đất thì sẽ trở thành kẻ làm thuê phụ thuộc vào chủ đất do đó cuộc sống sẽ bấp
bênh, thu nhập thấp , không có tiếng nói trong xã hội.
ở nớc ta thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân, điều này đã đợc quy định rõ
ràng trong Luật đất đai:Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nớc thống nhất
quản lý, Nhà nớc giao đất cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị vũ trang nhân dân,
các cơ quan nhà nớc, các tổ chức chính trị xã hội, các hộ gia đình, cá nhân sử dụng
lâu dài. Nhà nớc còn cho các chức, các hộ gia đình , cá nhân đợc quyền thuê đất.
Do vậy để đảm bảo đợc quyền quản lý tập trung thống nhất đất đai, đảm bảo đợc
quyền lợi chính trị của Nhà nớc nhng đồng thời cũng phải tạo ra những điều kiện
thuận lợi để ngời sử dụng đất có điều kiện sử dụng ổn định, tiết kiệm và mang lại
hiệu quả kinh tế cao thì Nhà nớc cần phải có những biện pháp , chính sách trong
quản lý và sử dụng đất đai một cách phù hợp , mềm dẻo và linh hoạt.
Tóm lại thì đất đai có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế
xã hội, đối với từng ngành , từng lĩnh vực của sản xuất, đối với việc nâng cao điều
kiện sống của con ngời và có vai trò đặc biệt quan trọng về mặt chính trị. Đặc biệt
trong điều kiện hiện nay khi đất nớc ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc và thực hiện chiễn lợc phát triển kinh tế với mục tiêu là đến năm 2020
về cơ bản đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp, do đó nhiệm vụ đặt ra đối với
chúng ta trong thời gian tới là hết sức nặng nề, chúng ta cần huy động hết các
nguồn lực , các thế mạnh của từng ngành , từng lĩnh vực để tạo đà cho sự phát
triển và để đạt đợc mục tiêu đã đề ra. Nhận thức đợc vai trò và tầm quan trọng của
đất đai trong việc phát triển kinh tế xã hội thì chúng ta cần phải có các biện pháp
hữu hiệu trong quản lý và sử dụng đất đai để có thể đa đất đai thực sự trở thành
động lực cho sự phát triển xứng đáng với vai trò và vị trí vốn có của nó.
2. Vai trò, vị trí của nhà ở
Nhà ở luôn là vấn đề quan tâm, là vấn nóng bỏng đối với mọi xã hội, trong
mọi thời kỳ. Nó là mối quan tâm của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng và
toàn thể xã hội, nhà ở là vấn đề có ảnh hởng đến mọi lĩnh vực của đời sống tế , văn
hoá, xã hội và chính trị.
Nhà ở là tài sản có giá trị đặc biệt đối với đời sống của con ngời, nó là tổ ấm
hạnh , là nơi bảo vệ con ngời trớc các hiện tợng của tự nhiên nh nắng, ma , gió
rétCon ngời muốn tồn tại và phát triển thì trớc hết phải đảm bảo đợc các điều
kiện cơ bản nh :ăn , mặc, ở và những t liệu sinh hoạt khác trong đó nhà ở là cơ sở
đầu tiên để con ngời thiết lập các mối quan hệ xã hội khác vì ông cha ta đã dạy:
5
an c lập nghiệp.Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh:con ngời trớc hết cần phải ăn, uống,
có chỗ ở và mặc đã rồi mới có thể làm trị, khoa học , nghệ thuật , tôn giáo. Nhà
ở là nơi mà trong đó mỗi gia đình tế bào của xã hội tiến hành các sinh hoạt
hàng ngày, là nơi mà mỗi thành viên của gia đình trở về đó sau mỗi ngày làm việc,
lao động, học tập vất vả để cùng quây quần bên nhau với những bữa cơm gia đình
đầm ấm, với những san sẻ cùng nhau để làm vơi bớt đi những lo toan , những gánh
nặng mà các thành viên phải gánh chịu, là nơi diễn ra những sinh hoạt hằng ngày
khác, là trờng học đầu tiên cho những đữa trẻ để cha mẹ dạy cho chúng những
tiếng nói đầu tiên, những bài học làm ngời và những kinh nghiệm trong lao động,
trong học tập của mỗi ngời cũng chịu tác động lớn nơi gia đình. Tại đó con ngời
thực hiện quá trình tái sản xuất sức lao động . Cùng với việc thu nhập ngày càng
tăng thì nhu cầu về nhà ở cũng tăng lên. Nhà ở dần không chỉ đơn thuần là nơi trú
ngụ, nó còn thể hiện cách sống, thẩm mỹ,địa vị xã hội của chủ ngôi nhà.
Cùng với sự phát triển của xã hội, cuộc sống của con ngời đã không ngừng
thay đổi cả về mặt chất và lợng, khi mà các nhu cầu của con ngời về ăn mặc đã
thay đổi , ngời ta không còn mong đợc ăn no mặc ẫm nữa mà ngời ta có nhu cầu
ăn ngon mặc đẹp thì nhà ở đối với mỗi gia đình càng trở nên quan trọng. Trớc kia,
mỗi gia đình chỉ cần có chỗ ở là đủ thì đến nay nhu cầu về nhà ở đã cao hơn rất
nhiều, mỗi ngời cần có phòng riêng, mỗi căn hộ, mỗi ngôi nhà cần có đầy đủ các
phòng với các chức năng khác nhau, nhà ở phải có đầy đủ tiện nghi. Thậm chí
những gia đình giàu có ở các thành phố còn có nhu cầu có thêm những ngôi nhà ở
các vùng nông thôn với không khí mát mẻ, trong lành, không gian rộng để làm nơi
nghỉ cuối tuần của gia đình.
Sự hình thành và phát triển của các cộng đồng làng, xã, thôn, xóm cũng nh
sự phát triển của các khu dân c và các khu đô thị luôn gắn liền với sự phát triển
nhà ở. Nhìn vào nhà ở chúng ta có thể thấy đợc phong tục tập quán cũng nh đời
sống vật chất cũng nh tinh thần của từng gia đình cũng nh của cả cộng đồng. Nhà
ở bao giờ cũng gắn liền với đất ở là phần diện tích đất mà trên đó chúng ta xây
dựng nhà ở và phần diện tích hành lang, lối đi , đất vờn, khuôn viên gắn lền với
nhà ở.
Đối với mỗi quốc gia thì nhà ở không chỉ là nuồn tài sản có giá trị lớn mà
nó còn thể hiện trình độ và tiềm năng trong phát triển kinh tế, nhà ở còn góp phần
tạo nên bộ mặt kiến trúc tổng thể. Các chủ trơng, nhính sách cũng nh các định h-
ớng của nhà nớc liên quan đến nhà ở thì đều tác dụng lớn đến các lĩnh vực khác
nh : phân bố dân c, hệ thống tài chính, tín dụng, ngân hàng, sự phân bố cũng nh
6
quy mô của các loại hình dịch vụ liên quanVì vậy mà Chính phủ các nớc luôn
quan tâm đến sự phát triển nhà ở thông qua hệ thống pháp luật và các chơng trình
phát triển nhà ở để giải quyết tốt vấn đề về nhà ở cho nhân dân. Đặc biệt là ở các
nớc đang phát triển thì vấn đề về nhà ở càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
II. Phân loại và đặc điểm của nhà ở chính sách
1. Phân loại nhà ở chính sách
Nhà chính sách bao gồm các loại nhà do nhà nớc quản lý trong quá trình
thực hiện các chính sách quản lý và cải tạo nhà cửa. Loại nhà này đợc hình thành
từ nhiều nguồn khác nhau, do nhiều đầu mối quản lý:một số do ngành nhà đất
quản lý, cho thuê, một số do cơ quan, tổ chức tiếp quản trớc đây tự quản lý, một số
cơ quan nhà nớc giao nhà thuộc diện trên cho ngời sử dụng tự quản lý. Căn cứ vào
điều kiện, hoàn cảnh ra đời thì nhà chính sách đợc chia thành:
1.1. Nhà vắng chủ
Nhà vắng chủ do Nhà nớc đang quản lý theo nghị định số 19/CP ngày
29/6/1960, Nghị định số 24/CP ngày 13/2/1961 , Quyết định 111/CP ngày
14/4/1977 bao gồm nhiều loại khác nhau, vì chúng đợc hình thành vào các thời
điểm khác nhau, trong các hoàn cảnh lịch sử khác nhau.
Phần lớn nhà vắng chủ đợc hình thành do sự kiện bỏ nhà đi Nam của hàng
nghìn hộ trong 2 năm 1954-1955 và một phần nhà vắng chủ do chủ nhà bỏ đi nớc
ngoài, do thực hiện chính sách cải cách ruộng đất.
Trong nhiều năm qua, các loại nhà vắng chủ này đã bố trí cho các cơ quan
và nhân dân sử dụng ổn định , nhiều nhà đã bị đổ nát , h hỏng nên đã đợc xây
dựng hoặc cải tạo lại thành nhà nhiều tầng, thành trụ sở cơ quanđể ổn định hiện
trạng nhà cửa, ổn định đời sống nhân dân, kể từ ngày1/7/1991 các loại nhà vẵng
chủ do Nhà nớc đang quản lý đều chuyển thành nhà thuộc sở hữu Nhà nớc. Để ổn
định hiện trạng nhà cửa, ổn định đời sống nhân dân, kể từ ngày1/7/1991 các loại
nhà vẵng chủ do Nhà nớc đang quản lý đều chuyển thành nhà thuộc sở hữu Nhà n-
ớc.
7
1.2. Nhà công t hợp doanh
Sau khi hòa bình lập lại, miền Bắc bớc vào thời kỳ quá độ tiến lên Chủ
nghĩa xã hội (CNXH). Dới sự lãnh đạo của Đảng, Cách dân tộc dân chủ nhân dân
chuyển sang cuộc Cách mạng CNXH. Nhiệm vụ cơ bản của miền Bắc lúc này là
đẩy nhanh cuộc cách mạng XHCN trọng tâm trớc mắt là đẩy mạnh cuộc cải tạo
XHCN đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, cuộc cải tạo
XHCN đối với thành phần kinh tế t bản t doanh và cuộc cải tạo đối với những ngời
có nhiều nhà cho thuê, đồng thời phải ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc
doanh để đa nó trở thành lực lợng lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Chúng ta đi lên xây dựng CNXH với xuất phát điểm rất thấp, cơ sở vật chất
hầu nh không có gì do chúng ta trải qua một thời gian chiến tranh quá dài đã tàn
phá kiệt quệ nền kinh tế và chúng ta đi lên CNXH khi cha qua giai đoạn phát triển
TBCN. Do đó để thực hiện đợc mục tiêu tốt đẹp đã đề ra thì chúng ta cần huy động
đợc hết mọi tiềm năng của đất nớc. Với chủ trơng nh vậy ngay từ năm 1958 Thành
phố Hà Nội đã tiến hành cuộc cải tạo công thơng nghiệp t bản t doanh
(CTNTBTD) nhằm kêu gọi các nhà t sản dân tộc, những ngời có vốn , tài sản hãy
góp vào để cùng Nhà nớc tiến hành sản xuất kinh doanh(Công t hợp doanh). Các
tài sản của nhân dân góp vào gồm một phần lớn là nhà đất, cơ sở sản xuất kinh
doanh. Từ đó hình thành nên loại nhà công t hợp doanh (CTHD)
1.3. Nhà cải tạo
Cũng trong cuộc cải tạo XHCN thì đến năm 1960 Hà Nội bắt đầu thực hiện
cuộc cải tạo XHCN với những hộ có nhiều nhà cho thuê. Cuộc cải tạo này kéo daì
từ năm 1960-1964 nhằm tăng cờng việc quản lý nhà nớc đối những nhà ở t nhân
cho thuê, hạn chế đi sự bóc lột TBCN về việc cho thuê nhà , giải quyết tình trạng
sử dụng nhà không hợp lý, sau khi những hộ có nhiều nhà cho thuê giao cho Nhà
nớc quản lý thì theo tinh thần của chính sách sẽ đợc Nhà nớc để lại cho họ một
phần diện tích để ở, phần này hoàn toàn thuộc sở hữu của họ.
Nh vậy nhà cải tạo là loại nhà đợc hình thành trong quá trình thực hiện
chính cải tạo XHCN( về nhà ở ) đối với những hộ có nhiều nhà cho thuê.
8
1.4.Ngoài các loại nhà chính sách ở trên còn có nhà chính sách quản lý theo
thông t 73/TTg và nhà ngời Hoa
Nhà ngời Hoa đợc xuất hiện sau sự kiện ngời Hoa bỏ nhà ra nớc ngoài.
Sự kiện này xuất hiện vào quý 4 năm1978 và kéo dài qua năm 1979. ở Hà Nội thì
nhà ngời Hoa đợc xếp vào loại nhà vẵng chủ còn ở các thành phố, thị xã khác thì
loại nhà này đợc xếp vào loại nhà của những ngời xuất cảnh hợp pháp hoặc không
hợp pháp.
*Nếu xét theo loại hình sở hữu thì trên cơ sở hồ sơ và thực tiễn đã tổng hợp đ-
ợc 5 dạng nhà tiêu biểu nh sau:
(1).Nhà thuộc sở hữu t nhân nhng có 2 thành phần t nhân sử dụng bao gồm:
- T nhân chủ nhà cũ sử dụng phần diện tích đợc Nhà nớc để lại để ở sau cải
tạo XHCN về nhà đất
- T nhân khác có nhà giao Nhà nớc quản lý và đợc Nhà nớc điều chuyển đến
ở vào phần diện tích đợc chủ nhà cũ giao Nhà nớc quản lý
(2)Nhà có 2 thành phần sở hữu: Sở hữu t nhân và sở hữu Nhà nớc gồm:
- T nhân chủ nhà đợc sử dụng phần diện tích đợc Nhà nớc để lại để ở sau cải
tạo XHCN về nhà đất hoặc phần diện tích thuộc kỷ phần sở hữu của mình trong
nhà cộng đồng sở hữu chủ
- Các hộ ký hợp đồng thuê nhà với Nhà nớc hoặc phần diện tích Nhà nớc đã
quản lý của chủ vắng mặt tại miền Bắc trong nhà cộng đông sở hữu chủ
(3) Nhà có 2 thành phần sơ hữu:sở hữu t nhân và sở hữu Nhà nớc gồm
- T nhân chủ nhà sử dụng phần diện tích đợc Nhà nớc để lại để ở sau cải tạo
XHCN về nhà đất
- Các đơn vị đợc Nhà nớc giao cho tự quản, sử dụng phần diện tích chủ nhà
đã đa vào công t hợp doanh(CTHD)
(4)Nhà thuộc sở hữu Nhà nớc nhng có 2 phần
- Phần diện tích thuộc ngành nhà đất quản lý đã ký hợp đồng cho các hộ thuê
- Phần diện tích thuộc các ngành khác đợc giao tự quản sử dụng làm trụ sở
làm việc, kinh doanh hoặc bố trí cho cán bộ ở
(5)Nhà thuộc sỏ hữu Nhà nớc bao gồm các hộ ký hợp đồng thuê với Nhà nớc
9
2. Đặc điểm của nhà chính sách
Dới thời Pháp thuộcvà những năm tạm chiếm(1947-1954), Thành phố Hà
Nội là một đô thị lớn, trong thời kỳ đó chính quyền cũ đã xây dựng và tổ chức việc
quản lý nhà đất theo những Nghị định đã đợc ban hành của chính quyền Pháp
trong toàn cõi Đông Dơng và chính quyền Bảo Đại. Từ năm 1927 chế độ quản thủ
điền thổ đợc thi hành ở Thành phố Hà Nội dứa trên cơ sỏ số liệu đo đạc địa chính,
tổ chức điều tra công khai lại trong nhân dân, sau đó lập bằng khoán điền thổ cấp
cho các chủ sở hữu.
Trớc năm 1940 Hà Nội có diện tích là 12km2 với tổng nhà trong thành phố
là 21.132 nhà trong đó có 14.503 nhà trong nội thành, với tổng diện tích ớc tính là
1.500.000m2 và số dân là 30 vạn dân do đó bình quân là 5m2 /ngời. Mỗi thửa đất
mỗi ngôi nhà chỉ có một thành phần sở hữu là sở hữu t nhân hoặc sở hữu của
Thành phố Hà nội. Các chủ sở hữu có nhà cho thuê, cho mợn thì có toàn quyền
trong việc định đoạt về các diện tích của ngôi nhà đó.
Sau ngày tiếp quản Thủ đô ngày 10/10/1954 tình hình nhà cửa ở Hà Nội nổi
lên nhiều vấn đề bề bộn cần đợc giải quyết, mở đầu là việc điều tra nắm lại tình
hình nhà ở , đăng ký quản lý các nhà vắng chủ .
Để cùng với các tỉnh thành khác trên khắp miền Bắc tiến lên xây dựng
CNXH thì bắt đầu từ năm 1958 Thành phố đã tiến hành cải tạo XHCN, trong đó
có việc cải tạo nhà cửa của thành phần CTNTBTD và các hộ t nhân có nhà cho
thuê thông qua các chính sách về công t hợp doanh, chính sách cải tạo về nhà ở.
Cuộc cải tạo XHCN đối với CTNTBTD kéo dài từ 1958-1960 còn cuộc cải tạo về
nhà cửa đối với các hộ t nhân có nhà cho thuê đợc bắt đầu từ năm1960 đến 1964.
Thông qua các chính sách cải tạo về nhà ở, công t hợp doanh, quản lý nhà
vắng chủđã mở đầu cho việc thống nhất quản lý nhà vắng chủ, nhà cho thuê, nhà
công t hợp doanh, tập trung phần lớn nhà cho thuê vào tay Nhà nớc, hạn chế nhà t
nhân cho thuê. Qua đó Nhà nớc dần xoá bỏ chế độ ngời bóc lột ngời và thiết lập
một quan hệ mới XHCN.
Nhng cũng chính thông qua các chính sách này đã làm cho nhà chính sách
mang một đặc điểm nổi bật là sự xen kẽ giữa các hình thức sở hữu theo kiểu xôi
đỗ tức là trong một ngôi nhà, một biển số nhà tồn tại nhiều hình thức sở hữu.
Chính đặc điểm này là mấu chốt gây ra những khó khăn trong quản lý, sử dụng
nhà chính sách nói chung cũng nh trong công tác xác lập quyền sở hữu, đăng ký
cấp giấy chứng nhận (GCN) quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở
10
(QSHNƠ&QSDĐƠ) thuộc dạng chính sách. Nó là nguyên nhân của hầu hết các vụ
tranh chấp về nhà ở chính sách(trên 80%).
Do mới chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng nên
chúng ta còn gặp nhiều bỡ ngỡ song đội ngũ cán bộ có trình độ trong ngành quản
lý nhà đất lại thiếu rất nhiều nên cha thấy hết đợc vấn đề phức tạp, khó khăn xung
quanh vấn đề về chung đụng sở hữu và trong quản lýloại nhà này gặp rất nhiều
khó khăn.
Trong thời gian tới muốn đẩy nhanh đợc công tác đăng ký cấp giấy chứng
nhận QSHNƠ&QSSDĐƠ) thì trong quản lý nhà đất nói chung và trong quản lý
nhà chính sách nói riêng chúng ta cần nhận thức đúng đắn về vấn đề này và có
những chính sách , biện pháp quản lý cho phù hợp . Đây là yêu cầu bức thiết đặt ra
đối với các cơ quan quản lý nhà đất ở Trung ơng cũng nh Thành phố Hà Nội.
III. Khái niệm và sự cần thiết phải cấp giấy chứng nhận QSHNƠ&
QSDĐƠ đối với nhà chính sách
1. Khái niệm về giấy chứng nhận QSHNƠ& QSDĐƠ
Giấy chứng nhận QSHNƠ& QSDĐƠ là chứng th pháp lý nhằm xác nhận
QSHNƠ& QSDĐƠ hợp pháp đợc cấp cho ngời sơ hữu nhà ở và sử dụng đất ở để
họ có cơ sở pháp lý thực hiện các quyền , nghĩa vụ trong quá trình sở hữu nhà ở và
sử dụng đất ở của họ theo pháp luật ,từ đó họ yên tâm đầu t, cải tạo nâng cao hiệu
quả sử dụng của ngôi nhà.
Do vậy mà giấy chứng nhận QSHNƠ& QSDĐƠ là chứng th pháp lý nhằm
xác nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với dạng nhà chính sách ,nó đợc cấp cho ngời
có nhà ở chính sách để họ có cơ sở pháp lý thực hiện các quyền, nghĩa vụ của
mình đối với việc sở hữu nhà ở đó theo pháp luật.
Quá trình tổ chức thực hiện việc cấp giấy chứng nhận QSHNƠ& QSDĐƠ
cho nhà chính sách là quá trình nhằm xác lập căn cứ pháp lý đầy đủ để giải quyết
các quan hệ trong quá trình sở hữu và sử dụng nhà chính sách để có đợc các tài
liệu cần thiết cho việc cấp giấy chứng nhận QSHNƠ& QSDĐƠ cho chủ sở hữu.
Việc cấp giấy chứng nhận QSHNƠ& QSDĐƠ phải đợc dựa trên cơ sở là
việc đăng ký nhà ở chính sách và phải đợc sự quan tâm của Đảng và các cấp chính
quyền.
Giấy chứng nhận nhận QSHN QSHNƠ& QSDĐƠ do cơ quan quản lý nhà
đất ở Trung ơng phát hành.
11
Giấy chứng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở có mẫu giống nh
giấy chứng nhận QSHNƠ& QSDĐƠ đợc ban hành theo Nghị định số 60/CP ngày
5/7/94 để cấp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất ở tại đô thị.
Giấy chứng nhận QSHNƠ& QSDĐƠ là một chứng th pháp lý nên cũng
giống nh bất kỳ căn cứ pháp lý nào nó cũng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Thể hiện đủ, đúng quy cách nội dụng của giấy chứng nhận(GCN), nội dung
không có thông tin phải đợc gạch bỏ bằng một nét ngang(-)
- Các nội dung viết trên giấy phải chính xác , thống nhất với đơn đăng ký đã
đợc duyệt, với quy định cấp GCN và với sổ địa chính
- Trên trang 2 của GCN chỉ viết một kiểu chữ, một loại mức theo ngôn ngữ
tiếng việt, chữ viết rõ ràng, không sửa chữa
*GCN có thể cấp theo từng thửa đất(mỗi thửa một giấy) họăc có thể cấp theo
hộ(mỗi hộ một giấy ghi tất cả các thửa đất và các nhà mà chủ đang sử dụng và sở
hữu).
2.Sự cần thiết của việc cấp GCN QSHNƠ& QSDĐƠ đối với nhà ở chính sách
Nói đến nhà ở thì chúng ta không thể tách rời nó với đất đai mà cụ thể là đất
ở. Ta đã biết rằng đất đai là sản phẩm của tự nhiên nhng đồng thời nó cũng là sản
phẩm của lao động ,nó là nguồn của cải vô cùng quý giá và là tài sản của mỗi
quốc gia. Đất đai và nhà ở không chỉ là những vấn đề có ý nghĩa về mặt kinh tế mà
quan ttọng hơn nó còn có ý nghĩa lớn về mặt chính trị do đó sự quản lý Nhà nớc về
đất đai và nhà ở là một sự cần thiết khách quan trong đó công tác cấp Giấy chứng
nhận QSHNƠ& QSDĐƠ là một nội dung lớn. Tăng cờng năng lực và hiệu quả
quản lý nhà nớc đối với đất đai và nhà ở đợc bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của
việc sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên đất nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế xã hội của đất nớc và do tính định hớng XHCN ở nớc ta quy định.
Cấp GCN Giấy chứng nhận QSHNƠ& QSDĐƠ sẽ tạo điều kiện để Nhà nớc có
thể tập trung thống nhất trong quản lý đất đai và nhà ở
Khi mà quyền của ngời sử dụng đất và sở hữu nhà ở càng đợc mở rộng thì
QSHNƠ& QSDĐƠ càng trở nên những tài sản quan trọng đối với những ngời có
nó . Đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trờng phát triển thì các giao dịch về đất
đai và nhà ở ngày càng trở nên sôi động và có vai trò quan trọng trong phát triển
kinh tế. Khi đó thì việc cấp GCN QSHNƠ& QSDĐƠ đã trở thành đòi hỏi tất yếu
của những sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở .
12
Đối với nhà chính sách thì do đặc điểm là đan xen giữa nhiều hình thức sở
hữu và cơ sở nhằm xác định đâu là phần sở hữu của t nhân đâu là phần sở hữu của
Nhà nớc là rất khó khăn nên thờng xuyên xảy ra tranh chấp (đặc biệt là những
phần diện tích phụ), điều này ảnh hởng nhiều đến đời sống kinh tế văn hóa, xã hội,
an ninh, trật tự, đạo đức xã hộiHơn nữa việc quản lý nhà chính sách liên quan
trực tiếp đến các chính sách cải tạo nhà cửa, CTHD, quản lý nhà vắng chủDo
vậy việc cấp GCN QSHNƠ& QSDĐƠ càng trở thành một nhu cầu bức thiết đối
với cả công tác quản lý Nhà nớc và đối với cả những ngời sở hữu, sử dụng nhà ở
chính sách.
2.1.Đối với Nhà nớc
Cấp GCN QSHNƠ& QSDĐƠ là một nội dung trong công tác quản lý Nhà
nớc về đất đai và nhà ở. Thông qua việc cấp GCN QSHNƠ& QSDĐƠ vừa giúp
cho Nhà nớc xác lập đợc cơ sở pháp lý cho việc tiến hành các biện pháp quản lý
vừa giúp Nhà nớc nẵm chắc đợc tình hình quản lý, sử dụng và các giao dịch diễn
ra đối với nhà ở chính sách, từ đó Nhà nớc nắm đợc thực trạng về quỹ nhà chính
sách
Công tác đăng ký cấp GCN QSHNƠ& QSDĐƠ cho nhà chính sách là một
nội dung trong công tác đăng ký cấp GCN QSHNƠ& QSDĐƠ tại đo thị do đó đẩy
nhanh tiến độ trong công tác cấp GCN QSHNƠ& QSDĐƠ cho nhà chính sách
chính là thúc đẩy để sớm hoàn thành công tác xác lập quyền sở hữu cho nhà ở tại
đô thị
Trong một thời gian dài công tác quản lý nhà đất bị buông lỏng và do sự
phát triển nhà ở nhiều năm trớc đây có sự nhận thức không đầy đủ nên tình trạng
nhà ở hiện nay của Hà Nội còn rất lộn xộn , trật tự kỷ cơng không đợc đảm bảo.
Tình trạng cơi nới trái phép và xây dựng không phép diễn ra thờng xuyên dẫn đến
làm giảm hiệu lực của các công cụ pháp luật,tình trạng tranh chấp, khiếu kiện th-
ờng xuyên xảy ra
Đối với nhà chính sách thì do đặc điểm xen kẽ giữa sở hữu t nhân và sở hữu
Nhà nớc theo kiểu xôi đỗ, mặt khác lại do các chính sách cải tạo nhà ở, CTHD,
quản lý nhà vẵng chủ đã để lại những lỗ hổng lớn trong quản lý nhà chính sách
nên vấn đề về nhà ở chính sách còn lộn xộn và phức tạp hơn nhiều.
Do vậy mà ccông tác đăng ký cấp GCN QSHNƠ& QSDĐƠ nói chung và
công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở
đối với nhà chính sách nói riêng ngày càng trở thành một đòi hỏi cấp thiết trong
13
công tác quản lý nhà nớc về đất đai và nhà ở. Nó nhằm thiết lập đầy đủ hồ sơ địa
chính, giúp chính quyền các cấp có cơ sở quản lý chặt chẽ, đầy đủ đối với nhà đất .
Cũng từ đó Nhà nớc có các biện pháp quản lý, sử dụng tốt nhất đối với nhà chính
sách góp phần vào việc phát triển nhà ở, phát triển kinh tế xã hội của Hà Nội, góp
phần làm thay đổi bộ mặt của Hà Nội xứng đáng với vai trò là thủ đô của đất nớc
và sánh kịp với sự phát triển của các đô thị trong khu vực và trên thế giới.
2.2. Đối với ngời sở hữu , sử dụng nhà chính sách
Khi đợc cấp GCN QSHNƠ& QSDĐƠ thì ngời sở hữu nhà ở và sử dụng đất
ở có thể yên tâm, chủ động khai thác tốt nhất mọi tiềm năng của ngôi nhà.
Trớc hết cũng xuất phát từ đặc điểm của nhà chính sách là có sự đan xen,
lồng ghép giữa nhiều hình thức sở hữu do đó sự tranh chấp liên quan đến nhà
chính sách thờng xuyên xảy ra gây ảnh hởng đến trật tự, an toàn xã hội, vi phạm
đến các quan hệ tình cảm của con ngời , có khi còn dẫn đến cẩ tình trạng anh em,
họ hàng chém giết lẫn nhau, kiện tụng đa nhau ra toàĐây là điều mà chẳng ai
muốn.
ông cha ta đã nói an c lập nghiệp, do đó muốn làm ăn kinh tế, phát triển
các mặt khác của con ngời thì trớc hết mỗi ngời cần có nơi ăn chốn ở an toàn, ổn
định. Vì vậy quyền có chỗ ở an toàn, ổn định là quyền chính đáng của con ngời và
đã đợc pháp luật quy định, bảo vệ. Điều 62 của Hiến pháp năm 1992 của nớc Việt
Nam có quy định Công dân có quyền có nhà ở . Nhà nớc mở rộng việc xây dựng
nhà ở đồng thời khuyến khích, giúp đỡ tập thể và công dân xây dựng nhà ở theo
quy hoạch chung, nhằm từng bớc thực hiện quyền đó. Việc phân phối diện tích
nhà ở do Nhà nớc phân phối phải công bằngvà hợp lý.
Hơn nữa khi chuyển sang cơ chế thị trờng thì mọi thứ đều trở thành hàng
hoá, chính điều này làm cho nền kinh tế thị trờng ngày càng phát triển và phát
triển mạnh mẽ. Cũng nằm trong xu thế tất yếu đó mà nhà ở nói chung và nhà ở
chính sách nói riêng cũng đặt ra yêu cầu là làm sao để có thể thực hiện đợc các
giao dịch có kiên quan đến nhà ở chính sách và các giao dịch này phải đợc pháp
luật bảo vệ để từ đó góp phần thúc đẩy sự hình thànhvà phát triển thị trờng bất
động sản ở nớc ta nói chung và ở Thành phố Hà Nội nói riêng
Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở là một quyền tài sản, nó là một
bộ phận cấu thành của tài sản. Quyền sở hữu nhà ở bao gồm các quyền: quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Quyền sở hữu tài sản phải đợc quy
định trong pháp luật và đợc pháp luật bảo vệ. Khi tham gia vào thị trờng bất động
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét