Là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa các TCTD với các doanh nghiệp
và cá nhân.
Trong mối quan hệ này, tín dụng đóng vai trò trung gian cho nên ngân hàng
vừa là ngời đi vay vừa là ngời cho vay.
Tín dụng ngân hàng đợc thực hiện dới hình thức tiền tệ, gồm tiền mặt và bút
tệ, trong đó bút tệ là chủ yếu.
Tín dụng ngân hàng và tín dụng thơng mại có quan hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ
trợ cho nhau.
2.3.3.Tín dụng nhà nớc.
Là hình thức tín dụng thể hiên mối quan hệ giữa nhà nớc và nhân dân và các tổ
chức khác, theo đó nhà nớc chủ động vay tiền để tăng nguồn thu ngân sách.
-Tín dụng nhà nớc thực hiện bằng cách phát hành công trái.
-Tín dụng nhà nớc nhàm bù đắp thiếu hụt ngân sách.
2.3.4.Tín dụng quốc tế.
Là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa nớc ta với các quốc gia hay các tổ
chức tiền tệ tín dụng quốc tế.
Chơng2: nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thơng mại
1. Tín dụng ngắn hạn.
1.1. Khái niệm.
Tín dụng ngắn hạn là những khoản cho vay có thời hạn nhỏ hơn một năm.
NHTM là nhà cung ứng phần lớn các khoản vay ngắn hạn cho các doanh nghiệp.
Các khoản vay này ít rủi ro về khả năng thanh toán cũng nh về lãi suất so với vay
trung và dài hạn. Những khoản cho vay ngắn hạn thờng đợc sử dụng rộng rãi trong
việc tài trợ mang tính thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các khoản
chi phí sản xuất.
1.2. Phân loại tín dụng ngắn hạn.
Nếu xét theo cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, thì đây là tín dụng tài trợ vốn
lu động. Nếu nh vốn lu động thờng xuyên của doanh nghiệp không đủ trang trải về
loại vốn này, thì doanh nghiệp đó phải xin vay tín dụng ngân hàng. Nhu cầu về vốn lu
động cao hay thấp tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh và khả năng quản lý
vốn lu động của doanh nghiệp. Nhng dù nhu cầu cao hay thấp, doanh nghiệp luôn sử
dụng tín dụng vốn lu động với t cách là các khoản vay ít hay nhiều thờng xuyên theo
cơ cấu tài chính của doanh nghiệp.
Dới góc độ kỹ thuật tín dụng, Ngân hàng thơng mại thực hiện cho vay ngắn
hạn theo các loại hình phổ biến sau đây:
1.2.1. Tín dụng ứng trớc.
Các tín dụng ứng trớc đợc gọi bằng các từ ngữ khác nhau. Các tên gọi của
chúng thờng thể hiện những thực tế rất gần gũi nh: Mở tín dụng khoản, thấu chi, tín
dụng vãng lai(hay còn gọi là cho vay luân chuyển) Nhìn chung, các khoản tín dụng
ứng trớc chủ yếu theo nhu cầu toàn bộ tài sản lu động, nghĩa là không thực hiện một
tài sản xác định nào. Nói chung không có một đảm bảo riêng.
Tín dụng ứng trớc bao gồm các loại sau đây:
1.2.1.1. Tín dụng thế chấp hoặc nghiệp vụ mở tín dụng khoản.
Loại tín dụng này là một thể thức cho vay đợc thực hiện trên cơ sở hợp đồng
tín dụng trong đó khách hàng đợc sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn
nhất định.
Trong hình thức này, ngân hàng cho khách hàng vay bằng cách mở cho họ một
tín dụng khoản. Khi mở tài khoản nh vậy khách hàng không phải bỏ tiền vào đấy,
mà trái lại có thể lấy tiền ra, tiền đó là tiền ứng trớc của ngân hàng vì vậy nghiệp vụ
này còn gọi là nghiệp vụ ứng trớc. Khách hàng có thể sử dụng tài khoản này để phát
hành séc chi trả hoặc có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác.
Khi thực hiện một khoản tín dụng ứng trớc tuỳ vào sự nhìn nhân của ngân
hàng đối với khách hàng mà có thể ngân hang đa ra một trong hai hình thức sau:
Tín dụng ứng trớc không bảo đảm:là việc cấp tín dụng không cần tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh, mà dựa trên cơ sở uy tín của khách hàng.
Trớc khi cho vay ngân hàng phải xem xét, đánh giá, phân tích. Đánh giá
khách hàng dựa vào hang loạt chỉ tiêu nh mức vốn, lợi nhuận hàng năm, uy tín của
sản phẩm trên thị trờng, khả năng tiêu thụ sản phẩm, trình độ quản lý.
Tín dụng ứng trớc có bảo đảm: là loại tín dụng đợc cấp phát trên cơ sở có tài
sản thế chấp(do đó có tên gọi là tín dụng thế chấp), cầm cố hay bảo lãnh của một
hay nhiều ngời khác.
1.2.1.2 . Thấu chi.
Thấu chi là hình thức cấp tín dụng ứng trớc đặc biệt trên cơ sở hợp đồng tín
dụng hay còn gọi là tín dụng hạn mức, đợc thực hiện bằng cách cho phép khách
hàng đợc sử dụng kết số thiếu(d nợ) trong một giới hạn nhất định. Thấu chi là kỹ
thuật cho vay đặc biềt mà trong đó xí nghiệp đợc sử dụng vốn một cách linh hoạt,
các đảm bảo nếu có chỉ là yếu tố phụ, vì số nợ thờng xuyên biến động không thể
thực hiện các đảm bảo trực tiếp. Thấu chi đợc xem là loại tín dụng không bảo
chứng.
Thấu chi là một khoản tín dụng tổng hợp mà doanh nghiệp vay khi nhu cầu
về vốn lu động của nó vợt khả năng của vốn lu động. Khi cấp tín dụng thấu chi
ngân hàng không đòi hỏi việc nghiên cứu một nguyên nhân rất chính xác về sự
phát sinh và tìm sự hợp lý của nó trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp.
1.2.1.3. Tín dụng vãng lai.
Tín dụng vãng lai cha đợc giới thiệu đầy đủ trên sách báo Việt Nam. Có rất
nhiều ý kiến khác nhau và đang còn có nhiều sự nhầm lẫn. Do vậy việc quy tụ
những thông tin, những tri thức về nội dung chủ yếu của tín dụng vãng lai, để hiểu
thêm những u điểm của nó trong nền kinh tế thị trờng. Từ đó rút ra những thích
ứng với điều kiện Việt Nam đang trong quá trình đổi mới và phát triển đa dạng các
loại tín dụng của NHTM.
Tín dụng vãng lai đợc xem là hình thức tín dụng cổ điển nhất. Tín dụng vãng
lai là tín dụng ngân hàng do cơ quan tín dụng cấp cho khách hàng của mình : bằng
bản tệ hoặc ngoại tệ và theo nhu cầu khách hàng có thể đợc sử dụng với số lợng
khác nhau nhng không vợt quá số tiền quy định trong hợp đồng. Việc tính số d các
khoản nộp vào và rút ra khỏi tài khoản của khách hàng đợc tiến hành sau những
khoảng thời gian quy định trong hợp đồng, đồng thời với việc thanh toán các
khoản chi trả tín dụng trên tài khoản thống nhất của khách hàng .
1.2.1.4. Tín dụng thời vụ.
Hoạt động thời vụ là hoạt động sản xuất đợc thực hiện ở một thời điểm nào
đó trong năm trong khi việc tiêu thụ lại đợc thực hiện tại một thời điểm khác hoặc
ngợc lại việc sản xuất đợc rải đêù trong cả năm để tránh chi phí đột biến và dàn
đều tổng chi phí trong khi việc tiêu thụ lại đợc tiến hành trong một thời gian rất
ngắn. Trong các trờng hợp này doanh doanh nghiệp có nhu cầu thời vụ về tài trợ
vốn lu động và nó đợc thoả mản bằng tín dụng thời vụ.
Doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phục vụ mình giúp đỡ tài chính ở các thời
vụ. Dựa vào điều tra nghiên cứu của mình, ngân hàng sẽ có kế hoạch tài trợ thời vụ
cụ thể của tong tháng, các nhu cầu và nguồn vốn dự kiến. Nói cách khác, khi có
nhu cầu vợt quá nguồn vốn trong một thời kỳ nào đó ngời ta đa ra nhu cầu đặc biệt
về thời vụ mà nếu nh mọi việc diễn ra tốt đẹp, sẽ đợc san bằng ở thời kỳ bán
hàng. Vốn lu động phải bù đắp một phần nhu cầu này. Một doanh nghiệp có khả
năng suốt năm đơng đầu với thời kỳ mùa vụ mà không cần tới tín dụng bên ngoài,
thì chắc chắn là một doanh nghiệp quản lý cha tốt nguồn vốn, bởi vì nó chứng tỏ
việc không tận dụng số t bản thờng có trong một thời kỳ của năm và mức sinh lợi
của vốn này do đó cũng phải gánh chịu những hậu quả.
1.2.2. Cho vay dựa trên việc chuyển nhợng trái quyền.
. Chiết khấu thơng phiếu.
Thơng phiếu hay kỳ phiếu thơng mại là một giấy nợ phát sinh trong quan hệ
thơng mại và ngời hởng thụ một trái quyền đối với ngời thụ trái khi giấy nợ đến
hạn. Thơng phiếu là công cụ của tín dụng thơng mại.
Từ thời Trung cổ các thơng phiếu đã trở thành phơng tiện quan trong trong
kinh doanh ngân hàng. Ngày nay, có rất nhiều nghiệp vụ ngân hàng đợc thực hiện
thông qua việc chiết khấu thơng phiếu:
-Ngân hàng tham gia vào việc thanh toán các phiếu khoán khi các thơng
phiếu đó đợc chiết khấu tại ngân hàng của họ.
-Ngân hàng cũng thực hiện việc thu ngân các phiếu khoán giúp khách hàng.
Ngoài thanh toán và thực hiên thu ngân hộ khách hàng, ngân hàng có thể giữ
các phiếu khoán làm vật bảo đảm. Nhng thông thờng thì ngân hàng chiết khấu th-
ơng các phiếu.
-Chiết khấu thơng phiếu là nghiệp vụ cổ điển của ngân hàng, ra đời rất sớm
và mãi đến ngày nay vẫn đợc các ngân hàng áp dụng một cách phổ biến. Đây là
một nghiệp vụ ít rủi ro và không làm đóng băng vốn của ngân hàng. Thời hạn cho
vay ngắn tối đa là 90 ngày, điều này nâng cao tính thanh khoản trong quản lý tài
sản có của ngân hàng. Mặt khác hai hình thức cơ bản của thơng phiếu là hối phiếu
và lệnh phiếu đợc lập trên cơ sở hàng hoá đã đợc chuyển giao cho ngời mua. Đây
chính là tiền đề để ngời mua thực hiện kinh doanh của mình, để có khả năng hoàn
trả cho ngân hàng. Lại nữa nghiệp vụ chiết khấu lại ở NHTW khi ngân hàng ngặp
khó khăn về thanh khoản. Mặc dù chiết khấu thơng phiếu mang lại nhiều lợi ích
cho khách hàng. Tuy nhiên vẫn có rủi ro xảy ra. Vì vậy trớc khi chiết khấu thơng
phiếu, ngân hàng phải xem xét kỷ khách hàng đến chiết khấu, xem xét kỷ các hối
phiếu và mối quan hệ của những ngời có liên quan đến hối phiếu.
Nh vậy: Chiết khấu thơng phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, đợc
thực hiện dới hình thức khách hàng chuyển giao quyền sở hữu thơng phiếu để đổi
lấy một số tiền bằng mệnh giá trái phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.
Ngoài ra tín dụng dựa trên việc chuyển nhợng trái quyền còn gồm các loại:
Nghiệp vụ huy động các trái quyền thơng mại, bao thanh toán hay mua uỷ nhiệm
thu
1.2.3. Tín dụng bằng chữ ký của ngân hàng.
Loại tín dụng này thực chất là một cam kết lãnh nợ do ngân hàng đa ra bằng
việc phát hành các chứng th bảo lãnh hoặc bảo chứng, cam kết trả thay cho ngời đi
vay nếu ngời đi vay không trả đợc nợ. Có trờng hợp đó là sự xác nhận khoản tín
dụng đã cấp cho một thời hạn nhất định. Khi thực hiện cho vay qua cam kết bằng
chữ ký, ngân hàng không phải xuất quỹ đễ cho khách hàng sử dụng một khoản
tiền nhất định, mà chỉ đa ra một cam kết bảo lãnh cho con nợ đối với chủ nợ. Nh
vậy, chỉ khi nào con nợ không trả đợc nợ thì ngân hàng mới trả nợ hộ. Thông th-
ờng để thực hiện nghiệp vụ này thì ngân hàng phải lập một quỹ bảo lãnh theo một
tỷ lệ so với vốn pháp định. Hiện nay ở Việt Nam số tiền bảo lãnh tín theo tỷ lệ
phần trăm trên tổng giá trị bảo lãnh.
1.3. Vai trò của tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi
chúng ta. Tín dụng đã góp phần làm ổn định và phát triển sản xuất của nền kinh tế,
các tổ chức và mỗi cá nhân. Cũng nh các loại tín dụng khác, tín dụng ngắn hạn có
vai trò cực kỳ quan trọng. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam là một nớc trong giai
đoạn đang phát triển thì tín dụng ngắn hạn càng có vai trò quan trọng. Nó thể hiện:
1.3.1. Đối với nền kinh tến
Ngân hàng trong nền kinh tế với t cách là một doanh nghiệp kinh doanh trên
lĩnh vực tiền tệ. Với t cách là một trung gian tài chính, nó là kênh chuyển vốn từ
những nơi thừa vốn đến những nơi thiếu vốn và hoạt động hiệu quả trong nền kinh
tế. Các kênh truyền dẫn vốn có thể qua thị trờng tài chính đó là các nghiệp vụ tín
dụng trung và dài hạn, nhng nó đã bị cạnh tranh mạnh mãnh mẽ của các tổ chức
tài chính phi ngân hàng tham gia vào thị trờng này nh: Công ty Bảo hiểm, các quỹ
đầu t, công ty tài chính Hoặc là thị trờng tiền tệ là kênh dẫn và huy động những
ngồn vốn và các giấy tờ có giá ngắn hạn. Thị trờng này hoạt động rất linh hoạt và
cung cấp một nguồn một nguồn vốn rất lớn cho nền kinh tế. Do đó tín dụng ngắn
hạn ngày càng phát triển mạnh mẽ.
1.3.2. Đối với các doanh nghiệp.
Tín dụng ngân hàng là nguồn bổ sung vốn lu động để bảo đảm hoạt động
kinh doanh đợc liên tục
Không có sự ăn khớp về mặt thời gian giữa các khoản thu và các khoản chi
của một doanh nghiệp nên tại một thời điểm nhất định, trong nền kinh tế có những
thời điểm trong nền kinh tế có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời và cần bổ
sung ngay để đảm bảo tính sản xuất đợc liên tục. Đối với các doanh nghiệp sản
xuất mang tính thời vụ nh các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, các công
ty chế biến nông sản, các doanh nghiệp xây lắp hoặc các doanh nghiệp có vòng
quay vốn lu động chậm thì các khoản tín dụng từ ngân hàng có vai trò quan trọng
trong việc giúp cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn. Các khoản tín dụng
ngắn hạn có ý nghĩa lớn đối với các doanh nghiệp khi xuất hiện cơ hội kinh doanh
trên thị trờng, giúp doanh nghiệp tận dụng đợc thời cơ phát triển sản xuất.
Tín dụng ngắn hạn tạo áp lực buộc các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
Một trong những nguyên tắc cơ bản là vay có hoàn trả ngốc lẫn lãi sau một
thời gian nhất định. Do vậy có thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng và tạo lập đợc
uy tín trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng, các doanh nghiệp phải hoạt động có
hiệu quả để trả nợ cho ngân hàng.
Nh vậy, tín dụng ngân hàng cũng là một yếu tố kích thích sản xuất của doanh
nghiệp, thúc đẩy đổi mới công nghệ và cải tiến mẫu mã sản phẩm để có thể rút
ngắn chu kỳ sản xuất, đa nhanh sản phẩm vào lu thông, tạo lập chỗ đứng trên thị
trờng.
Đối với các doanh nghiệp lớn, công việc sản xuất đang phát triển thì phần lớn
vốn lu động đều vay ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp còn ký hợp đồng ứng trớc để
có thể linh hoạt trong việc vay vốn, đáp ứng các cơ hội kinh doanh. Do tính chất
của tín dụng ứng trớc là doanh nghiệp phải trả lãi kể cả trên phần d nợ vay cha sử
dụng đến. Do đó bắt buộc các doanh nghiệp phải quay vốn nhanh và tính toán hoạt
động kinh doanh có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cho cả doanh nghiệp và cả cho
ngân hàng.
Nói tóm lại, tín dụng ngắn hạn không chỉ giúp các doanh nghiệp có đợc
nguồn bổ sung nguồn vốn lu động mà còn là động lực giúp các doanh nghiệp làm
ăn có hiệu quả, trớc là để trả các khoản nợ vay và sau là để phát triển doanh
nghiệp.
1.3.3. Đối với ngân hàng.
Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng đã đảm bảo nguồn
thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đó là công cụ để tạo nên lợi
nhuận và phòng chống rủi ro của ngân hàng. Trong quá trình hoạt động của các ngân
hàng, các nhà quản trị ngân hàng phải quan tâm đến các vấn đề : Phải tạo đợc nguồn
thu bù đắp đợc các chi phí( chi phí huy động vốn, chi phí trả lơng, chi phí quản lý
Mặt khác phải đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng. Tín dụng ngắn hạn có
thể giúp các nhà quản trị giải quyết vấn đề này.
1.4. Các quy định trong hoạt động tín dụng ngắn hạn.
1.4.1. Nguyên tắc tín dụng:
Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
-Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
-Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
-Việc đảm bảo tiền vay phải thực hiện đúng quy định của chính phủ và ngân
hàng nhà nớc.
1.4.2. Điều kiện vay vốn.
Ngân hàng sẽ xem xét và quyết định cho khách hàng vay khi khách hàng có
đủ các điều kiện:
*Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu quy định của
pháp luật.
*Có khả năng đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Cụ thể :
-Đối với pháp nhân phải có vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh. Đối với hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp t nhân, cá nhân, công ty
hợp danh, mức vốn tự có tham gia trực tiếp vào phơng án sản xuất kinh doanh,
dịch vụ, đời sống tối thiểu bằng 20% nhu cầu vốn thực hiện phơng án.
-Sản xuất kinh doanh có lãi hoặc không bị lỗ, nếu bị lỗ thì phải có dự án khả
thi khắc phục hoặc cơ quan có thẩm quyền xác nhận bù lỗ.
-Có tình hình tài chính lành mạnh.
-Khách hàng phải mua bảo hiểm tài sản là đối tợng vay vốn.
*Mục đích sử dụng vốn hợp pháp.
*Có dự án đầu t, phơng án sản xuất kinh doanh khả thi.
*Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay của NHNN.
1.4.3. Đối tợng cho vay.
*Giá trị vầt t hàng hoá trong các khâu dự trữ, lu thông và các chi phí cấu
thành giá mua hoặc giá thành sản phẩm, các khoản chi phí khác để doanh nghiệp
tiến hành phơng án sản xuất kinh doanh.
*Số tiền thuế xuất nhập khẩu khách hàng phải nộp để làm thủ tục xuất khẩu
mà giá trị lô hàng xuất khẩu đó tổ chức tín dụng có tham gia cho vay. Ngân hàng
không cho vay ngắn hạn để nộp khấu khao, nộp thuế và phần lãi định mức(đối với
các xí nghiệp xây lắp). Những vầt t hàng hoá là những đối tợng vay vốn có khả
năng luân chuyển. Ngân hàng không cho vay vốn để mua vật t, hàng hoá ứ đọng
hoặc để thực hiện những khối lợng thi công ngoài kế hoạch vốn đầu t của Nhà Nớc
đã ghi, ngoài thiết kế dự án hoặc nguồn vốn cha rõ nguồn vốn đầu t.
2.4.4. Thời hạn cho vay.
Thời hạn cho vay đợc xác định phù hợp với các chu kỳ sản xuất kinh doanh
và khả năng trả nợ của khách hàng, nhng tối đa không quá 12 tháng.
1.4.5. Lãi suất cho vay.
Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù hợp
với quy định của NHNN về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín
dụng. Tổ chức tín dụng có trách nhiệm công bố công khai các mức lãi suất cho
vay cho khách hàng biết. Tuỳ các mức độ quan hệ của ngân hàng và khách hàng
mà có các mức độ u tiên về lãi suất khác nhau. Nếu khoản vay quá hạn trả nợ thì
phải áp dụng lãi suất quá hạn.
Phơng pháp xác định lãi suất cho vay đợc xác định trớc khi cho vay dựa trên
cơ sở lãi suất cơ bản.
Tại Việt Nam lãi suất cho vay ngắn hạn do tổng giám đốc tổ chức tín dụng ấn
định trong phạm vi khung lãi suất do NHNN ấn định trong từng thời kỳ.
1.4.6. Mức cho vay:
Tổ chức tín dụng căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay
tối đa so với giá trị tài sản làm bảo đảm tiền vay, khả năng trả nợ của khách hàng
và khả năng nguồn vốn của mình để quyết định mức cho vay nhng không đợc vợt
quá mức quy định tại điều 79 của Luật các tổ chức tín dụng.
Ngân hàng xây dựng mức cho vay đối với tong doanh nghiệp trên cơ sở vốn
vay chỉ bổ sung cho vốn lu động thiếu, sau khi doanh nghiệp đã tận dụng hết vốn
tự có. Các nguồn vốn khác bao gồm cả vốn đợc các chủ đầu t ứng trớc khi doanh
nghiệp trúng thầu.
Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có nguồn thu ổn định, tình
hình tài chính lành mạnh, có quan hệ vay vốn thờng xuyên và có tín nhiệm đối với
khách hàng, ngân hàng có thể cho vay theo hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng
là giới hạn d nợ tối đa mà ngân hàng cam kết cho khách hàng vay trong một thời
hạn nhất định và đợc xác định nh sau:
M
ức vốn
vay quý
= Chi phí cần
thiết cho quá trình
hoạt động kinh
doanh quý kế
hoạch.
-
V
ốn tự
có và
coi nh
tự có
- Cá
c khoản
H
uy
động
khác.
- V
ốn ứng
trớc của
chủ đầu
t
Vòng quay
VLĐ quý
1. Chi phí cần thiết để sản xuất kinh doanh quý, kỳ hoặc thời vụ kế hoạch là
giá trị sản lợng thực hiện trong quý, kỳ hoặc thời vụ chuẩn bị làm loại trừ đi các
khoản khấu hao, thuế, lãi định mức và các khoản không thuộc đối tợng cho vay
khác.
2. Là vốn lu động tự có của khách hàng.
Ngoài ra hạn mức tín dụng dựa trên cơ sở:
-mức d nợ cao nhất
-mức cho vay tối đa theo quy định của pháp luật
-mức cho vay tối đa theo quyết định của chính sách tín dụng mỗi ngân hàng
thơng mại.
-Đảm bảo tiền vay.
Đối với những doanh nghiệp có nguồn thu không thay đổi, các doanh nghiệp
doanh nghiệp có quan hệ không thờng xuyên với ngân hàng, các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh, hộ gia đình .ngân hàng thờng áp dụng cho vay từng món trên cơ sở
thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng, ngân hàng xác định đợc nhu cầu vay vốn
của doanh nghiệp và quyết định mức cho vay, thời hạn, phơng thức trả nợ đối với
từng doanh nghiệp cụ thể. Mức cho vay đợc xác định:
Mức
vốn vay
=
Tổng
nhu cầu vốn
vay
-
Vốn
tự huy
động
-
Vốn tự có
và coi nh tự có.
1.4.7. Giải ngân và thu nợ.
Tuỳ theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong từng thời điểm và những điều
kiện cụ thể khác mà ngân hàng thực hiện giải ngân theo đúng kế hoạch thoả thuận.
Khi đến hạn ngân hàng tiến hành thu nợ đối với các khoản cho vay. Doanh
nghiệp có trách nhiệm trả nợ theo phơng thức thoả thuận và đúng hạn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét