Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐỔI MỚI VÀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ASEAN ĐẾN 2010

lý thuyết H/O, một số nớc có lợi thế so sánh hơn trong việc xuất khẩu một số
sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sản xuất những mặt hàng đã đợc sử
dụng nhiều yếu tố sản xuất mà nớc đó có lợi thế hơn một số nớc khác. Chính sự
u đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất này (gồm vốn, lao động, tài
nguyên, đất đai, khí hậu ) đã khiến một số nớc có chi phí cơ hội thấp hơn ( so
với việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác) khi sản xuất các sản phẩm hàng
hoá đó.
Lý thuyết H/O còn đa ra quy luật về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất mà
về sau đợc các nhà kinh tế học mở rộng và phát triển. Nội dung của quy luật này
là một nớc sẽ xuất khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng yếu tố
rẻ và tơng đối sẳn có của nớc đó và nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất
nó cần nhiều yếu tố đắt và tơng đối khan hiếm hơn ở nớc đó.
Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trớc thực tiễn phát triển phức tạp
của thơng mại quốc tế ngày nay, song quy luật này vẫn đang là quy luật chi
phối động thái phát triển của thơng mại quốc tế và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn
quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là đối với các nớc cha
phát triển bởi vì những nớc này đa số là những nớc đông dân, thừa lao động nh-
ng nghèo vốn, do đó trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá đất nớc cần tập trung
xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những hàng
hoá sử dụng nhiều vốn. Sự lựa chọn những hàng hoá xuất khẩu phù hợp với các
lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có nh vậy sẽ là điều kiện cần thiết
để các nớc cha phát triển, đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự
phân công lao động và hợp tác thơng mại quốc tế, và trên cơ sở lợi ích thơng mại
thu đợc sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trởng và phát triển kinh tế ở nớc này.
2. Các mô hình thơng mại quốc tế đợc sử dụng trong hoạch định chính
sách xuất khẩu
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tuỳ vào việc lựa chọn chiến lợc
phát triển cho từng thời kỳ, các quốc gia đều áp dụng một chiến lợc phát triển
5
ngoại thơng thích hợp với thời kỳ chiến lợc đó. Tổng kết thực tiễn phát triển
ngoại thơng của các nớc, đặc biệt là các nớc đang phát triển sau Thế chiến hai,
có ba loại hình phát triển ngoại thơng chủ yếu sau đây:
2.1 Chiến lợc xuất khẩu sản phẩm thô
Chiến lợc xuất khẩu sản phẩm thô dựa chủ yếu vào việc sử dụng rộng rãi
các nguồn tài nguyên sẳn có và các điều kiện thuận lợi trong nớc về các sản
phẩm nông nghiệp và khai khoáng. Chiến lợc này đợc thực hiện trong điều kiện
trình độ sản xuất còn thấp, đặc biệt là trình độ của ngành công nghiệp và khả
năng tích luỹ vốn của nền kinh tế còn bị hạn chế.
Chiến lợc này tạo điều kiện cho phát triển kinh tế theo chiều rộng, xuất
hiện nhu cầu thu hút vốn đầu t nớc ngoài. Sự phát triển các thị trờng sản phẩm
sơ khai sẽ dẫn đến tăng nguồn vốn đầu t nớc ngoài và tích luỹ trong nớc, đồng
thời giải quyết công ăn việc làm và tăng đội ngũ công nhân lành nghề, dẫn đến
quy mô tăng sản xuất cho nền kinh tế. Chiến lợc cũng tạo ra sự thay đổi cơ cấu
kinh tế, góp phần tạo nguồn vốn ban đầu cho công nghiệp hoá.
Tuy nhiên, sự phát triển dựa vào chiến lợc xuất khẩu sản phẩm thô cũng
gặp nhiều hạn chế nh cung- cầu sản phẩm thô không ổn định, giá cả sản phẩm
thô thờng có xu hớng giảm so với hàng công nghệ nên thu nhập từ xuất khẩu sản
phẩm thô sẽ không ổn định gây bất lợi cho các nớc xuất khẩu sản phẩm thô.
Ngoài ra đây còn là chiến lợc dựa hoàn toàn vào tài nguyên do vậy nó sẽ làm
cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nớc.
2.2 Chiến lợc thay thế nhập khẩu (IS- Import Substitution)
Nội dung cơ bản của chiến lợc này là đẩy mạnh sự phát triển của các
ngành công nghiệp trong nớc, trớc hết là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng,
sau đó là các ngành công nghiệp khác nhằm sản xuất sản phẩm nội địa thay thế
các sản phẩm nhập khẩu. Ban đầu nên sản xuất các loại hàng tiêu dùng cơ bản
mà trớc đây phải nhập khẩu. Việc sản xuất này đợc coi là thay thế nhập khẩu lần
thứ nhất. Sau đó, khi vốn tích luỹ đợc gia tăng và công nghệ trong nớc đã đợc
6
nâng cao sẽ tiến hành sản xuất các sản phẩm có trình độ công nghệ cao. Nội
dung này đợc coi là thay thế nhập khẩu lần thứ hai.
Để thực thi chiến lợc này, điều kiện quan trọng nhất là phải có vai trò bảo
hộ của Chính phủ; và đòi hỏi thị trờng trong nớc phải đủ lớn để đảm bảo cho sự
phát triển của ngành hạn chế nhập khẩu. Trong thời gian đầu khi công nghiệp
trong nớc còn non trẻ, giá thành sản xuất thờng cao hơn so với thị trờng thế giới,
Chính phủ cần xây dựng hàng rào bảo vệ bằng hình thức thuế quan hoặc hạn
ngạch nhập khẩu. Cùng với các biện pháp này, các ngành công nghiệp non trẻ
phải vơn lên cạnh tranh đợc với hàng nhập khẩu trên thị trờng trong nớc và theo
đó sẽ giảm dần mức độ bảo hộ.
Chiến lợc này vì thế có tác dụng làm giảm mức độ trầm trọng trong thâm
hụt cán cân thanh toán và thơng mại quốc tế do giảm đợc lợng hàng hoá nhập
khẩu và xuất khẩu thuần đợc cải thiện. Nhờ có sự bảo hộ của Chính phủ, các
ngành công nghiệp non trẻ đợc nuôi dỡng (đó là các ngành có bộc lộ lợi thế
nhng cha đủ sức để cạnh tranh).
Mặc dù chiến lợc này có vẻ hấp dẫn về mặt lý thuyết, song lại cha mấy
thành công trong thực tế. Việc thay thế nhập khẩu thành công đòi hỏi phải quản
lý đợc hai sự chuyển đổi rất khó khăn. Thứ nhất là, tạo ra một cơ cấu kinh tế
năng động và hiệu quả một cách hợp lý đằng sau các hàng rào bảo hộ. Thứ hai
là, chuyển từ bảo hộ sang một môi trờng buôn bán cởi mở hơn. Kinh nghiệm
quốc tế cho thấy rằng việc đối phó với cả hai thách thức này đều rất khó. Những
sai lệch do sự bảo hộ gây ra thờng nghiêm trọng đến nỗi không thể đạt đợc sự
tăng trởng cao, bền vững ngay cả khi nền công nghiệp trong nớc đợc bảo vệ trớc
sự cạnh tranh quốc tế, và quá trình chuyển từ bảo hộ sang mậu dịch tự do thờng
vấp phải sự phản đối quyết liệt từ các nhóm lợi ích.
Sau một thời gian thực thi chiến lợc này, nhiều nớc đã tìm cách chuyển h-
ớng chiến lợc. Lý do cơ bản là chiến lợc này có nhiều mặt hạn chế:
7
Thứ nhất, nó làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
nớc vì có thuế quan bảo hộ và đợc mua nguyên vật liệu đầu vào với giá rẻ. Nếu
chi phí sản xuất tăng hay giá thị trờng quốc tế của hàng nhập khẩu có sức cạnh
tranh giảm thì phản ứng tự nhiên của các nhà sản xuất là quay sang Chính phủ
để trông chờ bảo hộ. Do đó, thay vì bảo hộ sẽ giảm dần theo thời gian thì các
nhà sản xuất lại trông chờ bảo hộ tăng lên.
Thứ hai, chiến lợc IS hạn chế xu hớng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nớc. Chiến lợc này bắt đầu từ công nghiệp hàng tiêu dùng, sau đó tiếp tục tạo thị
trờng cho các nghành sản xuất sản phẩm trung gian. Nhng vì thị trờng trong nớc
đối với các sản phẩm trung gian thờng nhỏ hơn thị trờng hàng tiêu dùng nên có
những trở ngại đối với việc đầu t vào lĩnh vực này, do vậy, cần có sự bảo hộ. Sự
bảo hộ này lại làm tăng giá đầu t vào các nghành sản xuất hàng tiêu dùng. Để
đảm bảo lợi nhuận, các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng vẫn tiếp tục
phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu, làm cho các ngành sản xuất nguyên
vật liệu không có khả năng phát triển, hạn chế sự hình thành cơ cấu công nghiệp
đa dạng của đất nớc.
Thứ ba, việc thực thi chiến lợc này làm nảy sinh nhiều tiêu cực. Bảo hộ
bằng thuế quan dẫn đến tình trạng trốn, lậu thuế, hối lộ cán bộ thuế.
Cuối cùng, chiến lợc này làm tăng nợ nớc ngoài của các nớc đang phát
triển. Do đợc bảo hộ nên các sản phẩm sản xuất trong nớc không có khả năng
cạnh tranh và khả năng tiêu thụ trên thị trờng quốc tế, trong khi vẫn phải nhập
khẩu máy móc thiết bị và nguyên vật liệu từ nớc ngoài, làm cho tình trạng nhập
siêu của những nớc này ngày càng gia tăng. Đặc biệt đối với những nớc có quy
mô thị trờng trong nớc nhỏ bé và nguồn tài nguyên khan hiếm thì những hạn chế
trên càng gia tăng. Chính vì những hạn chế này, các nớc đang phát triển nhận
thấy rằng chỉ có cách dựa vào thị trờng quốc tế rộng lớn và họ đã tìm cách
chuyển sang chiến lợc hớng ngoại.
2.3 Chiến lợc hớng về xuất khẩu (EP- Export Promotion)
8
Chiến lợc hớng về xuất khẩu là chiến lợc hớng vào thị trờng quốc tế để
xuất khẩu sản phẩm, bao gồm cả xuất khẩu sản phẩm thô và sản phẩm công
nghệ. Sản xuất xuất khẩu là những sản phẩm đợc sản xuất dựa vào lợi thế so
sánh của đất nớc.
T tởng cốt lõi của chiến lợc hớng về xuất khẩu là lấy nhu cầu thị trờng thế
giới làm mục tiêu cho nền sản xuất trong nớc, là cải tạo và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế quốc gia sao cho thích ứng với những đòi hỏi của thị trờng quốc tế, là đặt
nền kinh tế quốc gia trong quan hệ cạnh tranh trên thị trờng quốc tế nhằm phát
huy lợi thế so sánh của quốc gia.Việc thực thi chiến lợc hớng về xuất khẩu đã
giúp cho các nớc đang phát triển đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá đất nớc.
Trớc hết, chiến lợc EP tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới, năng
động. Sự phát triển các ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu đã tác động đến
các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào cho các ngành xuất khẩu tạo ra mối
liên hệ ngợc thúc đẩy sự phát triển của các ngành này.Bên cạnh đó, khi tích luỹ
của nền kinh tế đợc nâng cao thì sản phẩm thô sẽ tạo ta mối liên hệ xuôi là
cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến và mối liên
hệ xuôi này tiếp tục đợc phát triển. Sự phát triển của tất cả các ngành này sẽ làm
tăng thu nhập của ngời lao động, tạo ra mối liên hệ gián tiếp cho sự phát triển
công nghiệp hàng tiêu dùng và dịch vụ.
Thứ hai, chiến lợc EP tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nớc ngày
càng lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế. Bởi vì chiến lợc
này làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc vào thị trờng thế giới nhiều hơn thị tr-
ờng trong nớc, do vậy các doanh nghiệp muốn đứng vững trong cạnh tranh phải
dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế. Thời kỳ đầu có thể có sự trợ giúp của Nhà nớc,
song muốn tiếp tục tồn tại thì phải tự khẳng định vị trí của mình. Mặt khác, thị
trờng quốc tế rộng lớn sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thu đợc hiệu quả
nhờ quy mô sản xuất lớn.
9
Thứ ba, chiến lợc EP còn tạo nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho đất n-
ớc. Nguồn thu ngoại tệ này vợt xa các thu nhập khác, kể cả vốn vay là đầu t nớc
ngoài. Đối với nhiều nớc đang phát triển, ngoại thơng đã trở thành nguồn tích
luỹ chủ yếu trong giai đoạn đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá đất nớc. Đồng
thời có ngoại tệ đã tăng đợc khả năng nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết bị và
nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển các ngành công nghiệp.
***
Về lý thuyết chiến lợc phát triển ngoại thơng của Việt Nam có thể đợc
xem là sự kết hợp giữa khuyến khích xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Tuy
nhiên, trên thực tế chính sách và hoạt động thơng mại trong thời gian qua của
Việt Nam cho thấy chiến lợc thay thế nhập khẩu vẫn đợc thể hiện một cách rõ
ràng hơn. Nhà nớc đã khuyến khích nhập khẩu các hàng hoá t bản, nguyên vật
liệu chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu, trong khi tỷ trọng
hàng tiêu dùng ngày nhỏ và giảm.Chính sách bảo hộ có khi đợc áp dụng một
cách tràn lan, làm cho ngời tiêu dùng phải trả giá đắt khi mua hàng hoá, tình
trạng buôn lậu gia tăng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm kém. Trong cơ cấu
hàng hoá xuất khẩu, các sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm thô vẫn là chủ
yếu. Một số nội dung trong chính sách thơng mại cũng có phần cha thật rõ ràng,
ảnh hởng không tốt đến sự phát triển lâu dài của nền kinh tế. Đặc biệt khi mà
thời gian thực hiện các cam kết của AFTA và APEC đang đến gần, nếu không
có các chủ trơng, biện pháp thích hợp và kịp thời thì sẽ không tận dụng đợc
những thuận lợi do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại và bị thua thiệt khi thực
hiện tự do hoá thơng mại.
II. Vai trò của xúc tiến thơng mại đối với thúc đẩy xuất khẩu hàng
hoá trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
1.Khái niệm về xúc tiến thơng mại (XTTM) và một số vấn đề liên quan
1.1 Xúc tiến thơng mại (XTTM)
1.1.1 Xúc tiến thơng mại là gì?
10
Theo cách hiểu truyền thống, XTTM là hoạt động trao đổi và hỗ trợ trao
đổi thông tin giữa bên bán và bên mua, hoặc qua khâu trung gian nhằm tác động
tới thái độ và hành vi mua bán và qua đó thúc đẩy việc mua bán và trao đổi hàng
hoá, dịch vụ. Nh vậy theo định nghĩa này, XTTM là nhằm mở rộng và phát triển
thị trờng là chủ yếu.
Theo Luật Thơng mại Việt Nam do Quốc hội khoá IX nớc CHXHCN Việt
Nam thông qua ngày 10.5.1997 thì: XTTM là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc
đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thơng mại (điều 5, khoản 5);
Bộ Thơng mại là cơ quan quản lý Nhà nớc về tổ chức, hớng dẫn các hoạt động
xúc tiến thơng mại (điều 245).
1.1.2 Hoạt động XTTM
Các hoạt động cụ thể trong lĩnh vực XTTM bao gồm:
- Các hoạt động thông tin thơng mại và nghiên cứu thị trờng
- Các hoạt động tuyên truyền, quảng cáo, triển lãm và khuyến mại
hàng hoá và dịch vụ
- Tổ chức và tham gia các đoàn khảo sát thị trờng nớc ngoài
- Đón tiếp và tổ chức cho các đoàn thơng mại và thơng nhân nớc
ngoài vào khảo sát thị trờng nội địa
- Đại diện thơng mại ở nớc ngoài
Các hoạt động này có thể do doanh nghiệp tự tiến hành hoặc do các tổ
chức XTTM của Chính phủ, các tổ chức xã hội nghề nghiệp và các công ty kinh
doanh dịch vụ XTTM tiến hành để hỗ trợ doanh nghiệp, hội viên hoặc theo yêu
cầu của khách hàng. Các dịch vụ XTTM do các tổ chức hỗ trợ thơng mại cung
cấp có thể miễn phí hoặc phải trả tiền.
1.1.3 Xúc tiến xuất khẩu
Nhìn từ góc độ nghiệp vụ kinh doanh quốc tế, XTTM có thể là xúc tiến
xuất khẩu, xúc tiến nhập khẩu và phát triển thơng mại nội địa. Nh vậy, xúc tiến
11
xuất khẩu có phạm vi hẹp hơn và là các hoạt động nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp
thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ra thị trờng nớc ngoài. Do đó trên thực
tế, các hoạt động XTTM (nhất là các hoạt động do Chính phủ và các tổ chức hỗ
trợ thơng mại thực hiện) chủ yếu tập trung vào thúc đẩy xuất khẩu nên nhiều ng-
ời thờng quan niệm XTTM gần nh đồng nghĩa với xúc tiến xuất khẩu.
1.2 Phát triển thơng mại
Trong bối cảnh tự do hoá thơng mại và toàn cầu hoá kinh tế thế giới hiện
nay, để mở rộng, thâm nhập và giữ vững thị trờng, các doanh nghiệp không thể
chỉ tiến hành các hoạt động XTTM truyền thống (xúc tiến bán cái mà mình có
thể sản xuất và cung cấp) mà phải tiến hành tất cả các hoạt động nhằm tạo ra
những sản phẩm mà thị trờng có nhu cầu, bán đúng kênh/khách hàng tại đúng
nơi, đúng thời điểm với giá phù hợp và bằng các hình thức xúc tiến bán hàng
phù hợp. Đặc biệt đối với các nớc đang phát triển là những nớc đi sau, hoạt động
nghiên cứu thị trờng và phát triển, cải tiến sản phẩm nhằm tạo ra những sản
phẩm độc đáo mà thị trờng có nhu cầu là hết sức quan trọng để có thể thâm nhập
và mở rộng, đồng thời giữ vững đợc thị trờng kể cả trên thị trờng nội địa và xuất
khẩu.
Những hoạt động này đợc gọi chung là hoạt động phát triển thơng mại.
Nh vậy, phát triển thơng mại bao gồm các mảng hoạt động chính là phát triển
sản phẩm, phát triển thị trờng và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế. Ngoài các
công cụ XTTM phát triển thị trờng theo cách hiểu truyền thống nh trên, phát
triển thơng mại còn bao gồm các hoạt động khác nh:
- Nghiên cứu và hỗ trợ nghiên cứu thị trờng và phát triển sản phẩm nhằm
tạo ra các sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu thị trờng; xây dựng và quảng
bá thơng hiệu;
- Các hoạt động góp phần nâng cao sức cạnh tranh quốc tế nh: quản lý
tiêu chuẩn, chất lợng hàng hoá, áp dụng thơng mại điện tử trong kinh
doanh ;
12
- Các khuyến khích và hỗ trợ tài chính của chính phủ đối với xuất khẩu;
- Thuận lợi hoá môi trờng thơng mại, đàm phán và ký kết các hiệp định
thơng mại đa phơng và song phơng với các nớc để mở cửa thị trờng xuất
khẩu;
- Các hoạt động thu hút đầu t nớc ngoài hớng về xuất khẩu, đặc biệt là
nhằm phát triển những mặt hàng xuất khẩu mới, có giá trị gia tăng cao;
- Các hoạt động xúc tiến nhập khẩu phục vụ xuất khẩu (ví dụ nh hỗ trợ
nhập công nghệ phù hợp và nguyên phụ liệu với giá cả cạnh tranh);
- Đào tạo và phát triển nguồn lực phục vụ phát triển thơng mại.
2. Vai trò của xúc tiến thơng mại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế
2.1 XTTM là hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế thị trờng
Trên thực tế không một doanh nghiệp nào không tiến hành các hoạt động
phát triển thơng mại nói chung và XTTM nói riêng dới hình thức này hay hình
thức khác và ở mức độ này hay mức độ khác. Để có thể tồn tại và phát triển
trong cơ chế cạnh tranh, doanh nghiệp luôn phải nghiên cứu phát triển sản phẩm
đáp ứng nhu cầu thay đổi ngày càng nhanh chóng của thị trờng cũng nh tiến
hành các hoạt động quảng cáo và khuyến mại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ.
Trong bối cảnh tự do hoá thơng mại toàn cầu hiện nay, khi mà hàng hoá dịch vụ
đợc chào bán trên thị trờng rất dồi dào và phong phú và ngời mua là thợng đế
thì hàng hoá, dịch vụ dù có tốt, rẻ đến mấy mà ngời tiêu dùng không biết đến thì
cũng không thể bán đợc. Xuất phát từ những nhu cầu của doanh nghiệp, ở bất kỳ
nền kinh tế thị trờng nào cũng có các hiệp hội sản xuất và kinh doanh, các
phòng thơng mại và công nghiệp, các tổ chức và công ty dịch vụ thông tin,
nghiên cứu thị trờng, t vấn kinh doanh, t vấn pháp luật, quảng cáo, hội chợ triễn
lãm để hỗ trợ và cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp trong các hoạt động
XTTM nói trên.
2.2 XTTM với việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá
13
- Thông qua các dịch vụ cung cấp thông tin thơng mại, cung cấp thông
tin về chính sách pháp luật, danh mục các mặt hàng cũng nh thuế xuất nhập
khẩu đối với các mặt hàng xuất nhập khẩu, các hành vi ứng xử thơng mại đối với
các sản phẩm mà nhà xuất khẩu xuất sang một thị trờng, các thông số về tiêu
chuẩn chất lợng sản phẩm góp phần nâng cao hiệu quả xuất khẩu nói chung và
xuất khẩu hàng hoá nói riêng.
- Thông qua các hội chợ, triễn lãm thơng mại (cả trong nớc và quốc tế),
nơi các doanh nghiệp tham gia triển lãm trng bày hàng hoá, các thông tin t liệu
về hàng hoá và về chính doanh nghiệp mình, họ có thể giới thiệu, quảng cáo về
sản phẩm của mình nhằm mở rộng và thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hoá trên thị
trờng nội địa và thị trờng quốc tế; đây cũng là nơi diễn ra sự mua bán, ký kết
hợp đồng trao đổi hàng hoá giữa những cá nhân, tổ chức đến tham gia triễn
lãm là điều kiện thuận lợi cho các nhà xuất khẩu trực tiếp gặp gỡ đối tác để
đàm phán, ký hợp đồng xuất khẩu sản phẩm.
- Theo quy định của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO), các chính phủ
ở các nớc thành viên có mức thu nhập bình quân đầu ngời từ 1000 USD trở lên
không đợc phép trợ cấp trực tiếp cho xuất khẩu (ví dụ nh trợ giá xuất khẩu),
song họ có thể trợ cấp cho hoạt động XTTM hoặc tiến hành trực tiếp một số
hoạt động XTTM để hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Nh vậy trong điều kiện tự do
hoá thơng mại toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế nh hiện nay, khi mà các
hàng rào bảo hộ dần dần đợc phá bỏ thì XTTM là một biện pháp hữu hiệu để hỗ
trợ cho việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá. Điều này phần nào lý giải việc ngày
càng nhiều nớc thành lập tổ chức XTTM của Chính phủ. Hiện thế giới có
khoảng 130 nớc có tổ chức này, trong đó có Cục XTTM Việt Nam.
2.3 XTTM là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại, tăng cờng địa vị kinh tế của quốc gia trên thị trờng thế giới
Trên phơng diện quốc gia, một nớc có tận dụng đựơc những cơ hội và hạn
chế đợc thách thức do hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra hay không phụ thuộc chủ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét