Luận văn tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
động lớn trên thị trường Thế giới, khu vực và do Ngân hàng không kiểm soát
tốt được các khoản vay…Điều này không chỉ xảy ra ở thị trường Việt Nam
mà còn diễn ra ở trên Thế giới. Chẳng hạn vào cuối năm 1997, khủng hoảng
tài chính đã làm cho nhiều Ngân hàng ở châu Á bị mất hàng tỷ đô la Mỹ, bị
phá sản hoặc phải sát nhập; cũng vào năm 1997, nhiều Ngân hàng thương mại
Việt Nam do mở rộng cho vay tràn lan đã rơi vào tình trạng nợ quá hạn, nợ
khó đòi. Tóm lại tất cả các loại rủi ro của ngân hàng đều có bản chất chung đó
là khả nảng xảy ra tổn thất cho ngân hàng.
1.1.2 Các loại rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng
Dựa vào những tiêu thức khác nhau thì rủi ro của Ngân hàng được chia
thành những loại khác nhau. Nếu phân chia theo nguyên nhân các nhân tố tác
động thì rủi ro Ngân hàng bao gồm: rủi ro do người vay không trả được nợ
cho Ngân hàng, rủi ro do lãi suất thay đổi, rủi ro do tỷ giá thay đổi, rủi ro do
các nguyên nhân khác như mất trộm, cháy nổ, giấy tờ giả…Tuy nhiên trong
phạm vi hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam có thể tổng hợp
thành một số loại rủi ro cơ bản như sau:
1.1.2.1 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà Ngân hàng phải
gánh chịu do khách hàng không trả đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc
là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn.
Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, Ngân hàng không dự kiến
khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản cho vay đó luôn hàm
chứa rủi ro. Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lý toàn bộ Ngân
hàng, tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định
trước trong chiến lược hoạt động chung. Do vậy, khi tổn thất dưới mức tổn
thất dự kiến, Ngân hàng coi đó là một thành công trong quản lý.
1.1.2.2 Rủi ro lãi suất
Khi huy động vốn của doanh nghiệp hoặc dân cư, Ngân hàng sẽ phải trả
Hoàng Thị Minh Châm Lớp Toán Tài Chính - 46
5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
lãi. Còn khi tài trợ, Ngân hàng sẽ thu lãi. Lãi suất của các khoản cho vay, tiền
gửi và chứng khoán thường xuyên biến động, có thể làm gia tăng lợi nhuận
cho Ngân hàng, ngược lại cũng có thể gây tổn thất cho Ngân hàng. Như vậy
rủi ro lãi suất là khả năng thu nhập giảm do chênh lệch lãi suất giảm, khi lãi
suất thị trường thay đổi ngoài dự kiến. Rủi ro lãi suất có thể có một số hình
thức khác nhau như rủi ro xác định lại lãi suất, rủi ro đường cong lãi suất thay
đổi, rủi ro tương quan lãi suất, và rủi ro quyền chọn đi kèm.
• Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất có thể gồm:
- Do sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản, và chế độ lãi
suất cố định.
- Do sự thay đổi của lãi suất thị trường ngoài dự kiến.
Rủi ro lãi suất là một loại rủi ro thị trường quan trọng, đặc biệt trong
điều kiện lãi suất thay đổi như hiện nay. Vì vậy, việc thực hiện các biện pháp
để hạn chế rủi ro lãi suất cũng là một nội dung quan trọng trong quản lý rủi ro
của Ngân hàng thương mại.
• Các giải pháp phòng ngừa rủi ro lãi suất:
- Phải duy trì cân đối các khoản vay nhạy cảm với lãi suất bên tài sản
nợ và tài sản có.
- Sử dụng một chính sách lãi suất linh hoạt, đặc biệt với những khoản
vay lớn, thời hạn dài cần tìm kiếm nguồn vốn tương xứng, hoặc thực hiện cơ
chế lãi suất thả nổi.
- Sử dụng các công cụ tài chính mới để hạn chế rủi ro ngoại bảng, như
sử dụng các nghiệp vụ kỳ hạn về lãi suất, nghiệp vụ kỳ hạn về tiền gửi,
nghiệp vụ kỳ hạn về lãi suất tiền vay, thực hiện hợp đồng tương lai do không
cân xứng tài sản nợ và tài sản có; thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất, quyền
lựa chọn lãi suất.
Hoàng Thị Minh Châm Lớp Toán Tài Chính - 46
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
1.1.2.3 Rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá là khả năng xảy ra những tổn thất mà Ngân hàng phải gánh
chịu khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính. Trong cơ chế thị
trường, tỷ giá thường xuyên dao động. Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối
đoái của Ngân hàng tạo ra thu nhập thặng dư hoặc thâm hụt tạm thời. Tuy
nhiên có những thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho Ngân hàng.
Những nhân tố tác động đến rủi ro tỷ giá:
- Lãi suất.
- Các chính sách của chính phủ.
- Sự đầu cơ trên thị trường.
- Tính nhạy cảm của thị trường.
- Lạm phát.
- Sự ổn định về chính trị.
Loại tiền kinh doanh: một số đồng tiền có sự biến động về tỷ giá rất lớn
trong khi đó một số đồng tiền lại có sự biến động ít hơn.
Để hạn chế rủi ro tỷ giá người ta có thể có một số giải pháp sau:
Sử dụng một số công cụ - các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ để quản lí
rủi ro. Việc phòng ngừa rủi ro có thể dùng các nghiệp vụ sẵn có trên thị
trường. Việc phòng ngừa rủi ro của giao dịch kỳ hạn bằng một giao dịch
Swap, dùng giao dịch quyền chọn để hạn chế rủi ro.
Việc nắm giữ một loại ngoại tệ nào đó quá nhiều là mạo hiểm vì khiến
Ngân hàng phải gánh chịu rủi ro tỷ giá phát sinh. Vì vậy Ngân hàng nên thực
hiện đa dạng hoá các loại ngoại tệ kinh doanh tránh những phụ thuộc quá
nhiều vào Đôla Mỹ, phân tán rủi ro, thích nghi được với những biến động bất
thường về tỷ giá.
1.1.2.4 Rủi ro thanh toán
Rủi ro thanh toán là những tác động do sự biến động của Tài sản Nợ và
Hoàng Thị Minh Châm Lớp Toán Tài Chính - 46
7
Luận văn tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Tài sản Có trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, làm cho Ngân hàng
không có đủ tiền để thực hiện các cam kết với khách hàng hay nói cách khác
Ngân hàng không có khả năng thanh toán các giao dịch của khách hàng theo
các cam kết (thiếu hoặc mất khả năng thanh toán).
Rủi ro thanh khoản có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân như:
- Do Ngân hàng sử dụng vốn để đầu tư, cho vay nhưng chưa thu hồi
được vì chưa đến kỳ hạn khách hàng trả nợ, nhưng Ngân hàng phải thanh toán
các khoản nợ đến hạn (do sự biến động của tài sản Nợ và Tài sản Có trong quá
trình hoạt động).
- Do có nhiều khoản vay kém chất lượng nên Ngân hàng không thu
được nợ làm cho Ngân hàng không có đủ tiền để thực hiện các cam kết với
khách hàng hay nói cách khác Ngân hàng không có khả năng thanh toán các
giao dịch của khách hàng theo các cam kết (thiếu hoặc mất khả năng thanh
toán).
- Do những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền gửi ở Ngân
hàng ngay lập tức. Hoặc có dòng tiền lớn rút ra đột ngột do yếu tố mất ổn định
vĩ mô, do thông tin bất lợi cho Ngân hàng.
Thiếu khả năng thanh toán là thiếu tiền theo dự kiến, điều này đòi hỏi
Ngân hàng phải bù đắp lượng tiền thiếu với chi phí cao hơn bình thường dẫn
đến làm giảm lợi nhuận. Khi lợi nhuận giảm qua số cân bằng thu chi làm cho
NH bị lỗ trong kinh doanh. Nếu số lỗ này không được bù đắp và ngày càng
tăng lên do việc huy động vốn đảm bảo khả năng thanh toán sẽ dẫn đến việc
NH bị phá sản. Ngược lại khi Ngân hàng thừa khả năng thanh toán (tức là duy
trì số tiền không sinh lời hoặc sinh lời thấp quá lớn để đảm bảo khả năng thanh
toán) cũng sẽ dẫn đến thu nhập thấp, giảm khả năng sinh lời của Ngân hàng.
Trường hợp mất khả năng thanh toán cũng dẫn đến việc NH bị phá sản
vì mọi khách hàng là chủ nợ của NH sẽ cùng rút tiền ồ ạt (kể cả những khoản
Hoàng Thị Minh Châm Lớp Toán Tài Chính - 46
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
nợ chưa đến hạn) trong khi những khách nợ của NH không thanh toán vì các
khoản nợ chưa đến hạn mà NH không thể huy động được tiền, kể cả việc chi
phí cao hơn mức bình thường.
Khi bị phá sản do mất khả năng thanh toán, hậu quả không phải chỉ xảy
ra đối với chính Ngân hàng đó mà nó thường kéo theo sự rút tiền ồ ạt của
khách hàng tại các Ngân hàng khác. Trường hợp xảy ra đối với NHTM cổ
phần Á Châu cuối năm 2003 là một minh chứng cho việc đó. Khi khách hàng
rút tiền tại NHTM cổ phần Á Châu, nhiều NH khác trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh đã phải xây dựng kế hoạch ứng phó trong trường hợp sự rút tiền ồ
ạt của khách hàng lan truyền. Vì vậy các Ngân hàng phải tính toán nhu cầu
khả năng thanh toán đó là việc tính toán nhu cầu phải chi và có thể phải chi
của Ngân hàng.
1.1.2.5 Rủi ro trong dịch vụ bảo quản và quản lý chứng từ có giá
Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, việc các Ngân hàng
thương mại đa dạng hoá hoạt động của mình được coi là những thay đổi tất
yếu. Một trong những hoạt động đó là bảo quản và quản lý chứng từ có giá,
một công việc được xem là có nhiều rủi ro. Vậy rủi ro trong quản lý và bảo
quản chứng từ có giá là gì? Đó là khả năng xảy ra những tổn thất mà Ngân
hàng phải gánh chịu trong việc quản lý và kinh doanh các loại chứng từ có
giá. Các loại rủi ro mà Ngân hàng phải chịu khi kinh doanh chứng khoán rất
cao; những rủi ro đó bao gồm:
• Rủi ro thị trường: các giấy tờ có giá do các Ngân hàng thương mại
nắm giữ luôn có khả năng thay đổi giá trị do các tác động từ thị trường, hay từ
chính bản thân Ngân hàng thương mại, hoặc từ Chính phủ…Vì vậy các Ngân
hàng thương mại sẽ bị giảm giá trị tài sản nếu như dự đoán không đúng về
tình hình thị trường, gây ra những thiệt hại nhất định đối với Ngân hàng.
Hoàng Thị Minh Châm Lớp Toán Tài Chính - 46
9
Luận văn tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
• Rủi ro do người phát hành giấy tờ có giá không thể thanh toán được:
mọi giấy tờ có giá mà một Ngân hàng thương mại nắm giữ đều tiềm ẩn rủi ro
này (ngoại trừ trái phiếu Chính phủ). Các Ngân hàng thưong mại có thể chọn
loại hình giấy tờ có giá để đầu tư cho phù hợp với mục đích chính của mình,
nhưng luôn phải đánh giá đúng mức rủi ro của chứng khoán đó. Việc người
phát hành không thể thanh toán được luôn gây ra những thiệt hại đáng kể đối
với các Ngân hàng; nó gián tiếp gây ra những thiệt hại đối với toàn bộ hệ
thống kinh tế quốc gia. Chính vì thế mà các quốc gia đều đặt ra những quy
định chỉ cho phép Ngân hàng thương mại được phép kinh doanh số chứng
khoán đã được xếp hạng ở một mức nào đó.
• Rủi ro nhân sự: hoạt động kinh doanh giấy tờ có giá của Ngân hàng
thương mại rất đa dạng. Nó đòi hỏi sự độc lập của các cá nhân, nhân viên
Ngân hàng. Chính vì thế mà những rủi ro phát sinh bởi chính các nhân viên
của Ngân hàng là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là trong hoạt động môi
giới đầu tư cho khách hàng.
• Rủi ro do yêu cầu thanh khoản: các Ngân hàng luôn phải đáp ứng một
nhu cầu thanh khoản nhất định và việc đầu tư vào giấy tờ có giá có thể làm
giảm khả năng thanh khoản của Ngân hàng, làm tăng rủi ro do yêu cầu thanh
khoản.
• Rủi ro khác: các rủi ro khác mà một Ngân hàng phải đối mặt trong
quản lý và kinh doanh giấy tờ có giá bao gồm những rủi ro như cháy, mất mát,
cướp…Và còn nhiều rủi ro tới từ các hoạt động khác của Ngân hàng, chúng
luôn có tác động qua lại lẫn nhau.
• Ngoài các rủi ro trên Ngân hàng còn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro
quan trọng khác như:
Hoàng Thị Minh Châm Lớp Toán Tài Chính - 46
10
Luận văn tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
- Rủi ro chính trị: khi xảy ra những thay đổi về pháp luật, những quy
định về luật pháp trong và ngoài nước sẽ có ảnh hưởng xấu tới thu nhập của
Ngân hàng.
- Rủi ro phạm tội: xảy ra khi những người chủ Ngân hàng, nhân viên hay các
khách hàng có hành vi phạm pháp như thực hiện các hành động lừa đảo, biển thủ,
trộm cắp, hay các hành động bất hợp pháp khác làm Ngân hàng thua lỗ.
- Rủi ro do các tình huống bất ngờ: đó là các tình huống mang tính chất
bất ngờ như động đất, núi lửa, hoả hoạn….
1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng
1.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Như đã trình bày ở phần trên: rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những
tổn thất mà Ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng không trả đầy đủ cả gốc
và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn.
Rủi ro tín dụng là kết quả của việc Ngân hàng cấp tín dụng cho khách
hàng và Ngân hàng nhận được các giấy nhận nợ do con nợ phát hành với sự
cam kết là sẽ thanh toán cả gốc và lãi đúng hạn cho Ngân hàng. Do đó tại thời
điểm cấp tín dụng và chấp nhận giấy nhận nợ nghĩa là Ngân hàng đã thừa
nhận khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn của khách hàng mình với một
xác suất cao, còn xác suất mất khả năng thanh toán của khách hàng là thấp
hơn nhiều. Trái phiếu coupon có thu nhập cố định và giấy nhận nợ tín dụng
đối với Ngân hàng là hai ví dụ điển hình về giấy nhận nợ do công ty phát
hành. Trong cả hai trường hợp, Ngân hàng đều đầu tư vào các giấy nhận nợ
nhằm nhận được trái tức từ trái phiếu và lãi suất từ khoản tín dụng nếu người
vay tiền không bị phá sản. Trường hợp người vay tiền phá sản, Ngân hàng
thường không thu được lợi tức cũng như lãi suất và có thể bị mất toàn bộ hoặc
một phần vốn gốc là phụ thuộc vào khả năng Ngân hàng tiếp cận đối với tài
sản của con nợ trong khi giải quyết phá sản hoặc giải thể.
Hoàng Thị Minh Châm Lớp Toán Tài Chính - 46
11
Luận văn tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nếu coi khoản tiền hoàn trả đúng hạn cho ngân hàng khi đầu tư vào trái
phiếu và các khoản chênh lệch vay tín dụng là X thì X sẽ là biến ngẫu nhiên.
Đồ thị dưới đây minh họa phân phối xác suất của khả năng khoản tiền hoàn
trả X so sánh với khoản tiền gốc và lãi khách hàng phải trả.
Đồ thị 1.1: Phân phối xác suất khoản tiền hoàn trả
Chúng ta thấy rằng đỉnh của đồ thị biểu diễn xác suất hoàn trả đầy đủ
cả gốc và lãi của khoản vay là tương đối cao (tuy nhiên luôn nhỏ hơn 1). Đặc
điểm luân chuyển vốn của các công ty có thể là nguyên nhân gây nên rủi ro
tín dụng ở các mức độ khác nhau. Tỷ lệ không thanh toán được một phần hay
toàn bộ tiền lãi là khoảng cách từ điểm “gốc” đến điểm “gốc và lãi”; và tỷ lệ
không thanh toán được một phần hay toàn bộ tiền gốc là từ điểm “0” đến
điểm “gốc”. Đồ thị 1.1 cũng chỉ ra rằng xác suất mà ngân hàng thu được cả
gốc và lãi là cao hơn nhiều so với trường hợp không thu được cả gốc và lãi,
điều này nói lên rằng bổn phận của Ngân hàng là phải đánh giá được mức độ
rủi ro dự tính của các khoản đầu tư và đặt yêu cầu cho phần thu nhập phụ trội
so với rủi ro tương xứng với mức độ rủi ro của các chứng khoán mà Ngân
hàng nắm giữ.
Hoàng Thị Minh Châm Lớp Toán Tài Chính - 46
12
P=1
0
gốc gốc và lãi
tiền hoàn trả
P
Luận văn tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Đồ thị 1.2: Phân bổ xác suất rủi ro đối với một danh mục đầu tư
Sự phân bổ lợi tức đối với rủi ro tín dụng đặt ra cho Ngân hàng là phải
giám sát và thu thập được những thông tin về công ty mà Ngân hàng đã đầu
tư. Nghĩa là chiến lược quản trị rủi ro tín dụng cùng với việc quản trị công ty
hiệu quả có ảnh hưởng đến đường cong phân bổ xác suất trong việc thu hồi
tín dụng. Ngoài ra, sự phân bổ rủi ro tín dụng trên Đồ thị 1.1 là trường hợp
chỉ đầu tư vào một loại tài sản và đo mức độ rủi ro của nó. Một trong những
lợi thế của Ngân hàng so với những nhà đầu tư riêng lẻ là khả năng đa dạng
hoá danh mục đầu tư của Ngân hàng là rất lớn, và thông qua việc đa dạng hoá
danh mục đầu tư thì rủi ro tín dụng giảm đáng kể. Trong phạm vi Đồ thị 1.1
nếu thông qua đa dạng hoá đầu tư thì rủi ro tín dụng sẽ được làm dịu đi.
Trong trường hợp, một Ngân hàng thực hiện tốt việc đa dạng hoá danh mục
đầu tư của mình, thì hình dáng đồ thị phân bổ xác suất thu hồi gốc và lãi như
được chỉ ra ở Đồ thị 1.2.
Ngân hàng thu được lượng tiền cực đại khi mà toàn bộ các khoản tín
dụng và trái phiếu được đầu tư thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi. Trong thực tế,
một số khoản tín dụng và trái phiếu không thể thu hồi đủ, thu đúng được một
Hoàng Thị Minh Châm Lớp Toán Tài Chính - 46
13
0
h
o
àn
t
rả
tố
i
đ
a
tiền hoàn trả
P
P=1
0
h
o
àn
t
rả
tố
i
đ
a
tiền hoàn trả
P=1
Luận văn tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
phần hay toàn bộ số lãi và gốc. Vì vậy, mức độ thu hồi trung bình của các
danh mục đầu tư có thể nhỏ hơn so với trường hợp thu được đầy đủ cả gốc và
lãi. Kết quả của việc đa dạng hoá đầu tư là việc hạn chế được xác suất xảy ra
các hậu quả xấu trong danh mục đầu tư. Một danh mục đầu tư được đa dạng
hóa đã rút ngắn được phạm vi rủi ro tín dụng. Trong thực tế, đa dạng hoá
danh mục đầu tư chỉ có thể giảm được rủi ro tín dụng đặc thù riêng của các
ngành kinh tế, tuy nhiên rủi ro có tính chất hệ thống, chung cho cả nền kinh tế
có ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh tế thì không thể loại trừ được.
1.2.2 Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Nợ có vấn đề
Khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, các Ngân hàng thương mại đều mong
muốn rằng khoản cho vay đó sẽ được hoàn trả đầy đủ, đúng thời hạn như đã
thoả thuận. Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho hoạt động của mình, sau khi cấp
tín dụng cho khách hàng, Ngân hàng phải thường xuyên giám sát khoản tín
dụng đã cấp đó, để xem khách hàng có sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả
thuận không? Và mức độ hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng như thế
nào?
Do đó có thể nói rằng, hoạt động giám sát có vai trò hết sức quan trọng:
nó hướng vào những dấu hiệu báo trước các vấn đề kinh doanh nảy sinh, cũng
như những biện pháp khắc phục, giúp Ngân hàng nhận biết và phát hiện được
các khoản nợ xấu có vấn đề, để có hành động và biện pháp cần thiết, kịp thời
để ngăn ngừa hoặc xử lý.
Nợ có vấn đề là những khoản vay, trong đó thoả thuận hoàn trả của
khách hàng có khả năng đổ vỡ, dù hiện tại những khoản vay đó chưa đến kỳ
hạn trả nợ gốc và lãi.
Muốn tránh được thiệt hại và tổn thất, thì cán bộ tín dụng cần sớm phát
hiện ra những khoản nợ có vấn đề, để kịp thời ngăn ngừa hoặc xử lý. Nếu
Hoàng Thị Minh Châm Lớp Toán Tài Chính - 46
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét