Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Tổng quan về tổng đài SPC

Video, các số liệu tốc độ vừa và cao, truyền FAX để đáp ứng các đặc tính dịch vụ
của chúng, đồng thời khi cung cấp một dịch, các tần số khác nhau có thể đợc sử
dụng để có kết quả tối u, theo đó, việc thiết lập nhiều mạng lới viễn thông khác
nhau, sử dụng các dải tần khác nhau và các dịch vụ khác nhau là điều không thực
tế và không kinh tế. Do vậy, một nhu cầu cấp bách là phát triển công nghệ các
mạng lới viễn thông với dung lợng có thể giao tiếp đợc với nhau, có khả năng xử
lý các loại dịch vụ khác nhau để có thể đa ra sử dụng trong tơng lai gần. Với mục
đích này, các nhà nghiên cứu và kỹ s tham gia vào lĩnh vực này đang cố gắng kết
hợp các mạng lới viễn thông hiện nay một cách có hệ thống và có hiệu quả.
Xu hớng gần đây có đặc điểm là tăng nhu cầu đối với mạng lới số. Phơng pháp
PCM-24 đã đợc thơng mại hoá một cách thành công, vì vậy chứng minh rằng
truyền dẫn số là kinh tế hơn nhiều so với phơng pháp truyền dẫn tơng tự. Kể từ đó,
các hệ thống tổng đài số sử dụng hệ thống truyền dẫn số đã đợc lắp đặt và vận
hành một cách rộng rãi.
Những u điểm của mạng lới viễn thông số là:
- Khi sử dụng hệ thống tổng đài tơng tự và đờng truyền dẫn số, bộ mã hoá và
bộ giải mã đợc sử dụng cho các dịch vụ thoại để biến đổi các tín hiệu ngợc lại
thành tiếng nói tại thời điểm chuyển mạch.
- Khi sử dụng hệ thống tổng đài số và đờng truyền dẫn số, chỉ cần có một thiết
bị đầu cuối với khả năng thực hiện chức năng đơn giản vì các tín hiệu số đã đợc
đấu nối ở mức ghép kênh. Một u điểm của việc sử dụng hệ thống tổng đài số là nó
làm tăng chất lợng truyền dẫn. Trong mạng lới điện thoại số, các tín hiệu đã đợc
mã hoá tại tổng đài chủ gọi đợc giải mã, sau đó đợc mã hoá tại tổng đài trung
chuyển và cuối cùng đợc gửi đến tổng đài bị gọi. Do đó, bằng cách sử dụng phơng
pháp này, có thể tránh đợc việc tăng tiếng ồn phát ra khi chuyển các tín hiệu tơng
tự thành các tín hiệụ số. Ngoài ra, do đờng truyền dẫn số trải qua ít thay đổi về
mức hơn là đờng truyền dẫn tơng tự, hiện tợng mất đờng truyền sẽ có thể đạt nhỏ
hơn. Để thực hiện mục đích này, nếu sử dụng một đờng truyền dẫn số giữa hai
tổng đài, thì sự mất đờng truyền có thể giảm bớt từ 10dB xuống còn 6 dB. Đồng
thời, trong mạng điện thoại số, đối với một đờng điện thoại 64 kbps (kilo bit per
second) đợc dùng nh tốc độ bit cơ sở; các số liệu, fax, và thông tin video có tốc độ
nhỏ hơn mức bit này có thể đợc gửi đi một cách tơng đối dễ dàng hơn thông qua
mạng điện thoại số. Nh đã nêu, các thiết bị có thể đợc chia sẻ theo các yêu cầu
5
dịch vụ và vì thế có thể đợc sử dụng một cách linh hoạt để ứng dụng cho các loại
dịch vụ hiện đang tồn tại cũng nh các dịch vụ mới.
Các nhà nghiên cứu và các kỹ s ở các nớc tiên tiến đang cố gắng phát triển
loại mạng truyền thông số này. Tiến trình thực hiện đợc trong công nghệ số đợc
giải thích ở hình 1.3. Một đờng truyền số đợc sử dụng giữa hai tổng đài trong
mạng lới tích hợp số đợc mô phỏng trong sơ đồ. Đồng thời mạng ISDN (Integrated
Services Digital Network - Mạng số đa dịch vụ) cũng đợc phát triển, trong đó các
dịch vụ tích hợp đợc cung cấp với các thiết bị đầu cuối đợc số hoá. Ngoài ra, do
các loại dịch vụ viễn thông đa ra ngày càng trở nên phong phú, một phạm vi rộng
các thiết bị đầu cuối, một trong ba thành phần quan trọng trong mạng lới viễn
thông, chủ yếu là thiết bị đầu cuối, đờng truyền dẫn và các thiết bị tổng đài, hiện
nay đợc sử dụng rộng rãi. Hầu hết các thiết bị đầu cuối công cộng hiện nay đều đ-
ợc thiết kế để vận hành càng dễ càng tố, tuy nhiên một số thiết bị đầu cuối này gọi
là các thiết bị đầu cuối tích hợp, đợc trang bị với các tính năng tiên tiến dùng cho
các dịch vụ đặc biệt. Từ đó, việc sử dụng truyền thông sẽ trở nên đa dạng hoá hơn,
và việc cố gắng phát triển công nghệ phù hợp cho các mục đích đó cũng sữ đợc
thực hiện.
vẽ sơ đồ (Hình 1.3)
1.3- Mạng và dịch vụ viễn thông
1.3.1- Mạng viễn thông
a. Định nghĩa:
Mạng viễn thông là tập hợp các trang thiết bị kỹ thuật để tạo điều kiện trao đổi
thông tin theo yêu cầu của các đối tợng trong mạng.
b. Các thành phần trong mạng:
* Thiết bị đầu cuối thông tin (Terminal Equipment): Là nơi phát và nhận
thông tin.
* Các trung tâm thông tin: Là nơi thu thập và xử lý thông tin nhằm phân phối
cho các đối tợng có nhu cầu trong mạng.
* Mạng truyền dẫn thông tin:
Đợc sử dụng để liên kết các thiết bị đầu cuối thông tin với các trung tâm thông
tin và giữa các trung tâm thông tin đợc gọi là đờng dây thuê bao. (ở đây thuê bao
có cả thuê bao cá nhân và mạng thuê bao địa phơng), nhng hiệu suất sử dụng th-
6
ờng là thấp (đợc tính theo thời gian sử dụng trên một khoảng thời gian xét). Đờng
nối giữa các trung tâm thông tin với nhau đợc gọi là các đờng trung kế).
Thuê bao: (Hình 1.4)
Vẽ sơ đồ hình 1.4 ; 1.5
* Phần mềm của mạng (Kỹ thuật mạng):
Mô tả sự liên kết 3 nhóm thiết bị trên theo kiều nào. Bao gồm các hệ thống
báo hiệu, các giao thức mạng, các quy chuẩn để 3 nhóm thiết bị trên hoạt động có
hiệu quả.
1.3.2- Dịch vụ viễn thông
a. Định nghĩa:
Là phơng tiện để liên kết thông tin với nhau diễn ra dới 3 dạng (Tiếng nói,
chữ viết, hình ảnh) đợc biến đổi thành tín hiệu điện để truyền đi và gọi là thông tin
điện.
- Phục vụ trao đổi thông tin bằng tiếng nói đợc gọi là mạng điện thoại truyền
thanh.
- Phục vụ trao đổi thông tin bằng chữ viết đợc gọi là mạng FAX, Điện báo,
Truyền số liệu.
- Phục vụ trao đổi thông tin bằng hình ảnh đợc gọi là mạng truyền hình ảnh.
Ngoài ra còn có mạng Điện báo TELEX, mạng in ấn từ xa.
Tất cả đều đợc gọi chung là dịch vụ viễn thông và đợc chuẩn hoá chất lợng
QOS (Quality of Service - Chất lợng của dịch vụ).
b. Đặc điểm của dịch vụ viễn thông:
* Thông tin có địa chỉ: Là thông tin phải đợc gửi đến một địa chỉ nào đó.
* Thông tin không có địa chỉ: Là thông tin đợc phủ sóng cho một vùng không
gian nào đó hay còn gọi là thông tin quảng bá.
*Thông tin có tính một chiều: Nh thông tin sử dụng để thông báo, thông tin
quảng bá,
* Thông tin có tính hai chiều: Nh thông tin thoại,
* Xem xét thông tin có bị trễ theo thời gian hay không.
Tất cả các thông tin trên đều là thông tin điện.
c. Mạng đa dịch vụ:
Là một phơng tiện kỹ thuật tốt nhất mà nó có thể cung cấp nhiều loại dịch vụ
cho hệ thống viễn thông nhằm thoả mãn nhu cầu của các đối tợng sử dụng.
7
Chơng II
Tổng đài số và mạng lới giữa các tổng đài
2.1- Tổng đài số
2.1.1- Sơ đồ khối:
Về cơ bản, tổng đài số gồm có một mạng chuyển mạch, thiết bị báo hiệu, bộ
phối ghép, khối bảo dỡng và một bộ điều khiển (Hình 2.1).
vẽ sơ đồ (Hình 2.1).
Cả tổng đài là một hệ thống, một hệ thống có thể chia ra nhiều phân hệ (gọi
là các hệ thống con), tuỳ theo mục đích sử dụng của con ngời (có nghĩa là tổng đài
có thể chia ra nhiều khối hơn hay ít khối hơn).
Tổng đài tơng tự chuyển mạch các tín hiệu âm thanh tơng tự, nh dạng vốn có
của nó và tự sử dụng các chuyển mạch điện cơ nh các bộ chuyển mạch ngang dọc
và các bộ chuyển mạch lớn cấu thành mạng chuyển mạch.
Còn tổng đài số đấu nối thông tin số 0 và 1 từ các mạch tổ hợp bán dẫn nh các
LSI. Do vậy, các chuyển mạch số sử dụng các phần tử chuyển mạch nh các bộ nhớ
bán dẫn và các mạch cổng.
2.1.2- Các chức năng của hệ thống tổng đài:
Mặc dù các hệ thống tổng đã đợc nâng cấp rất nhiều từ khi có đợc phát minh
ra các chức năng cơ bản của nó nh đã xác định các cuộc gọi của thuê bao, kết nối
với thuê bao bị gọi và sau đó tiến hành phục hồi lại khi các cuộc gọi đã hoàn
thành, hầu nh vẫn nh cũ. Hệ tổng đài dùng nhân công tiến hành các quá trình này
bằng tay trong khi hệ tổng đài tự động tiến hành các việc này bằng các thiết bị
điện.
ở tổng đài dùng nhân công, khi một thuê bao gửi đi một tín hiệu thoại tới một
tổng đài, nhân công cắm nút trả lời của đờng dây bị gọi vào ổ cắm của đờng dây
chủ gọi để thiết lập cuộc gọi với phía bên kia. Khi cuộc gọi đã hoàn thành ngời
vận hành rút dây nối ra và đa về trạng thái ban đầu. Hệ tổng đài dùng nhân công
đợc phân loại thành loại điện từ và hệ dùng ắc quy chung. Đối với loại dùng điện
8
tử, thì thuê bao lắp thêm cho mỗi ắc quy một nguồn điện. Các tín hiệu gọi và tín
hiệu hoàn thành cuộc gọi đợc gửi tới ngời thao tác viên bằng cách sử dụng từ tr-
ờng. Đối với hệ dùng ắc quy chung, cuộc gọi đợc đơn giản chuyển đến ngời thao
tác viên thông qua các đèn báo hiệu.
Trong hệ tổng đài tự động, các cuộc gọi đợc phát ra và hình thành thông qua
các bớc (các chức năng của tổng đài) sau:
Nhận dạng thuê bao chủ gọi:
Xác định sau khi thuê bao nhấc ống nghe và cuộc gọi đợc nối với mạch điều
khiển.
Tiếp nhận số đợc quay:
Khi đã đợc nối với mạch điều khiển, thuê bao chủ gọi bắt đầu nghê tín hiệu
mời quay số và sau đó chuyển số điện thoại của thuê bao bị gọi. Hệ tổng đài thực
hiện các chức năng này.
Kết nối cuộc gọi:
Khi các số đợc quay ghi lại, thuê bao bị gọi đã đợc xác định, thì hệ tổng đài sẽ
chọn một bộ các đờng trung kế đến tổng đài của thuê bao bị gọi, và sau đó chọn
một đờng rỗi trong số thuê bao đó. Khi thuê bao bị gọi nằm trong tổng đài nội hạt,
thì một đờng gọi nội hạt đợc sử dụng.
Chuyển thông tin điều khiển:
Khi đợc nối đến tổng đài của thuê bao bị gọi hay tổng đài trung chuyển, cả hai
tổng đài trao đổi với nhau các thông tin cần thiết nh số thuê bao bị gọi
Kết nối trung chuyển:
Trong trờng hợp đợc nối đến là tổng đài trung chuyển. Kết nối cuộc gọi và
chuyển thông tin điều khiển đợc nối đến trạm chố và sau đó thông tin nh số thuê
bao bị gọi đợc truyền đi.
Kết nối trạm cuối:
Khi trạm cuối đợc đánh giá là trạm nội hạt dựa trên số của thuê bao bị gọi đợc
truyền đi, thì bộ điều khiển trạng thái máy bận của thuê bao gọi đợc tiến hành.
Nếu máy không ở trạng thái máy bận, thì một đờng nối đợc nối với các đờng trung
kế đợc chọn để kết nối cuộc gọi.
9
Truyền tín hiệu chuông:
Để kết nối cuộc gọi tín hiệu chuông đợc truyền và chờ cho đến khi có trả lời từ
thuê bao bị gọi. Khi trả lời, tín hiệu chuông bị ngắt và trạng thái đợc chuyển thành
trạng thái máy bận.
Tính cớc:
Tổng đài chủ gọi xác định câu trả lời của thuê bao bị gọi và nếu cần thiết bắt
đầu tính toán giá trị cớc phải trả theo khoảng cách không gian gọi và theo thời
gian gọi.
Truyền tín hiệu báo bận:
Khi tất cả các đờng trung kế đều bị chiếm giữ theo các bớc trên đây hoặc
thuê bao bị gọi bận thì tín hiệu bận sẽ đợc truyền đến thuê cho bao chủ gọi.
Hồi phục hệ thống:
Trạng thái này đợc xác định khi cuộc gọi kết thúc. Sau đó tất cả các đờng nối
đều đợc giải phóng.
Để cho tổng đài có u điểm hơn thì khi thiết kế cần phải xét đến các điểm cơ
bản sau đây:
- Tiêu chuẩn truyền dẫn:
Mục đích đầu tiên của việc đấu nối điện thoại là truyền tiếng nói và theo đó là
một chỉ tiêu của việc truyền dẫn để đáp ứng chất lợng gọi phải đợc xác định bằng
cách xem xét sự mất mát khi truyền, độ rộng dải tần số truyền dẫn và tạp âm.
- Tiêu chuẩn kết nối:
Điều này liên quan đến vấn đề duy trì dịch vụ đấu nối cho các thuê bao. Nghĩa
là, đó là chỉ tiêu về các yêu cầu đối với các thiết bị tổng đài và số các đờng truyền
dẫn nhằm bảo đảm chất lợng kết nối tốt. Nhằm mục đích này, một mạng lới tuyến
thích hợp có khả năng xử lý đờng thông có hiệu quả với tỉ lệ cuộc gọi bị mất ít
nhất phải đợc lập ra.
- Độ tin cậy:
Các thao tác điều khiển phải đợc tiến hành phù hợp, đặc biệt các lỗi xuất hiện
trong hệ thống với các chức năng điều khiển tập trung có thể gặp phải hậu quả
nghiêm trọng trong hệ thống. Theo đó, hệ thống phải có đợc chức năng sửa chữa
và bảo dỡng hữu hiệu bao gồm việc chẩn đoán lỗi, tìm và sửa chữa.
- Độ linh hoạt:
10
Số lợng các cuộc gọi có thể xử lý thông qua các hệ thống tổng đài đã tăng lên
rất nhiều và nhu cầu nâng cấp các chức năng hiện nay đã tăng lên. Do đó, hệ thống
phải đủ linh hoạt để mở rộng và sửa đổi đợc.
- Tính kinh tế:
Do các hệ thống tổng đài điện thoại là cơ sở cho việc truyền thông đại chúng,
chúng phải có hiệu quả về chi phí và có khả năng cung cấp các dịch vụ thoại chất
lợng cao.
Căn cứ vào các xem xét trên đây, một số loại tổng đài tự động đã đợc triển
khai và lắp đặt kể từ khi nó đợc đa vào lần đầu tiên.
2.2- Mạng lới giữa các tổng đài:
2.2.1- Cấu hình mạng:
Cấu hình mạng có nghĩa là các cách ghép nối các tổng đài thành một mạng.
Ghép nối không chỉ có mục đích là để cho nó hoạt động mà còn ghép nối làm sao
cho nó hoạt động có hiệu quả cao nhất.
a. Ghép lới: (Hình 2.1)
vẽ hình
- Ưu điểm: Ghép lới thờng đơn giản, tạo mối nối trực tiếp, không có chuyển
tiếp, nên nếu có sự cố xảy ra ở một tổng đài nào đó thì không ảnh hởng đến các
tổng đài khác ở trong mạng.
- Nhợc điểm: Trong trờng hợp số lợng nút mạng (n) nhiều thì số nhóm kênh
cũng tăng tỉ với n.n {Số nhóm kênh : N = n(n - 1)/2}.
b. Ghép lới: (Hình 2.2)
vẽ hình
- Ưu điểm: Có tổng đờng ghép nối (số nhóm kênh nhỏ hơn nhiều so với cách
ghép lới).
- Nhợc điểm: Nếu có sự cố xảy ra ở một tổng đài nào đó thì sẽ ảnh hởng đến
toàn mạng.
c. Ghép hỗn hợp: (Hình 2.3)
Trong thực tế thì mạng hỗn hợp này đợc ứng dụng nhiều hơn, các tổng đài lớn
sẽ đợc nối với nhau rồi bức xạ ra các tổng đài nhỏ hơn.
vẽ hình
2.2.2- Các cấp của mạng lới và tổng đài:
11
Tuỳ vào mạng và lĩnh vực sử dụng của tổng đài mà ta chia tổng đàu ra các cấp
khác nhau. Thờng đợc chia ra 3 cấp:
+ Cấp quốc tế
+ Cấp quốc gia
+ Cấp nội hạt
a. Mạng liên lạc quốc tế:
Là mạng nối giữa các tổng đài quốc tế hoặc giữa các cổng liên lạc quốc tế
giữa các quốc gia với nhau.
b. Mạng liên lạc quốc gia:
Một mạng quốc gia bao gồm một phân cấp của các mạng, vì vậy sự liên kết
cần đợc cung cấp một chiến lợc định tuyến cho các cuộc gọi giữa hai thuê bao bất
kỳ. Trong hầu hết các quốc gia có một mạng trung kế, nó là một thực thể riêng
biệt và có thể truy xuất từ các mạng hợp nối. Các trung tâm sơ cấp hình thành nên
các giao tiếp giữa trung kế và các mạng hợp nối. Mỗi tổng đài cục bộ đợc kết nối
đến một trung tâm sơ cấp là trực tiếp hoặc qua một tổng đài hợp nối.
Một trung tâm sơ cấp hình thành nên bậc đầu tiên của một mạng trung kế, với
các bậc khác đợc dùng tuỳ vào diện tích của các quốc gia và chiến lợc định tuyến
đợc dùng.
c. Mạng liên lạc nội hạt:
Là cấp thấp nhất trong mạng lới viễn thông đợc sử dụng cho mục đích đấu nối
và cung cấp dịch vụ cho các thuê bao trong phạm vi gần nhất.
12
Chơng III
Tổng quan về tổng đài SPC
3.1- Giới thiệu chung
3.1.1- Giới thiệu sơ lợc về tổng đài điện cơ - sự xuất hiện của tổng đài
SPC.
Trớc đây, các tổng đài cơ điện đã sử dụng phơng pháp chuyển mạch cơ điện.
Các chức năng của tổng đài nhờ vào các thao tác của các rơle hay các tiếp điểm
chuyển mạch kiểu từng nấc hoặc ngang dọc dới sự khống chế của hệ thống điều
khiển. Các tiếp điểm này đã đợc hàn nối một cách chắc chắn theo cách thức đã
định trớc. Các số liệu của tổng đài nh: Các dịch vụ thuê bao, phiên dịch và tạo
tuyến, các loại tín hiệu đặc trng đợc tạo ra bằng các kiểu mạch tổ hợp lôgíc kiểu
rơle đã đợc đấu nối cố định. Vì thế mà khi cần thay đổi các số liệu để đa vào các
dịch vụ mới cho các cấu trúc đã đợc đấu nối một cách chắc chắn. Vì thế mà tính
linh hoạt trong công tác của tổng đài loại này rất kém, đồng thời độ tin cậy trong
việc kết nối cuộc gọi cũng nh dung lợng số thuê bao, các đặc tính khác của một
tổng đài cơ điện không đạt yêu cầu trong nhu cầu dịch vụ thông tin cũng nh sự
phát triển xã hội hiện nay.
Tổng đài điện thoại SPC sử dụng phơng thức chuyển mạch số đã tạo ra một
sự tác động to lớn đến các mạng viễn thông trên thế giới. Tổng đài SPC đợc đa vào
sử dụng nh là các phần của truyền dẫn số tích hợp và có thể thay thế hẳn các đơn
vị chuyển mạch tơng tự. Các tổng đài điện tử số SPC hiện nay là sự kết hợp thành
công giữa công nghệ điện tử và máy tính với điện thoại. SPC xuất hiện với những
năm đầu của thập kỷ 60. Sau 2 thập kỷ phát triển và đã thành công với một hệ
thống tổng đài điện tử số hoàn hảo.
Tổng đài SPC công cộng đầu tiên No IESS đã đợc phát triển bởi phòng thí
nghiệm BELL ở Mỹ vào tháng 5 năm 1965. Tổng đài loại này cần cho mỗi cuộc
gọi một tuyến vật lý - một mạch đờng dây riêng rẽ.
Hoạt động theo phơng thức này có tổn thất và không có khả năng chế tạo một
tổng đài tiếp thống hoàn toàn. Từ đó ngời ta đã hớng công việc vào phơng thức
chuyển mạch hoạt động theo nguyên lý phân theo thời gian. Theo cách này thì ng-
ời ta sẽ dùng mạch dây cho nhiều cuộc gọi trên cơ sở phân chia theo thời gian. Ph-
ơng pháp này cho phép có thể chế tạo một tổng đài tiếp thống hoàn toàn không tổn
thất. Đến năm 1970 tổng đài điện tử số đầu tiên đợc sản xuất và sử dụng tại Pháp.
13
Từ năm 1974 đến 1986 là giai đoạn phát triển nhanh nhất và có hiệu quả của
kỹ thuật tổng đài số. Nhiều nghiên cứu quan trọng và sự phát triển của kỹ thuật
công nghệ điện tử đã cho ra các loại mạch tổ hợp vừa và lớn. Điều nay có lợi cho
kỹ thuật tổng đài số và máy tính phát triển. Công việc nghiên cứu đã đóng góp
nhiều cho việc cải tạo mạng viễn thông theo hớng số hoá và hợp nhất đa dịch vụ.
Các tổng đài nội hạt hiện nay có dung lợng từ 1.000 đến hàng trăm nghìn
thuê bao, khả năng lu thoát tải lên tới hàng trăm nghìn Erlang và có khả năng liên
kết cuộc gọi trong vòng vài nghìn milisecond (ms). Tổng đài chuyển tiếp cũng có
dung lợng vài chục nghìn kênh và các mạch nghiệp vụ. Nó có khả năng chuyển
mạch cho hàng trăm cuộc gọi mỗi giây.
Với sự đòi hỏi về nhu cầu thông tin, các thông tin điện thoại, thông tin số
liệu, truyền dẫn hình ảnh thông tin di động ngày càng trở nên đa dạng. Sự phát
triển của công nghệ điện tử đã làm cho hệ thống thông tin đợc nâng cấp và phát
triển một cách rõ. Và hiện nay, với kỹ thuật phát triển ngày càng cao, ngời ta đã
hớng tói một mạng mà có thể phục vụ cho các loại thông tin khác nhau, với tần số
khác nhau đó là mạng số đa dịch vụ (ISDN).
3.1.2- Những u điểm của tổng đài SPC
Tính linh động :
Tổng đài SPC đợc điều khiển bằng chơng trình ghi sẵn nên có mức độ linh
hoạt cao. Tính linh hoạt có khía cạnh ngắn hạn và dài hạn. ở khía cạnh dài hạn,
một loạt các chơng trình đợc tạo ra cho phép hệ thống chuyển mạch cung cấp
nhiều khả năng và tiện ích cho công tác quản lý nh đánh số, tính cớc, lập tuyến,
quản lý thuê bao. Các tổng đài đã đợc lắp đặt dễ dàng nâng cấp mà không phá vỡ
dịch vụ sẵn có.
Các tiện ích thuê bao:
SPC cho một phạm vi rộng các tiện ích, thuê bao đợc cung cấp rẻ hơn và dễ
hơn so với tổng đài cơ điện. Các tiện ích mà tổng đài SPC mang lại cho thuê bao
là:
- Quay số mã hoá ngắn
- Chuyển tiếp cuộc gọi
- Hồi âm chuông khi rỗi
- Cuộc gọi báo thức tự động
- Ngăn chặn một cuộc gọi đi hoặc đến
- Lập hoá đơn chi tiết
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét