề về đất đai để cấp GCNQSDĐ
+ Nghị định 60/CP ngày 5/7/1994 về quyền sở hữu nhà ở và QSD Đ ở tại
đô thị, ngành địa chính các tỉnh, thành phố trực thuộc TW đợc giao nhiệm vụ
chủ trì phối hợp với các ban, ngành có kiên quan và chính quyền các cấp ttriển
khai thực hiện NĐ 60/CP trên địa bàn thành phố.
Và gần đây nhất Luật đất đai 2003 đợc ban hành ngày 26/11/2003 và có
hiệu lực ngày 01/7/2004. Đây là văn bản có tính hiệu lực cao nhất ở nớc ta hiện
nay. Sau luật đất đai 2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định 181 về hớng dẫn
thi hành luật đất đai.
Theo luật đất đai và những hớng dẫn thi hành luật đất đai thủ tục cấp
GCNQSDĐ (sổ đỏ) sẽ đơn giản hơn, rõ ràng hơn, thời gian ngắn hơn, gắn liền
với trách nhiệm của từng cơ quan thực hiện các thủ tục. Nghị định hớng dẫn thi
hành luật đất đai giao cho UBND cấp xã, phờng, thị trấn chịu trách nhiệm đất
không có tranh chấp nên ngời dân không phải tự làm. Trong trình tự, thủ tục
cấp sổ đỏ, cán bộ Nhà nớc không có quyền bắt dân phải đi làm bất cứ việc gì,
ngoài việc dân phải đi nộp hồ sơ. Các cơ quan nhà nớc tự liên hệ với nhau để
phục vụ dân trong việc cấp sổ đỏ. Trong điều kiện không đủ điều kiện hoặc đủ
điều kiện để cấp sổ đỏ thì phải có nghĩa vụ thông báo cho dân biết.
Bộ Tài Chính cùng với bộ Tài Nguyên Môi Trờng sẽ xem xét cơ chế
ghi nợ các nghĩa vụ tài chính trong từng trờng hợp cụ thể nhằm tháo gỡ khó
khăn cho các hộ dân, khi số tiền sử dụng đất và các khoản thuế phải nộp vợt
quá khả năng của hộ khi làm sổ đỏ. Nghĩa vụ tài chính khi làm sổ đỏ gồm một
hoặc một số loại: tiền sử dụng đất, lệ phí trớc bạ, thuế chuyển quyền sử dụng
đất, và có sự khác nhau trong từng trờng hợp đất cấp mới , đất hợp thức hoá, đất
nhận chuyển nhợng, đất chuyển mục đích sử dụng.
Nh vậy cùng với quyết tâm xoá bỏ thủ tục rờm rà, việc xem xét đến cơ
chế ghi nợ nghĩa vụ tài chính là một bớc tiến và nỗ lực khá lớn nhằm tách bạch
giữa vấn đề cấp sổ đỏ và thực hiện nghĩa vụ tài chính. Mục tiêu là tạo điều kiện
thuận lợi cho dân.
4. Mục đích, yêu cầu , điều kiện, đối tợng của việc cấp GCNQSDĐ
4.1) Mục đích yêu cầu
Việc cấp GCNQSDĐ phải đạt đợc các mục đích sau:
- Đối với Nhà nớc: Vừa xác lập cơ sở pháp lý cho việc tiến hành các biện
pháp quản lý, vừa nắm chắc tài nguyên đất đai.
- Đối với ngời sử dụng đất: Yên tâm chủ động khai thác tốt nhất mọi
tiềm năng của khu đất đợc giao, hiểu và chấp hành tốt pháp luật về đất đai.
- GCNQSDĐ là chứng thủ pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa
Nhà nớc ngời quản lý chủ sở hữu đất đai với ngời đợc nhà nớc giao đất để sử
dụng. Quá trình tổ chức việc cấp GCN là quá trình xác lập căn cứ pháp lý đầy
đủ để giải quyết mọi quan hệ về đất đai theo đúng pháp luật. Vì vậy ngời đợc
cấp GCN phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Việc cấp GCNQSDĐ là công việc hết sức quan trọng, nó phải đợc tiến
hành lần lợt từng bớc vững chắc không nóng vội ồ ạt theo phong trào, đủ điều
kiện đến đâu cấp GCN đến đó. Cha đủ điều kiện thì để lại đa vào trờng hợp xét
cấp và có kế hoạch xử lý những trờng hợp đó bằng tài chính để cấp GCN cho
họ, chứ không thể bỏ lại đợc, làm nh vậy sẽ không bao giờ cấp đợc. Phải chủ
động tạo điều kiện để mọi ngời sử dụng đất thuộc mọi đại phơng đều lần lợt đ-
ợc cấp GCNQSDĐ. Đồng thời phải đợc sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của cấp
Uỷ Đảng và chính quyền các cấp.
4.2) Điều kiện, đối tợng đợc cấp GCNQSDĐ ở
Điều 50 luật đất đai 2003
Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình cá nhân, cộng
đồng dân c đang sử dụng đất.
1. Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đát ổn định, đợc UBND xã, ph-
ờng thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ
sau thì đợc cấp GCNQSDĐ và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a/. Những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trớc ngày 15/10/1993 do cơ
quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của
Nhà nớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời
Cộng Hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
nam.
b/. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời đợc cơ quan nhà
nớc có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính.
c/. Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; giấy tờ
giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất
d/. Giấy tờ chuyển nhợng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền
với đất ở trứoc ngày 15/10/93, nay đợc UBND xã, phờng ,thị trấn xác nhận là
đã sử dụng trớc ngày 15/10/93
e/. Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định
của pháp luật;
f/. Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế đọ cũ cấp cho ngời sử
dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy
tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên ngời khác, kèm
theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên
quan, nhng đến trớc ngày luật này có hiệu lực thi hành cha thực hiện thủ tục
chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của nhân dân xã, phờng, thị trấn xác
nhận là đất không có tranh chấp thì đợc cấp giấy chứng nhậ quyền sử dụng
đất và không phải nộp tiền sủ dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thờng trú tại địa
phơng và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản,
làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo,
nay thuộc Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là ngời đã sử dụng đất ổn
định, không có tranh chấp thì đựoc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và không phải nộp tiền sử dụng đất.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy
định theo khoản 1 Điều này nhng đất đã đợc sử dụng ổn định từ trớc ngày
15/10/93, nay đợc Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn xác nhận là đất không có
tranh chấp thì đợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp
tiền sử dụng đất.
5. Hộ gia đình, cá nhân đợc sử dụng đát theo bản án hoặc quyết định
của Toà án của cơ quan thi hành án, quyết định giả quyết tranh chấp đất đai
của cơ quan nhà nớc có thẩm quỳên đã đợc thi hành thì đợc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tìa chính theo quy định
của pháp luạt.
6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loịa giấy tờ quy
định tại khoản 1 Điều này nhng đất đã đợc sử dụng từ ngày 15/10/93 đến trớc
ngày luật này thi hành 01/7/ 04 nay đợc uỷ ban nhân dân xã, phờng, thị trấn
xác nhận quyền sử dụng đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử
dụng đất xét duyệt đối với nơi đẫ có quy hoạch sử dụng đất thì đợc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định
của Chính Phủ.
7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất đựoc nhà nớc giao đất, cho
thuê đất từ ngày 15/10/93 đến trớc ngày luật này có hiệu lực thi hành mà cha
đợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải đợc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; trờng hợp cha thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực
hiện theo quy định của pháp luật.
8. Cộng đồng dân c đang sử dụng đất có các cong trình là điình, đền,
miếu, am, từ đờng, nhà thờ họ đợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
khi có các điêuf kiện sau đây:
a) Có đơn đề nghị xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
b) Đợc uỷ ban nhân dân xã, phờng, thị trấn nơi có đất xác nhạn là đấyt sử
dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp.
II) Nhân tố tác dộng đến công tác cấp GCNQSDĐ ở
1. Nhân tố pháp lý
GCNQSDĐ là một chứng th pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa
Nhà nớc và ngời sử dụng đất.Điều này có nghĩa là GCNQSDĐ luôn có quan
hệ trực tiếp tới các văn bản pháp luật của Nhà nớc. Nhà nớc chỉ có thể quản lý
đợc công tác này thông qua các văn bản pháp luật và các chính sách. Đó là các
Nghị định, thông t hớng dẫn thi hành Công tác cấp GCNQSDĐ này có đạt đợc
kết quả tốt hay không chính là nhờ sự chỉ đạo sát sao của Nhà nớc. Chính phủ,
Bộ Tài Nguyên Môi Trờng đã tập trung chỉ đạo giao trách nhiệm cụ thể cho các
ngành các cấp trong công tác cấp GCNQSDĐ ở, để tạo sự phối hợp chặt chẽ
các ngành với các cấp Uỷ Đảng và UBND các tỉnh thành phố, các quận huyện,
phờng xã, thị trấn đã tạo nên sức mạnh tổng hợp xuyên suốt từ trung ơng đến
địa phơng.
Trớc đây, khi thẩm định hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ phải có nhiều
ngành tham gia, phức tạp mà hiệu quả không cao, cụ thể là quản lý đất riêng,
quản lý nhà riêng. Để thống nhất quản lý nhà đất về một mối, ngày 29/1/1999
THủ Tớng Chính Phủ có quyết định số 10/1999/QĐ-TTg thành lập tổng cục địa
chính và sở địa chính nhà đất ở các tỉnh thành phố.
Điều này đã tạo điều kiện rất cơ bản thống nhất tập trung chỉ đạo cấp
GCNQSDĐ đất ở và QSHN ở.
Và theo Luật đất đai 2003, Chính Phủ đã thống nhất sát nhập Tổng cục
địa chính với bộ Tài Nguyên Môi Trờng. Đây cũng là một việc làm rất thuận
lợi, giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nớc nói chung đợc tăng cờng
hơn và công tác cấp GCNQSDĐ nói riêng đợc đẩy nhanh tiến độ
2.Nhân tố KTXH
Nhìn chung trong các nhân tố trên, nhân tố con ngời vẫn là quan trọng
nhất. Con ngời là tổng hoà của các quan hệ xã hội. Con ngời tham gia vào công
tác này với vai trò nh: Ngời sử dụng đất, cán bộ địa chính ở các cấp và các cán
bộ của các ngành có liên quan, những ngời giúp chính Phủ đề ra những Nghị
Định thông t Trong đó thì đội ngũ cán bộ địa chính là những ngời tiếp xúc
trực tiếp tới công việc này và họ cũng có ảnh hởng rất lớn đến tiến độ cấp giấy
chứng nhận .
Bên cạnh nhân tố con ngời thì máy móc thiết bị phục vụ cho công tác đo
đạc đất đai, đo vẽ bản đồ và quản lý hồ sơ địa chính cũng rất quan trọng. Hiện
nay đất đai có nhiều biến động nếu chúng ta chỉ quản lý bằng phơng pháp thủ
công nh trớc kia thì không thể làm nổi mà phải áp dụng khoa học kỹ thuật vào
quản lý đất đai nh công nghệ bản đồ số, ứngdụng công nghệ thông tin là một
bớc hiện đại hoá công nghệ trong quản lý: Máy vi tính, máy in , máy vẽ pholer
khổ Ao và các thiết bị đo đạc điện tử nh TC- 600, TC- 307 và các trơng trình
phần mềm đo GPS.
Nếu áp dụng những tiến bộ khoa học của ngành công nghệ thông tin thì
thời gian xử lý hồ sơ, cấp GCNQSDĐ đợc rút ngắn; hạn chế mức tháp nhất
những sai sót trong quá trình đo vẽ, xử lý nội nghiệp, viết GCN.
Và một nhân tố nữa cũng ảnh hởng đến quá trình cấp GCNQSDĐ ở đó là
vị trí đất đai của từng vùng , ví nh đất ở Đô thị có nhiều biến động về hình thể,
diện tích, chủ sử dụng đất và giá đất ở đô thị cao. Nên công tác cấp GCNQSDĐ
ở là rất khó khăn. Còn ở nông thôn, giá đất thấp lại ít biến động, phần lớn đất
đai do ông cha để lại nên công tác cấp GCNQSDĐ nhanh hơn
III) Trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ
1. Đăng ký QSDĐKhâu đầu tiên trong công tác cấp GCNQSDĐ ở là việc
đăng ký QSDĐ.
Theo điều 46 luật ĐĐ năm 2003: Việc đăng ký QSDĐ đợc thực hiện tại
văn phòng đăng ký QSDĐ trong các trờng hợp sau đây:
1. Ngời đang sử dụng đất đợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2. Ngời sử dụng đất thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhợng, thừa kế,
tặng cho, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh,
góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định Luật này.
3. Nguời nhận chuyển quyền sử dụng đất.
4. Ngời sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đợc cơ quan
nhà nớc có thẩm quyền cho phép đổi tên, chuyển mục đích sủ dụng đất,
thay đổi thời hạn sử dụng đất hoặc có thay đổi đờng ranh giới thửa đất.
5. Ngòi đợc sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của toà án nhân dân,
quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết
tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền đã đợc thi hành.
Trong một bộ hồ sơ xin cấp sổ đỏ bao giờ cũng phải có một tờ đơn xin đăng
ký QSDĐ kèm theo đó là biên bản xác định hiện trạng sử dụng đất ( có trích
lục bản đồ của thửa đất ở mặt sau biên bản đó). Ngoài ra còn một số giấy tờ
khác liên quan (nếu có). Công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ này là một khâu rất
quan trọng trong việc cấp GCNQSDĐ. Các hồ sơ đăng ký này đợc đa đến từng
hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất để họ kê khai ( về số tờ bản đồ, số thửa,
diện tích thửa) cán bộ địa chính cấp xã, phờng, thị trấn có trách nhiệm đo đạc
lại diện tích thửa đất xem có khớp với bản đồ 94 không. Nếu có sai số bản đồ
thì phải nộp biên bản xác định diện tích tăng giảm (có mẫu sẵn)
2) Lập và quản lý hồ sơ địa chính
Lập và quản lý hồ sơ đại chính là việc tổng hợp các tài liệu có liên quan của
thửa đất đủ để có thể chính thức hoá nó trong quan hệ KT-XH mà thể hiện cụ
thể là cấp GCNQSDĐ. Điều này càng quan trọng và thậm chí có tính quyết
định trong nền kinh tế thị trờng khi cần chuyển một số tài sản vật lý để tạo
thành vốn (t bản). Nói cách khác những thông tin tổng hợp từ hồ sơ đại chính
đợc tích tụ lại trong GCNQSDĐ để xác nhận cái đang là của tài sản và
chuẩn bị cho nó trở thành cái sẽ là (vốn). Vậy là, một khi đã cấp đợc
GCNQSDĐ rồi thì những thông tin trớc đó trở thành lịch sử. Theo Đ 47 luật
đất đai.
Trên thực tế nhiều nớc đã có kinh nghiệm về lập và quản lý hồ sơ địa
chính. Hàng trăm năm nay, tuỳ vào tình hình KT XH của họ để chọn ra hình
thức và nội dung phù hợp ( hồ sơ địa chính kiểu pháp bằng khoán, hồ sơ địa
chính kiểu Đức xác nhận quyền; hồ sơ địa chính kiểu Torrens giấy chứng
nhận ). Tuy còn nhiều điểm khác nhâu về cả nội dung và hình thức nhng đều
có thể chuyển hoá theo sự phát triển của kỹ thuật tin học hiện đại. Theo đó sở
địa chính, bản đồ địa chính có thể có trớc hay sau khi lập xong hồ sơ địa chính
thửa đất và là công cụ quản lý thứ cấp, với kỹ thuật tin học hiện đại, các công
cụ này dễ đợc số hoá và nối mạng để quản lý và điều hành nhất là khi có
thay đổi trong hồ sơ địa chính. Trớc đây, Triều Đình nhà Nguyễn phong kiến
Việt Nam đã từng quy định địa bạ của mỗi làng phải lập thành ba bản Giáp ,
ất, Bính để lu ở ba cấp quản lý.
Lập và quản lý hồ sơ địa chính là một hoạt động chuyên sâu, có tính
chuyên nghiệp rõ ràng nên cần có một hệ thống tổ chức hợp lý và một đội ngũ
kỹ thuật viên đợc đào tạo kỹ càng đảm nhiệm, Luật đất đai 2003 quy định đó là
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (Đ64). Tuy nhiên khi triển khai cụ thể
cần phân biệt rõ đâu là phần chính công ( quản lý nhà nớc) và đâu là phần dịch
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét