Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014
Phương pháp luận tính chỉ tiêu giá trị sản xuất
Danh mục sơ đồ và các bảng trong luận án
STT Tên bảng, sơ đồ
Trang
Sơ đồ 1.1 Mối liên hệ giữa ba loại giá
32
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp phơng pháp tính giá trị sản xuất các ngành
sản phẩm theo giá so sánh
111
Bảng 3.1 Doanh số hàng bán ra và trị giá vốn hàng bán ra của thơng
nghiệp phân theo nhóm hàng năm 2004
165
Bảng 3.2
Chỉ số giá tiêu dùng theo nhóm hàng năm 2004 so với năm
1994
166
Bảng 3.3
Chỉ số giá của ngời sản xuất theo nhóm hàng năm 2004 so
với năm 1994
167
Bảng 3.4
Bảng tính chuyển doanh số hàng bán ra năm 2004 từ giá hiện
hành về giá so sánh
168
Bảng 3.5
Số d tín dụng, li suất tín dụng theo các khu vực của hệ
thống ngân hàng năm 2004
170
Bảng phụ lục 1.1 Bảng nguồn và sử dụng đơn giản
188
Bảng phụ lục 1.2 Bảng nguồn
189
Bảng phụ lục 1.3 Bảng sử dụng
190
Danh mục các chữ viết tắt
Viết tắt Viết đầy đủ tiếng Việt
Viết đầy đủ tiếng Anh
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
Consumer price index
FISIM Phí dịch vụ ngầm của dịch vụ trung
gian tài chính
Financial intermediation services
indirectly measured
GDP Tổng sản phẩm trong nớc
Gross domestic product
GO Giá trị sản xuất
Gross output
PPI Chỉ số giá của ngời sản xuất
Producer price index
SNA Hệ thống tài khoản quốc gia của Liên
hợp quốc
System of national accounts
SUT Bảng nguồn và sử dụng
Supply and use table
TCTK Tổng cục Thống kê
General Statistics Office
WPI Chỉ số giá bán buôn vật t cho sản
xuất
Wholesale price index
1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tổng sản phẩm trong nớc (GDP) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng trong
Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), tổng sản phẩm trong nớc phản ánh giá trị của
hàng hóa và dịch vụ cuối cùng đợc tạo ra của toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một
khoảng thời gian nhất định, dùng để đánh giá kết quả sản xuất, nghiên cứu cơ cấu và
mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành kinh tế, mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với phần
huy động vào ngân sách nhà nớc của toàn nền kinh tế. Đặc biệt, GDP theo giá so sánh
đợc dùng để tính tốc độ tăng trởng kinh tế - một trong những chỉ tiêu quan trọng
phản ánh sự phát triển kinh tế của đất nớc và ảnh hởng rất mạnh đến triển vọng đầu
t mở rộng sản xuất của nền kinh tế.
Để tính GDP theo giá so sánh, các nhà thống kê phải tính giá trị sản xuất (GO)
và chi phí trung gian theo giá so sánh, nói cách khác GDP theo giá so sánh đợc tính
gián tiếp và bằng chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian theo giá so sánh
của toàn bộ nền kinh tế. Chất lợng tính GDP theo giá so sánh phụ thuộc rất nhiều vào
phơng pháp tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá so sánh. Hiện nay, phơng pháp tính
giá trị sản xuất theo giá so sánh của Tổng cục Thống kê (TCTK) còn hạn chế, cha
chính xác, cha có bài bản và hệ thống từ nguyên tắc đến phơng pháp tính, nguồn
thông tin và các công cụ dùng để tính.
Trên thế giới, các nớc có nền thống kê phát triển thờng áp dụng phơng pháp
sử dụng để tính chỉ tiêu GDP theo giá hiện hành và giá so sánh, do đó hầu hết những
công trình nghiên cứu và sách hớng dẫn tính GDP đều tập trung vào phơng pháp sử
dụng, tài liệu về phơng pháp sản xuất viết đơn giản và quá cô đọng. Cho đến nay,
những công trình nghiên cứu ở trong nớc thể hiện qua các đề tài nghiên cứu khoa học
của ngành Thống kê và các luận án tiến sĩ chuyên ngành thống kê tại trờng Đại học
Kinh tế Quốc dân Hà Nội và Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh về lĩnh vực thống
2
kê tài khoản quốc gia mới chỉ đề cập tới việc hoàn thiện phơng pháp thống kê chỉ tiêu
giá trị tổng sản lợng của một ngành theo giá hiện hành của phó giáo s, tiến sĩ Bùi
Huy Thảo (1987), nghiên cứu phơng pháp chuyển đổi từ chỉ tiêu thu nhập quốc dân
trong hệ thống bảng cân đối kinh tế quốc dân (MPS) sang chỉ tiêu GDP trong SNA của
tiến sĩ D Quang Nam Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (1993), nghiên cứu
tổng quan về ba phơng pháp tính chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nớc theo giá hiện hành
của tiến sĩ Nguyễn Văn Chỉnh Tổng cục Thống kê (1994), nghiên cứu các chỉ tiêu phân
tích trong hệ thống tài khoản quốc gia của tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Hà, Đại học Kinh
tế thành phố Hồ Chí Minh (2001) và gần đây có nghiên cứu của tiến sĩ Trần Phớc Trữ
(2003) về ứng dụng các mô hình để phân tích tăng trởng tổng sản phẩm trong nớc.
Cha có công trình nghiên cứu nào đề cập tới phơng pháp tính GDP nói chung và giá
trị sản xuất nói riêng theo giá so sánh.
Với các lý do trên, tác giả đ chọn đề tài: Phơng pháp luận tính chỉ tiêu giá trị
sản xuất các ngành sản phẩm theo giá so sánh để viết luận án tiến sĩ kinh tế.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở hệ thống hóa và làm rõ các khái niệm có liên quan tới chỉ tiêu GO;
nguyên tắc và các phơng pháp tính GO theo giá so sánh; đánh giá thực trạng phơng
pháp tính GO các ngành kinh tế ở nớc ta hiện nay. Từ đó luận án tập trung hoàn thiện
phơng pháp luận tính GO các ngành sản phẩm theo giá so sánh.
3. Phạm vi nghiên cứu
Theo mục đích của đề tài, luận án tập trung nghiên cứu:
- Những vấn đề lý luận và phơng pháp luận tính chỉ tiêu GO theo giá so sánh;
- Những tồn tại trong phơng pháp tính chỉ tiêu GO theo giá so sánh ở Việt Nam
hiện nay;
- Hoàn thiện phơng pháp tính chỉ tiêu GO theo giá so sánh từ chỉ số giá.
3
4. Phơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề nêu trên, luận án đ sử dụng tổng hợp các phơng pháp
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phơng pháp phân tích hệ thống, các phơng pháp
thống kê truyền thống và hiện đại và các phần mềm tin học ứng dụng.
5. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận có liên quan đến phơng
pháp luận tính chỉ tiêu GO;
- Phân tích thực trạng phơng pháp tính chỉ tiêu GO các ngành kinh tế theo giá
so sánh của thống kê Việt Nam;
- Hoàn thiện phơng pháp luận tính chỉ tiêu GO các ngành sản phẩm theo giá so
sánh;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm áp dụng phơng pháp tính chỉ tiêu GO các
ngành sản phẩm theo giá so sánh vào thực tiễn của thống kê Việt Nam.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm ba chơng:
- Chơng 1: Những vấn đề chung về giá trị sản xuất và giá trị sản xuất theo giá
so sánh;
- Chơng 2: Phơng pháp luận tính giá trị sản xuất theo giá so sánh;
- Chơng 3: Hoàn thiện phơng pháp tính giá trị sản xuất các ngành sản phẩm
theo giá so sánh ở Việt Nam.
4
Chơng 1
Những vấn đề chung về giá trị sản xuất
và giá trị sản xuất theo giá so sánh
1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan tới giá trị sản xuất
1.1.1. Khái niệm sản xuất
Khái niệm sản xuất có vai trò quan trọng, quyết định tới phạm vi tính các chỉ
tiêu GO và GDP của nền kinh tế. Việc xác định chính xác, rõ ràng khái niệm sản xuất
luôn đợc các nhà kinh tế vĩ mô quan tâm, là việc làm đầu tiên khi nghiên cứu và đa
ra phơng pháp tính GO và GDP. Với ý nghĩa đó, tác giả tập trung trình bày và luận
giải khái niệm sản xuất để làm cơ sở xác định phạm vi tính GO trong các phần sau của
luận án.
Khái niệm sản xuất theo nghĩa chung nhất phản ánh quá trình con ngời cải tạo
thiên nhiên nhằm mục đích tạo ra điều kiện vật chất cần thiết cho sự sinh tồn của mình.
Nh vậy, sản xuất là hoạt động tự nhiên vĩnh hằng cho cuộc sống của con ngời và
trong thực tế bao giờ cũng tồn tại một phơng thức sản xuất nhất định phù hợp với từng
giai đoạn lịch sử. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất x hội, khái niệm sản xuất
thay đổi theo thời gian và các nhà kinh tế đ đa ra những khái niệm khác nhau về sản
xuất. Vào thế kỷ thứ XVIII, các nhà kinh tế Pháp theo trờng phái Trọng nông mà đại
diện là Quesnay - ngời đầu tiên đa ra khái niệm sản xuất, cho rằng: Sản xuất trớc
hết phải sáng tạo ra sản phẩm và phải mang lại thu nhập ròng. Theo trờng phái này,
chỉ có hoạt động nông nghiệp mới là hoạt động sản xuất vì chỉ có ruộng đất mới có thể
đem lại thu nhập ròng. Khái niệm sản xuất của trờng phái Trọng nông là cha đầy đủ
khi họ quá đề cao vị trí của nông nghiệp trong nền kinh tế, khái niệm này phù hợp với
giai đoạn đầu trong tiến trình phát triển của x hội, đó là thời kỳ công x nguyên thủy,
chiếm hữu nô lệ và thời kỳ đầu của x hội phong kiến.
5
Adam Smith (1723 - 1790) trong tác phẩm: Của cải Quốc gia xuất bản năm
1784 đ phê phán khái niệm sản xuất của trờng phái Trọng nông, ông cho rằng: Công
nghiệp chế biến cũng là ngành sản xuất và hoạt động chế biến thuộc khái niệm sản
xuất, tuy vậy Adam Smith không thừa nhận các hoạt động dịch vụ và khái niệm sản
xuất của Adam Smith đợc dùng trong thống kê và kinh tế vĩ mô của nền kinh tế kế
hoạch tập trung tồn tại suốt thập kỷ 40 cho tới đầu những năm 90 của thế kỷ XX.
Các nhà kinh tế học Macxit cho rằng: Muốn sản xuất thì con ngời phải kết
hợp thành quan hệ sản xuất. Sản xuất gắn bó một cách hữu cơ với phân phối, trao đổi
và tiêu dùng sản phẩm đ sản xuất ra. Sản xuất và tiêu dùng là hai giai đoạn khác nhau
của quá trình sản xuất, nhng gắn với nhau trong đời sống x hội. Sản xuất gắn với tiêu
dùng thông qua hoạt động phân phối sản phẩm. Với quan niệm nh vậy, khái niệm sản
xuất của các nhà kinh tế học Macxit chỉ bao gồm những hoạt động tạo ra của cải vật
chất và hoạt động phân phối lu thông để đa sản phẩm vật chất từ nơi sản xuất đến nơi
tiêu dùng và đợc thể hiện rõ qua phân loại các ngành kinh tế quốc dân với việc phân
định ranh giới giữa lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực không sản xuất vật chất. Các
ngành sản xuất vật chất bao gồm: công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, vận
tải hàng hóa, bu điện phục vụ các ngành sản xuất vật chất, cung ứng vật t kỹ thuật
thu mua nông sản, thơng nghiệp và ăn uống công cộng và các ngành sản xuất vật chất
khác. Lĩnh vực không sản xuất vật chất bao gồm các ngành dịch vụ nh: giáo dục, y tế,
thể thao, tài chính, tín dụng và bảo hiểm, nghiên cứu khoa học, v.v. Theo tác giả, khái
niệm sản xuất của các nhà kinh tế học Macxit có một số hạn chế:
- Đ bỏ qua tồn tại thực tế khách quan của các ngành dịch vụ trong nền kinh tế;
- Cách phân biệt giữa vận tải hàng hóa và vận tải hành khách là không thống
nhất về t duy kinh tế. Vận tải hàng hóa đợc tính trong khái niệm sản xuất vật chất với
lập luận đó là hoạt động vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng để kết
thúc quá trình sản xuất của cải vật chất. Để tiêu dùng hàng hóa vật chất, không nhất
thiết chỉ vận chuyển hàng hóa đến nơi tiêu dùng mới kết thúc quá trình sản xuất, vận
6
chuyển hành khách tới nơi khác để tiêu dùng hàng hóa cũng kết thúc quá trình sản xuất.
Tơng tự nh vậy đối với cách phân biệt giữa hoạt động bu điện phục vụ sản xuất và
bu điện phục vụ đời sống cũng cha hợp lý;
- Đ bỏ qua vai trò của các ngành dịch vụ trong nền kinh tế, hiện nay đóng góp
của các ngành dịch vụ có xu hớng ngày càng tăng trong GDP, các nớc có nền kinh tế
phát triển, các ngành dịch vụ chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổng giá trị sản xuất và
GDP;
- Không đảm bảo tính so sánh quốc tế giữa các quốc gia.
Đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX, cơ quan Thống kê Liên hợp quốc đ xây dựng
Hệ thống tài khoản quốc gia nhằm mô tả, phân tích các hiện tợng kinh tế cơ bản từ sản
xuất, tiêu dùng đến tích lũy của cải của nền kinh tế và đáp ứng cho nhu cầu so sánh
quốc tế. Trong SNA, các nhà kinh tế vĩ mô đ đa ra khái niệm sản xuất đợc dùng làm
cơ sở để áp dụng thống nhất trong thống kê kinh tế của các nớc. Tuy vậy, trong quá
trình áp dụng có những quan điểm và cách hiểu không thống nhất về khái niệm này.
Sản xuất theo nghĩa rộng đợc hiểu là Hoạt động do các đơn vị thể chế trong
nền kinh tế thực hiện qua việc sử dụng các chi phí về lao động, tài sản, hàng hóa và
dịch vụ để tạo ra hàng hóa và dịch vụ mới. Quá trình phát triển tự nhiên, không liên
quan trực tiếp hay gián tiếp với con ngời không phải là hoạt động sản xuất. Nếu chỉ
nhìn vào kết quả cuối cùng của hiện tợng sẽ không xác định đợc kết quả đó do quá
trình sản xuất mang lại hay không, chẳng hạn phát triển của rừng tự nhiên không phải
là sản xuất, trong khi đó trồng và chăm sóc rừng trồng là hoạt động sản xuất.
Đối với quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ, các nhà kinh tế
dễ xác định những hoạt động nào tạo ra sản phẩm vật chất thuộc vào khái niệm sản
xuất, trong khi đó không dễ phân biệt hoạt động sản xuất dịch vụ với các hoạt động
khác có vai trò quan trọng, có ích đối với con ngời nhng lại không thuộc vào khái
niệm sản xuất. Những hoạt động thuộc về cá nhân mà ngời khác không thể làm thay
đợc nh: ăn, uống, ngủ, rèn luyện thân thể, v.v, đều không thuộc khái niệm sản xuất.
7
Để đánh giá đúng, đầy đủ kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất trong nền
kinh tế, đồng thời đảm bảo tính khả thi trong thực tiễn và khả năng so sánh quốc tế,
SNA đ cụ thể hóa khái niệm sản xuất với phạm vi hẹp hơn khái niệm sản xuất theo
nghĩa rộng đ nêu ở trên. Thống kê tài khoản quốc gia của Liên hợp quốc đ đa ra
khái niệm sản xuất nh sau:
Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị
thể chế để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là
vật chất và dịch vụ khác. Tất cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra phải có
khả năng bán trên thị trờng hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một
đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền [22].
Khái niệm sản xuất của SNA khẳng định hai điều: thứ nhất, sản xuất là quá trình
sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế để chuyển những chi phí
là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác đ phủ nhận quan
niệm của một số nhà thống kê cho rằng mọi hoạt động của con ngời mà tạo ra thu
nhập thì đó là sản xuất. Sản xuất tạo ra thu nhập nhng không phải mọi hoạt động tạo
ra thu nhập là sản xuất. Một cá nhân hay một đơn vị gửi tiền vào ngân hàng để hởng
li hay mua cổ phiếu để nhận cổ tức, hành động này tạo ra thu nhập nhng không phải
là hoạt động sản xuất, li tiền gửi ngân hàng và cổ tức là thu nhập do sở hữu tài sản
mang lại. Thứ hai, tất cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị
trờng hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền
hoặc không thu tiền đ loại các hoạt động tự sản xuất dịch vụ cá nhân và hộ gia đình ra
khỏi khái niệm sản xuất. Khái niệm sản xuất không bao gồm hoạt động tạo ra dịch vụ
để tự tiêu dùng trong nội bộ hộ gia đình nh: các thành viên trong hộ gia đình tự nấu
nớng chuẩn bị bữa ăn, dạy con cái học tập, quét dọn sắp xếp nhà cửa, v.v. Phân loại
theo hoạt động của các đơn vị thể chế trong nền kinh tế, khái niệm sản xuất của SNA
bao gồm:
a. Hoạt động của các đơn vị sản xuất tạo ra hàng hóa và dịch vụ với mục đích
cung cấp cho các thực thể khác trong nền kinh tế, bao gồm cả hoạt động tạo ra hàng
8
hóa và dịch vụ dùng làm chi phí trung gian trong quá trình sản xuất và tự sản xuất hàng
hóa đợc giữ lại để tích lũy của đơn vị;
b. Các hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ của Nhà nớc;
c. Hoạt động tự sản tự tiêu sản phẩm vật chất của các hộ gia đình;
d. Hoạt động của tổ chức không vị lợi phục vụ cho tiêu dùng cuối cùng của hộ
gia đình;
e. Hoạt động tự sản xuất dịch vụ nhà ở (nhà tự có tự ở) và dịch vụ giúp việc cá
nhân và hộ gia đình do thuê mớn lao động bên ngoài;
f. Hoạt động bất hợp pháp nhng tạo ra hàng hóa và dịch vụ hợp pháp và hoạt
động hợp pháp nhng tạo ra hàng hóa và dịch vụ bất hợp pháp.
Với nội hàm và liệt kê cụ thể các hoạt động thuộc và không thuộc khái niệm sản
xuất của SNA, tác giả nhận thấy đối với khu vực hộ gia đình cùng là hoạt động tự sản tự
tiêu nhng các hoạt động tạo ra sản phẩm vật chất thuộc khái niệm sản xuất, ngợc lại
các hoạt động tạo ra dịch vụ lại bị loại trừ. Sau đây tác giả trình bày các lý do thống kê
Liên hợp quốc đa ra những quy định này.
i. Đối với hoạt động tự sản xuất dịch vụ cá nhân và hộ gia đình. Nhóm dịch vụ
này bao gồm các hoạt động do thành viên của hộ gia đình thực hiện cho tiêu dùng cuối
cùng của hộ và bao gồm những hoạt động sau: dọn vệ sinh, trang trí, duy tu và sửa chữa
nhỏ do chủ sở hữu nhà và ngời thuê nhà thực hiện; lau chùi, sửa chữa đồ dùng lâu bền
và các dụng cụ khác, gồm cả ô tô dùng cho mục đích tiêu dùng; chuẩn bị và nấu các
bữa ăn; trông nom, phục vụ trẻ em, ngời ốm, già cả và ngời cô đơn; đa đón các
thành viên trong gia đình. SNA quy định các hoạt động tự sản xuất dịch vụ cá nhân và
hộ gia đình không thuộc khái niệm sản xuất vì những lý do sau:
- Mặc dù số ngời và thời gian sử dụng để làm các công việc dịch vụ gia đình
chiếm tỷ trọng khá lớn và tiêu dùng những dịch vụ này có giá trị kinh tế cao, nhng
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét