list). Nội dung thơng tin gửi đi dùng trong thư điện tử khơng chỉ có văn bản (text)
mà còn có thể ghép thêm (attack) các văn bản đã được định dạng, graphic, sound,
video. Các dạng thơng tin này có thể hồ trộn, kết hợp với nhau thành một tài liệu
phức tạp. Lợi ích chính dịch vụ thư điện tử là thơng tin gửi đi nhanh và rẻ.
WWW (World Wide Web): Đây là khái niệm mà người dùng Internet quan tâm
nhiều nhất hiện nay. Web là một cơng cụ, hay đúng hơn là một dịch vụ của
Internet, Web chứa thơng tin bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh và thậm chí cả
video được kết hợp với nhau Web cho phép chúng ta chui vào mọi ngõ ngách
trên Internet, là những điểm chứa CSDL gọi là Website. Nhờ có Web nên dù khơng
phải là chun gia, mọi người có thể sử dụng Internet một cách dễ dàng. Phần mềm
sử dụng để xem Web gọi là trình duyệt (Browser). Một trong những trình duyệt
thơng thường hiện nay là Navigator của Netcape, tiếp đó là Internet Explorer của
Microsoft.
Dịch vụ truyền file (FTP - File Transfer Protocol): là dịch vụ dùng để trao đổi
các tệp tin từ máy chủ xng các máy cá nhân và ngược lại.
Gropher: Dịch vụ này hoạt động như viện Menu đủ loại. Thơng tin hệ thống
Menu phân cấp giúp người sử dụng từng bước xác định được những thơng tin cần
thiết để đi tới vị trí cần đến. Dịch vụ này có thể sử dụng để tìm kiếm thơng tin trên
các FTPSite.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
CHƯƠNG 2
LẬP TRÌNH TRÊN WWW - NGƠN NGỮ HTML
(HyperText Makeup Language)
1. Giới thiệu ngơn ngữ HTML
HTML là ngơn ngữ chuẩn để tạo lập các tài liệu cho WWW. HTML được sử
dụng trong các chương trình duyệt Web, Ví dụ như MS Internet Explorer, Nescape
Navigator. Một tài liệu HTML là một tệp văn bản chứa các phần tử mà các chương
trình duyệt sẽ sử dụng để hiện các văn bản, các đối tượng Multimedia, và các siêu
liên kết. Người sử dụng có thể dùng chuột để chọn các văn bản được format như
một siêu liên kết trong các tài liệu này. Sau khi liên kết này được chọn, tài liệu mà
nó trỏ tới sẽ được nạp vào máy và hiện lên màn hình.
Một phần tử là một đơn vị cơ sở của HTML. Nó bao gồm một thẻ khởi đầu
(start-tag), một thẻ kết thúc (end-tag), và các ký tự dữ liệu được đặt trong các thẻ
này. Một thẻ bắt đầu bằng một dấu nhỏ hơn (<) và kết thúc bằng một dấu lớn hơn
(>). Thẻ kết thúc phải có thêm một dấu sổ chéo (/) ngay trước tên thẻ. Có một số
thẻ phẩi ln ln kết thúc bằng một thẻ phù hợp, còn một số khác lại cho phép bỏ
qua thẻ kết thúc nếu kết quả là rõ ràng và khơng có sự mập mờ nào cả.
HTML khơng mơ tả trang tài liệu theo như một số ngơn ngữ máy tính khác.
Có những ngơn ngữ mơ tả từng phần tử đồ hoạ và vị trí của nó trên trang tài liệu,
bao gồm font chữ, kích cỡ Ngược lại HTML lại khơng đưa ra bất cứ mơ tả nào về
font, hình ảnh đồ hoạ và chỗ để đặt chúng. HTML chỉ “gán thẻ” cho nội dung tập
tin với những thuộc tính nào đó mà sau đó chúng được xác định bởi chương trình
duyệt để xem tập tin này. Điều này giống như người đánh dấu bằng tay một số
đoạn trên văn bản tài liệu để chỉ cho người thư kí biết những việc cần thiết như:
"chỗ này in đậm", "chỗ này in nghiêng"
Ví dụ: các thẻ về kích thước chữ
<h1> </h1>
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
<h2> </h2>
các thẻ về kiểu chữ
<b> </b>
<p> </p>.
HTML gán thẻ cho kiểu chữ, chèn file ảnh đồ hoạ, âm thanh, video vào văn
bản tạo ra mối liên kết và hình thức gọi là siêu văn bản (Hypertext). Siêu văn bản là
đặc tính quan trọng nhất của HTML. Điều này có nghiã là một văn bản hay đồ hoạ
bất kỳ chỗ nào cũng có thể liên kết với một tài liệu khác.
2. Đặc điểm ngơn ngữ HTML
HTML được thiết kế ra để dùng cho Web : trong phần lớn các chương trình xử
lý văn bản khá rắc rối trong một số tiểu tiết -ví dụ như chọn font - HTML, được
thiết kế để dùng trên mọi kiểu máy tính. Nó được thiết kế vừa để dễ vận chuyển
trên internet, vừa thích hợp với các loại máy tính.
HTML là một chuẩn mở:ngồi các thẻ trong bộ chuẩn, HTML có thể được
mở rộng bằng nhiều cách như : Mở rộng thêm các thẻ HTML, sử dụng Javascript,
VBScript và các ngơn ngữ lập trình khác. . .
HTML dễ đọc, dễ hiểu, có chứa các liên kết và hỗ trợ Multimedia.
HTML là ngơn ngữ thơng dịch : đây được coi là nhược điểm của ngơn ngữ bởi
vì nó sẽ làm giảm tốc độ thực hiện các ứng dụng khác trên Web đồng thời nó khó
đảm bảo tính an tồn, bảo mật.
3. Phương pháp thiết kế một trang Web
Khi nói đến xây dựng một trang Web cũng đồng nghĩa với việc xây dựng một
trang chủ. Theo quan niệm chung, trang chủ là một trang Web chứa liên kết đến
một hay nhiều trang khác và thường là trang cung cấp thơng tin tổng qt nhất cho
người xem. Vì vậy việc thiết kế trang Web khơng chỉ là thiết kế một trang HTML
đơn lẻ, mà còn là thiết kế các mối liên kết tới các tài liệu trong HTML khác ( chưa
kể đến việc phải xây dựng nhiều trang Web liên kết với nhau)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Để xây dựng trang Web với các kết nối trước tiên chúng ta nên xác định xem
thiết kế nội dung gì, cho ai xem và mơi trường thể hiện Web. Thơng thường có các
bước sau:
o • Xác định chủ đề
o • Xác định nội dung
o • Thiết kế sơ đồ hoạt động
o • Thiết kế sơ đồ giao diện với người xem của trang chủ.
o • Thiết kế và xây dựng chi tiết
o Chi tiết các bước:
Xác định chủ đề: Xác định chủ đề trang Web là bước đầu tiên giúp cho việc
định hướng cho các thao tác thiết kế và xây dựng sau này khơng đi chệch mục tiêu.
Chủ đề của trang Web tuy quan trọng song cũng dễ xác định bởi vì nó hồn tồn
dựa vào mục đích thiết kế trang Web đó.
Xác định nội dung: Xác định nội dung trang Web là bước quan trọng nhất. Nó
cho phép ta hình dung được cơng việc sẽ phải làm tiếp theo và xây dựng quy mơ
trang chủ, qua đó quy định khn khổ cơng tác thiết kế giao diện và xây dựng trang
HTML. Khi xác định nội dung cần nhận rõ những điểm chính yếu phải giới thiệu
trên trang Web. Những thơng tin sẽ giới thiệu phải phân loại theo hai tiêu chí: tính
kế thừa và mức độ quan trọng. Việc xây dựng nội dung cũng phải được định trước
phong cách khác nhau: trang nghiêm hay hài hước cứng rắn hay mềm mại.
Thiết kế sơ đồ hoạt động: Sơ đồ hoạt động là mơ hình sắp xếp các nội dung
(được xác định ở bước trên) trong bước này ta sẽ sắp xếp các thơng tin cần giới
thiệu theo thứ tự ưu tiên như đã xác định. Cơng việc sắp xếp bao gồm thứ tự Trên -
Dưới, Trước - Sau, thơng tin nào cần được nêu rõ trong một trang Web thành một
phần riêng, thơng tin nào có thể mơ tả ngay trên trang chủ.
+ Thiết kế giao diện với người xem: Sơ đồ giao diện với người xemlà sơ đồ khái
qt của những gì mà người đến thăm trang chủ của chúng ta sẽ thấy. Giao diện với
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
người xem được thiết kế theo sơ đồ này. u cầu của giao diện là nêu bật được chủ
đề chính, bố trí các liên kết sao cho hợp lý, phân bố mạng thơng tin, đồ hoạ sao cho
cân đối.
Thiết kế và xây dựng chi tiết : cơng tác thiết kế và xây dựng chi tiết là phần việc
đồ sộ nhất khi xây dựng trang Web. Nó cũng là phần việc đưa ra kết quả cuối cùng,
vì vậy có thể nói đây là cơng tác quan trọng nhất. Trong cơng tác thiết kế xây dựng
chi tiết, việc lựa chọn các hình ảnh(để minh hoạ, để làm liên kết)là quan trọng. Đây
chính là cái sẽ gây ấn tượng mạnh nhất đến người xem. Vì vậy thiết kế và lựa chọn
hình ảnh cực kỳ quan trọng
4. Lập trình trang Web động
Khi duyệt các trang Web trên máy, chúng ta thấy rằng các trang Web làm việc
một cách thực sự sinh động, có thể trao đổi thơng tin, dịch vụ mua hàng với các
form nhập dữ liệu và nhận dữ liệu trở về sau khi bấm nút Submit, chúng ta có thể
bấm vào từng phần trong một bức tranh với các liên kết khác nhau, các con số hiển
thị các lần truy cập vào từng trang Web và đặc biệt hơn còn có dịch vụ để truy cập
dữ liệu, tìm kiếm thơng tin theo một tiêu chuẩn nào đó. . . Để làm được điều đó
người ta xây dựng các CSDL trên Web Server để lấy thơng tin đưa tới từ trình
duyệt, sau đó xử lý và trả lại kết quả cho trình duyệt. Tuy nhiên do bản thân Web
Server lại khơng có khả năng làm việc với CSDL vì vậy phải có một chương trình
thực thi được khả năng xử lý thơng tin và làm việc được với Web Server. Chương
trình này đóng vai trò như một cổng giao tiếp giữa Web Server và trình duyệt
Đặc điểm nổi bật của chương trình này là tính đơn giản, bất cứ một người sử
dụng nào cũng có thể tạo ra một chương trình giao tiếp đơn giản mà khơng cần phải
có nhiều kinh nghiệm trong lập trình và khả năng thiết kế. Một chương trình giao
tiếp được gọi là kịch bản, chỉ khi nào cần một trang Web động thực sự với các tính
năng hồn hảo thì chúng ta mới phải nắm vững các kỹ thuật lập trình này.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Ngày nay các chương trình giao tiếp đóng một vai trò rất lớn trong Web
Server, các chương trình giao tiếp chạy chung trên một Web Server có thể giao tiếp
được với nhau để tăng khả năng hoạt động của chúng. Với mơ hình này, Web
Server có thể gọi một chương trình giao tiếp trong khi dữ liệu của người sử dụng
cũng được đưa trực tiếp cho chương trình, sau khi xử lý xong Web Server sẽ gửi
kết quả xử lý của chương trình cho trình duyệt. Chương trình giao tiếp thật đơn
giản ở chỗ chỉ có một vài kiểu vào ra đơn giản và một số luật cụ thể cộng với các
kỹ thuật đặc trưng của mơ hình.
Khi trình duyệt u cầu một trang Web sử dụng chương trình giao tiếp trên
Web Server, Web Server truyền thơng tin vừa nhận được từ gói tin HTTP u cầu
của trình duyệt cho chương trình giao tiếp xử lý. Chương trình giao tiếp sau khi xử
lý thơng tin được u cầu nó sẽ trả lại kết quả cho Web Server, Server sẽ định
khn dạng gói tin theo chuẩn HTTP và truyền trực tiếp cho trình duyệt Web mà
khơng phải thơng qua Web Server, cách này làm tốc độ tải trang Web sẽ nhanh
hơn.
Trước khi gửi dữ liệu cho Web Server, có thể trình duyệt cũng tiền xử lý dữ
liệu trước khi gửi dữ liệu nhằm giảm bớt gánh nặng cho Server. Những ngơn ngữ
có khả năng chạy trên trình duyệt gọi là front - end (VBScript, JavaScript )
5. Xây dựng chương trình giao tiếp
Một chương trình giao tiếp thường có các bước thi hành sau:
Khởi tạo: Truy cập để lấy các thơng tin của hệ thống, lấy trong biến mơi trường
của UNIX hoặc các hệ thống của Window (file *. ini, *. reg). Sau đó nó sẽ nhận
thơng tin do Web Server gửi đến.
Xử lý: q trình này xử lý thơng tin nhận được trên một CSDL
Trả kết quả: Sau khi xử lý xong, chương trình gửi lại kết quả cho Web Server.
Chương trình kết thúc sau khi trả hết kết quả cho Server.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Có rất nhiều ngơn ngữ được sử dụng để xây dựng chương trình giao tiếp trên
các hệ điều hành hiện nay như UNIX, Maintosh, WindowNT, Window 9x Tuy
nhiên chọn một ngơn ngữ để xây dựng chương trình giao tiếp ta nên căn cứ vào các
tiêu chuẩn sau:
Có nhiều câu lệnh thao tác với xâu văn bản
Khả năng làm việc với các thư viện và các phần mềm ứng dụng khác
Khả năng truy cập được vào các biến mơi trường của chương trình
Các biến mơi trường của chương trình giao tiếp (Enviroment variables) các
biến mơi trường của chương trình giao tiếp bao gồm các biến chứa thơng tin về
máy chủ, máy khách, người sử dụng và một số thơng tin phụ. . Dưới đây là liệt kê
một số biến chính sau:
Content - Length: Số byte dữ liệu do gửi đến cho CGI trong STDIN
Content - Type : Kiểu dữ liệu
Logon - User : Tên user login vào mạng
Query - String : Xâu câu hỏi
Gateway - Interface: Cung cấp phiên bản của giao diện
CGI trên Web Server, dạng thức : CGI/ <phiên bản > ví dụ CGI/1. 1
Remote - Addr: Địa chỉ IP của máy Client có u cầu
Remote - Host : tên máy u cầu
Request - Method : Phương thức u cầu POST/GET
URL : Uniform Resource Locator
Truy cập Form nhập dữ liệu : trình duyệt cho phép nhập dữ liệu và chọn các
kiểu thơng tin trên Form, khi nhập xong dữ liệu người sử dụng bấm Submit để gửi
thơng tin cho Web Server, Web Server có nhiệm vụ truyền các thơng tin này cho
chương trình giao tiếp tương ứng.
6. Các phương pháp xây dựng chương trình giao tiếp
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Có rất nhiều phương pháp nhằm mở rộng Web Server tuy nhiên mơ hình hoạt
động của chúng đều hồn tồn tn theo mơ hình vừa trình bày.
CGI (Common Gateway Interface) theo phương pháp CGI thì chương trình
ứng dụng CGI này như là một chương trình thực hiện được. Mỗi khi có u cầu
thực hiện CGI từ khách hàng thì máy chủ đều tạo ra một tiến trình (process) cho
chương trình đó và Web Server sẽ truyền thơng tin của trình duyệt cho chương
trình thơng qua các biến mơi trường. Như vậy số lượng tiến trình làm việc song
song trên máy chủ chính bằng số u cầu của khách hàng. Như vậy chương trình
CGI sẽ chiếm rất nhiều tài ngun của hệ thống làm cho chương trình chạy chậm
và giảm hiệu quả đồng thời khả năng tương thích với người sử dụng cũng bị hạn
chế do việc hỗ trợ ngơn ngữ.
ISAPI (Internet Server Application Programming Interface): Với các chương
trình viết theo phương pháp ISAPI thực chất là một thư viện liên kết động được xây
dựng sẵn trong hệ điều hành Window. Phương pháp này khắc phục được mặt hạn
chế của CGI ở chỗ khi có một u cầu mới thì máy chủ khơng taọ ra một tiến trình
mới mà đọc thư viện tại cùng một khơng gian địa chỉ với Web Server xử lý các u
cầu khác. Tức là thư viện này được dùng chung cho mọi tiến trình, mỗi khi được
gọi vào bộ nhớ thư viện có khả năng phục vụ cho nhiều tiến trình cùng một lúc.
Như vậy chương trình sẽ chiếm ít tài ngun hệ thống làm tăng hiệu lực phục vụ
nhiều tiến trình đồng thời. Tuy nhiên yếu điểm của phương pháp này là phải xây
dựng một thư viện liên kết động, điều này khơng phải là dễ. Và phương pháp này
chỉ áp dụng trên hệ điều hành Window.
ASP (Active Server Pages): là một mơi trường giúp ta sử dụng các ngơn ngữ
đặc tả để tạo ra các chương trình giao tiếp cho tính năng động, tương tác và có tính
hiệu quả cao cho Web Server. Các ngơn ngữ có thể sử dụng được là VBScript hoặc
JavaScript. Ưu điểm nổi bật của ASP là nó hỗ trợ ngay các ngơn ngữ đặc tả được
ứng dụng trong các trang HTML. Tức là trong một file bao gồm cả các thẻ chuẩn
HTML đồng thời chứa các câu lệnh của ASP. Khi có một khách hàng u cầu một
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
file có chứa chương trình ASP, ASP sẽ đọc nội dung file nếu gặp các thẻ chuẩn của
HTML nó sẽ khơng xử lý nhưng nếu gặp nó các dòng lệnh của ngơn ngữ đặc tả thì
nó sẽ xử lý. Sau q trình xử lý nó sẽ trộn các kết quả vừa xử lý và các dòng lệnh
HTML chuẩn để gửi về cho chương trình duyệt như một file HTML bình thường
mà bất kỳ một trình duyệt nào cũng hiểu được. Tuy rằng các câu lệnh ASP giống
như một ngơn ngữ lập trình nhưng tính cấu trúc của nó lại khơng cao. Một ưu điểm
nổi bật của ASP là nó đã tích hợp sẵn các phương thức truy cập CSDL và ngơn ngữ
SQL trong chương trình. Như vậy đối với người lập trình chỉ cần am hiểu các ngơn
ngữ đặc tả thơng thường và các khái niệm làm việc với CSDL đều có thể tạo ra
được các ứng dụng tốt. Một đặc điểm khác của ASP có thể tích hợp các ngơn ngữ
mạnh khác như Java, và cả chương trình CGI trong đó.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
CHƯƠNG 3
CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ CÁCH TRUY XUẤT CƠ SỞ DỮ LIỆU
1. Khái niệm
Cơ sở dữ liệu là một lĩnh vực rất quan trọng của cơng nghệ thơng tin mà nếu
thiếu nó nhiều vấn đề đặt ra sẽ khó giải quyết được. Cơ sở dữ liệu được định nghĩa
là kho thơng tin về một chủ đề, được tổ chức hợp lý để dễ dàng quản lý và truy tìm.
Bất kỳ kho thơng tin nào đáp ứng được u cầu này đều có thể coi là một cơ sở dữ
liệu.
2. Quản trị cơ sở dữ liệu là gì ?
Chương trình quản trị cơ sở dữ liệu là một chương trình ứng dụng trên máy
tính các cơng cụ để truy tìm, sửa chữa, xố và chèn thêm dữ liệu. Các chương trình
này cũng có thể dùng để tạo lập một cơ sở dữ liệu và tạo ra các báo cáo, thống kê.
Các chương trình quản trị cơ sở dữ liệu liên quan khá thơng dụng hiện nay tại Việt
Nam là Foxpro, Access cho ứng dụng nhỏ, MSSQL và Oracle cho ứng dụng vừa
và lớn.
Quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ là một cách quản lý cơ sở dữ liệu trong đó dữ
liệu được lưu trữ trong các bảng dữ liệu hai chiều gồm các cột và các hàng, có thể
liên quan với nhau nếu các bảng đó có một cột hoặc một trường chung nhau.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu là một q trình xử lý xoay quanh các vấn đề sau
đây:
+ Lưu trữ dữ liệu
+ Truy nhập dữ liệu
+ Bảo đảm tính tồn vẹn của dữ liệu
Ba vấn đề chính ở trên có mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc lẫn nhau và chúng
được liệt kê theo thứ tự thực hiện mỗi ứng dụng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét