- Với phế liệu thu hồi từ quá trình sản xuất- kinh doanh của doanh
nghiệp thì giá thực tế được tính theo đánh giá thực tế hoặc theo giá
bán trên thị trường.
II. Các phương pháp xác định giá trị NVL xuất dùng
và ảnh hưởng của nó tới chi phí sản xuất, giá vốn hàng
bán và lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp.
1. Các phương pháp xác định giá trị NVL xuất dùng:
Để xác định giá thực tế ghi sổ của vật liệu xuất dùng trong kỳ,
tuỳ theo đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, yêu cầu quản lý
và trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, có thể sử dụng một trong
các phương pháp sau đây:
Phương pháp giá thực tế đích danh.
Phương pháp nhập trước - xuất trước(FIFO)
Phương pháp nhập sau -xuất trước(LIFO).
Phương pháp giá bình quân.
Phương pháp giá hạch toán.
1.1 Phương pháp giá thực tế đích danh.
Theo phương pháp này, vật liệu xuất kho sẽ được sử dụng giá
nhập để xác định ( nhập giá nào xuất theo giá đó). Vật liệu sẽ được
quản lý riêng cả về hiện vật và giá trị theo từng lô, từng lần nhập. Xuất
vật tư của lô nào sẽ tính theo giá thực tế của lô đó. Phương pháp giá
thực tế đích danh thường sử dụng trong các doanh nghiệp có ít loại
vật liệu hoặc vật liệu ổn định, có tính tách biệt và nhận diện được. Đối
với những doanh nghiệp có nhiều loại NVL với số lượng lớn thì không
thể áp dụng phương pháp này.
Phương pháp này có ưu điểm là công tác tính giá NVL được
thực hiện kịp thời và thông qua việc tính giá NVL xuất kho, kế toán có
thể theo dõi được thời hạn bảo quản của từng lô NVL.
Tuy nhiên, để áp dụng được phương pháp này, thì điều kiện
cốt yếu là hệ thống kho tàng của doanh nghiệp cho phép bảo quản
riêng từng lô NVL nhập kho.
1.2.Phương pháp nhập trước, xuất trước.
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số vật liệu, dụng cụ, sản
phẩm hàng hoá nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết đợt nhập trước
mới đến đợt nhập sau theo giá thực tế của từng đợt hàng xuất. Nói
cách khác, cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của vật liệu,
dụng cụ, sản phẩm và giá mua thực tế của hàng hoá nhập kho trước
sẽ được sử dụng làm giá để tính giá thực tế của vật liệu, dụng cụ, sản
phẩm xuất trước. Và do vậy, giá trị vật liệu, dụng cụ, sản phẩm, hàng
hoá tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật liệu,dụng cụ, sản
phẩm,hàng hoá nhập kho sau cùng.
Ví dụ: tại 1 doanh nghiệp có tài liệu sau về vật liệu A(đơn
vị:1000 đồng)
I. Tình hình đầu kỳ: tồn kho 1000m vật liệu A, đơn giá
25.
II. Trong tháng 2/N có các nghiệp vụ sau phát sinh:
1. Ngày 3: xuất 600 m để sản xuất sản phẩm
2. ngày 7:thu mua nhập kho 1600 m, giá mua ghi trên
hoá đơn là 44.000( trong đó thuế GTGT là 4.000).
3. Ngày 15: xuất 500 m để tiếp tục chế tạo sản phẩm.
4. Ngày 24: xuất 1.100 m cho sản xuất sản phẩm.
5. Ngày 28: thu mua nhập kho 400 m, giá mua đơn vị
chưa có thuế GTGT là 25, thuế suất thuế GTGT 10%.
Với ví dụ trên, theo phương pháp nhập trước, xuất trước giá
thực tế của vật liệu A xuất dùng trong kỳ được xác định như sau:
Ngày
thán
g
Nội
dùn
g
Số lượng (m) Đơn
giá
Thành tiền
Nhập Xuất Tồn Nhập Xuất tồn
1/2
tồn - - 1,00
0
25 - - 25,000
3/2 xuất - 600 400 25 - 15,000 10,000
7/2 nhậ
p
1,60
0
- 2,00
0
25.22
5
40,36
0
- 50,360
15/2 xuất -
-
400
100
1,60
0
1,50
0
25
25.22
5
-
-
10,000
2,522.5
40,360
37,837.
5
24/2 xuất - 1,10
0
400 25.22
5
- 27,747.
5
10,090
28/2 nhậ
p
400 - 800 25 10,00
0
- 20,090
cộn 2,00 2,20 - - 50,36 55,270 -
g 0 0 0
Phương pháp này có ưu điểm là nó gần đúng với luồng nhập -
xuất NVL trong thực tế. Không kể trường hợp đặc biệt, việc nhập -
xuất NVL trong thực tế gần như là nhập trước - xuất trước. Hơn thế
nữa, trong trường hợp NVL được quản lý theo đúng hình thức nhập
trước - xuất trước, phương pháp này sẽ gần với phương pháp giá
thực tế đích danh, do đó sẽ phản ánh tương đối chính xác giá trị NVL
tồn kho và xuất kho.
Một ưu điểm khác của phương pháp nhập trước - xuất trước là
cho phép kế toán có thể tính giá NVL xuất kho kịp thời và giá trị NVL
sẽ được phản ánh gần sát với giá trị thị trường của nó. Bởi vì theo
phương pháp nhập trước - xuất trước, giá trị NVL tồn kho sẽ bao gồm
giá trị của NVL được mua ở những lần mua sau cùng.
Nhược điểm của phương pháp nhập trước - xuất trước là phải
tính giá theo từng danh điểm NVL và phải hạch toán chi tiết NVL tồn
kho theo từng loại giá nên tốn nhiều công sức. Ngoài ra, phương pháp
này làm cho chi phí kinh doanh của doanh nghiệp không phản ứng kịp
thời với giá cả thị trường của NVL.
Phương pháp nhập trước - xuất trước chỉ thích hợp với
những doanh nghiệp có ít danh điểm NVL, số lần nhập kho của mỗi
danh điểm không nhiều.
1.3.Phương pháp nhập sau, xuất trước.
Phương pháp này giả định rằng vật liệu, công cụ nào nhập sau
sẽ được xuất trước, xuất hết đợt nhập sau mới sử dụng đến đợt nhập
trước đó. Xuất của đợt nhập nào thì lấy theo giá nhập của đợt nhập
đó.
Với ví dụ trên, khi sử dụng phương pháp nhập sau, xuất trước
sẽ có kết quả là:
Ngày
thán
g
Nội
dùng
Số lượng (m) Đơn
giá
Thành tiền
Nhập Xuất Tồn Nhập Xuất Tồn
1/2 Tồn - - 1,00
0
25 - - 25,000
3/2 Xuất - 600 400 25 - 15,000 10,000
7/2 Nhậ
p
1,60
0
- 2000 25.22
5
40,36
0
- 50,360
15/2 Xuất - 500 1,50
0
25.22
5
- 12,612.
5
37,747.
5
24/2 Xuất - 1,10
0
400 25.22
5
- 27,747.
5
10,000
28/2 Nhậ
p
400 - 800 25 10,00
0
- 20,000
Cộn
g
2,00
0
2,20
0
- 50,36
0
55,360
Về cơ bản ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụng của
phương pháp nhập sau - xuất trước cũng giống như phương pháp
nhập trước - xuất trước, nhưng sử dụng phương pháp nhập sau - xuất
trước giúp cho chi phí kinh doanh của doanh nghiệp phản ứng kịp
thời với giá cả thị trường của NVL.
Phương pháp nhập sau - xuất trước có thể làm cho chi phí
quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp cao vì doanh nghiệp thường
xuyên mua thêm vật tư nhằm tính vào giá vốn hàng bán những chi phi
mới nhất với giá cao. Điều này trái ngược với xu hướng quản lý hàng
tồn kho một cách có hiệu quả, giảm tối thiểu lượng hàng tồn kho nhằm
cắt giảm chi phí quản lý hàng tồn kho.
1.4.Phương pháp giá bình quân.
Theo phương pháp này, căn cứ vào giá thực tế của NVL tồn
đầu kỳ và nhập trong kỳ, kế toán xác định được giá bình quân của một
đơn vị NVL, căn cứ vào lượng NVL xuất trong kỳ và giá đơn vị bình
quân để xác định giá thực tế xuất trong kỳ.
Giá thực tế = Số lượng VL x Đơn giá
của vật liệu xuất kho xuất kho bình quân
Trong đó, đơn giá bình quân có thể tính theo một trong ba cách
sau:
*Theo đơn giá bình quân cả kỳ dự trữ:
Giá thực tế của VL tồn kho đầu kỳ
Và nhập trong kỳ
Đơn giá bq =
cả kỳ dự trữ Số lượng VL tồn đầu kỳ và nhập
trong kỳ
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít
danh điểm NVL nhưng số lần nhập,xuất của mỗi danh điểm nhiều.
Phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ có ưu điểm là
giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết NVL so với phương pháp nhập
trước - xuất trước và nhập sau - xuất trước, không phụ thuộc vào số
lần nhập, xuất của từng danh điểm NVL.
Nhược điểm của phương pháp này là dồn công việc tính giá
NVL xuất kho vào cuối kỳ hạch toán nên ảnh hưởng đến tiến độ của
các khâu kế toán khác, đồng thời sử dụng phương pháp này cũng
phải tiến hành tính giá theo từng danh điểm NVL.
Theo ví dụ trên:
25,000 + 40,000 + 360 +10,000
Giá đơn vị bq =
cả kỳ dự trữ 1,000 + 1,600 + 400
Giá vật liệu xuất dung trong tháng 2/N:
Ngày 3 : 600 x 25.12 = 15,072
Ngày 15: 500 x 25.12 = 12,560
Ngày 24: 1,100 x 25.12 = 27,632
Tổng giá trị xuất dung trong kỳ: 55,264
*Theo đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập:
Giá thực tế của VL Giá thực tế của
tồn kho trước + VL nhập kho thuộc
đợt nhập đó đợt nhập đó
Đơn giá bq
Sau mỗi =
lần nhập Số lượng VL Số lượng VL nhập
tồn kho trước + kho thuộc đợt
đợt nhập đó nhập đó
Trong phương pháp này, sau mỗi lần nhập kế toán phải xác
định giá bình quân của từng danh điểm NVL. Căn cứ vào giá đơn vị
bình quân và lượng NVL xuất kho giữa hai lần nhập kế tiếp để kế toán
xác định giá thực tế NVL xuất kho.
Phương pháp này cho phép kế toán tính giá NVL xuất kho kịp
thời nhưng khối lượng công việc tính toán nhiều và phải tiến hành
tính giá theo từng danh điểm NVL.
Phương pháp này chỉ sử dụng được ở những doanh nghiệp
có ít danh điểm NVL và số lần nhập của mỗi loại không nhiều.
Ngày
tháng
Nội
dung
số lượng(m) Đơn giá Thành tiền
Nhập Xuất Tồn Nhập Xuất Tồn
1/2 Tồn - - 1,000 25 - - 25,000
3/2 Xuất - 600 400 25 - 15,000 10,000
7/2 Nhập 1,600 - 2,000 25.225 40,360 - 50,360
15/2 Xuất - 500 1,500 25.18 - 12,590 37,770
24/2 Xuất - 1,100 400 25.18 - 27,698 10,072
28/2 Nhập 400 - 800 25 10,000 - 20,072
Cộng 2,000 2,200 - - 50,360 55,288 -
* Theo đơn giá bình quân cuối kỳ trước.
Giá thực tế VL tồn kho cuối kỳ trước
Đơn giá bq =
cuối kỳ trước số lượng VL tồn kho cuối kỳ trước.
Theo phương pháp này, kế toán xác định giá đơn vị bình quân dựa
trên giá thực tế và lượng NVL tồn kho cuối kỳ trước. Dựa vào giá đơn
vị bình quân nói trên và lượng NVL xuất kho trong kỳ để kế toán xác
định giá thực tế NVL xuất kho theo từng danh điểm.
Phương pháp này cho phép giảm nhẹ khối lượng tính toán của
kế toán, nhưng độ chính xác của công việc tính giá phụ thuộc vào tình
hình biến động giá cả NVL, trường hợp giá cả thị trường NVL có sự
biến động lớn thì việc tính giá NVL xuất kho theo phương pháp này trở
nên thiếu chính xác và có trường hợp gây ra bất hợp lý( tồn kho âm ).
Với ví dụ trên ta có:
25,000
Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước= = 25
1,000
Ngày 3: 600 x 25 = 15,000
Ngày 15: 500 x 25 = 12,500
Ngày 24: 1,100 x 25 = 27,500
Tổng giá trị xuất dùng trong kỳ = 55,000.
1.5 Phương pháp giá hạch toán.
Ngoài các phương pháp cơ bản trên, trong thực tế công tác kế
toán, để giảm nhẹ việc ghi chép cũng như để bảo đảm tính kịp thời
của thông tin kế toán, để tính giá thực tế của vật liệu xuất dùng, kế
toán còn sử dụng phương pháp giá hạch toán. Theo phương pháp
này, toàn bộ vật liệu, dụng cụ, sản phẩm, hàng hoá biến động trong kỳ
được tính theo giá hạch toán ( giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định
trong kỳ). Cuối kỳ, kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán
sang giá thực tế theo công thức:
Giá thực tế VL = Giá hạch toán x hệ số giá VL
Xuất kho VL xuất kho
Trong đó:
Giá thực tế của VL tồn kho
đầu kỳ và nhập trong kỳ
Hệ số giá =
của vật liệu Giá hạch toán của VL tồn kho
đầu kỳ và nhập trong kỳ
Đối với các doanh nghiệp có nhiều loại vật liệu,giá cả
thường xuyên biến động, nghiệp vụ nhập-xuất vật liệu diễn ra thường
xuyên thì việc hạch toán theo giá thực tế trở nên phức tạp, tốn nhiều
công sức và nhiều khi không thực hiện được. Do đó, việc hạch toán
hàng ngày nên sử dụng giá hạch toán.
Giá hạch toán là loại giá ổn định, doanh nghiệp có thể sử dụng
trong thời gian dài để hạch toán nhập, xuất, tồn kho vật liệu trong khi
chưa tính được giá thực tế của nó. Doanh nghiệp có thể sử dụng giá
kế hoạch hoặc giá mua vật liệu ở một thời điểm nào đó hay giá vật liệu
bình quân tháng trước để làm giá hạch toán. Sử dụng giá hạch toán
để giảm bớt khối lượng cho công tác kế toán nhập, xuất vật liệu hàng
ngày nhưng cuối tháng phải tính chuyển giá hạch toán của vật liệu
xuất, tồn kho theo giá thực tế. Việc tính chuyển dựa trên cơ sở hệ số
giữa giá thực tế và giá hạch toán.
Phương pháp hệ số giá cho phép kết hợp chặt chẽ hạch toán
chi tiết và hạch toán tổng hợp về NVL trong công tác tính giá, nên
công việc tính giá được tiến hành nhanh chóng và không bị phụ thuộc
vào số lượng danh điểm NVL, số lần nhập, xuất của mỗi loại nhiều hay
ít.
Cũng ví dụ trên, giả sử đơn giá hạch toán của vật liệu là 25, ta
có:
Chỉ tiêu Giá hạch toán Giá thực tế
1.Tồn đầu kỳ 25,000 25,000
2.Nhập trong kỳ 50,000 50,360
3.Cộng tồn đầu kỳ và
nhập trong kỳ.
75,000 75,360
4.Hệ số giá - 1.0048
5.Xuất trong kỳ. 55,000 55,264
6.Tồn cuối kỳ 20,000 20,096
Trên thế giới, theo chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho,
tính giá vật liệu xuất kho, kế toán có thể áp dụng theo các công thức
sau:
Phương pháp giá thực tế đích danh.
Phương pháp nhập trước xuất trước.
Phương pháp nhập sau xuất trước.
Phương pháp giá bình quân.
Tuy nhiên, theo chuẩn mực quốc tế số 2, do nhược điểm cơ
bản của phương pháp nhập sau xuất trước là cung cấp những thông
tin không hợp lý, lạc hậu về giá trị hang tồn kho của doanh nghiệp nên
nó không được khuyến khích áp dụng.Muốn áp dụng công thức này,
doanh nghiệp phải công bố trên báo cáo tài chính khoản chênh lệch
giữa giá trị tồn kho trên báo cáo tài sản và giá trị thấp nhất giữa giá trị
tính theo phương pháp nhập trước - xuất trước hoặc bình quân gia
quyền và giá trị thực hiện ròng( là giá ước tính có thể bán được trong
điều kiện bình thường trừ đi chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm
và chi phí khác để bán hàng sau nay) hoặc giá trị thấp nhất giữa giá
phí hiện tại trong ngày kế toán và giá thực hiện ròng. Phương pháp
này bị cấm sử dụng ở một số nước như: Úc, Hồng Kông, Anh nhưng
lại được sử dụng khá phổ biến ở Mỹ.
2 Ảnh hưởng của các phương pháp tính giá NVL
xuất dùng đến chi phí sản xuất, giá vốn hàng bán, lợi
nhuận của doanh nghiệp:
2.1 Ảnh hưởng:
Vì NVL xuất dùng được sử dụng trực tiếp để chế tạo sản
phẩm, dùng cho sản xuất chung(Tk621,Tk627) do đó, giá trị NVL xuất
dùng có ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí sản xuất và giá vốn hàng bán.
Vì vậy, các phương pháp ước tính giá trị NVL khác nhau sẽ cho các
giá trị khác nhau đối với việc đưa vật liệu vào quá trình sản xuất. Kết
quả là khi sản phẩm được bán ra, các phương pháp tính giá NVL xuất
dùng sẽ có tác động khác nhau tới giá vốn hàng bán, giá trị tồn kho.
NVL còn được xuất dùng cho các bộ phận bán hàng và quản lý
doanh nghiệp, vì vậy các phương pháp tính giá NVL khác nhau sẽ cho
các giá trị khác nhau về chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp. Qua đó, giá trị NVL xuất dùng sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận
của doanh nghiệp (tuỳ vào từng phương pháp ước tính NVL mà số lợi
nhuận thu được là khác nhau).
Từ đó, các phương pháp xác định giá trị NVL xuất dùng sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản mục trên báo cáo tài chính và số
thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước.
2.2 Nguyên nhân của sự khác biệt.
Nguyên nhân của sự khác biệt về chi phí và lợi nhuận tính theo
các phương pháp tính giá NVL xuất dùng khác nhau là do sự thay đổi
về giá mua và đơn giá. Nếu giá mua hoàn toàn không đổi và ổn định
thì mọi phương pháp ước tính giá sẽ cho cùng một giá trị về chi phí và
lợi nhuận.
Để làm rõ điều này, chúng ta hãy xét ví dụ:
Giả thiết giá mua vật liệu của một công ty như sau:( đơn vị:
1.000 đồng)
Ngày
mua
số lượng
(chiếc)
Đơn giá(giá ổn
định)
Đơn giá(giá
tăng lên)
Đơn giá(giá
giảm xuống)
1/1
15/1
31/1
2
4
3
50
50
50
50
52
55
50
47
44
Nếu số tồn kho ở ngày 31/1 gồm 2 chiếc thì giá trị NVL xuất
dùng, giá trị tồn kho của mỗi phương pháp( giả sử không có tồn kho
đầu kỳ) được thể hiện như sau:
FIFO Bình quân LIFO
Mức giá ổn định.
Vật liệu đưa vào SX
tồn cuối kỳ.
350
100
350
100
350
100
Mức giá tăng lên.
Vật liệu đưa vào SX
Tồn kho cuối kỳ.
363
110
368
105
373
100
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét