Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG, CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG TẠI DOANH NGHIỆP
Sinh viên
Lương Thị Kim Oanh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Để có thể sản xuất được, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải đảm
bảo các nguồn lực về tài chính, máy móc thiết bị và đặc biệt không thể thiếu
được nguồn lực con người. Con người được coi là vốn quý nhất, là động lực phát
triển của mọi tổ chức, nó có ý nghĩa quyết định đến việc sử dụng các nguồn lực
khác. Vì vậy, quản lý nguồn nhân lực giúp cho tổ chức có thể tồn tại và phát
triển được.
Trả lương lao động là một hoạt động quản lý nhân sự có ý nghĩa rất lớn
trọng việc giúp cho tổ chức đạt được hiệu suất cao cũng như tác động một cách
tích cực tới đạo đực lao động của mọi người lao động. Tuy nhiên, tác dụng của
trả lương còn tuỳ thuộc vào khả năng chi trả và ý muốn tra lương của công ty
cho người lao động trong tương quan với sụ đóng góp của họ. Một cơ cấu tiền
lương hợp lý sẽ là cơ sở để xác định tiền lương công bằng nhất cho từng người
lao động cũng như thuyết phục họ về lượng tiền lương đó.
Trong những năm đổi mới tiến hành cổ phần hoá, Công ty cổ phần cơ khí
may Gia Lâm đã có những chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả trên
nhiều mặt của sản xuất kinh doanh như: đổi mới công nghệ, đổi mới mặt hàng,
5
chất lượng sản phẩm từng bước được nâng lên, những nhân tố tác động đến kết
quả trên có vấn đề tiền lương và chính sách tiền lương. Nó đã tạo ra động lực bên
trong của công ty. Tuy nhiên, công ty mới cổ phần hoá được vài năm nên cũng
đang còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu và xem xét, phân tích đánh giá, đưa ra
những giải pháp để có được một chính sách tiền lương hợp lý nhằm giúp cho các
hoạt động quản lý nguồn nhân lực công ty đạt hiệu quả hơn.
Vì vậy, trong quá trình thực tập tại Công ty tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện
chính sách tiền lương tại Công ty Cổ phần Cơ khí may Gia Lâm.”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống lý luận cơ bản về tiền lương và phân tích thực trạng
chính sách tiền lương của Công ty cổ phần cơ khí may Gia Lâm đề xuất những
giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền lương và nâng cao
hiệu quả hoạt động của công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là hệ thống văn bản chính sách tiền
lương của Công ty cổ phần cơ khí may Gia Lâm.
Do những điều kiện khách quan và chủ quan nên phạm vi nghiên cứu của
Luận văn vẫn tập trung trong nội bộ Công ty cổ phần cơ khí may Gia Lâm.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng theo phương pháp nghiên
cứu truyền thống như quy nạp, diễn giải… cùng các phương pháp phân tích, so
sánh, tổng hợp, thống kê làm rõ bản chất của vấn đề.
Số liệu sử dụng trong chuyên đề được lấy từ các báo cáo và tài liệu chính
thức cũng như hệ thống các văn bản của Công ty cổ phần cơ khí may Gia Lâm.
5. Kết cấu
6
Chương 1: Lý luận cơ bản về tiền lương và chính sách tiền lương tại doanh
nghiệp.
Chương 2: Thực trạng chính sách tiền lương tại Công ty cổ phần cơ khí may
Gia Lâm.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền lương tại
Công ty cổ phần cơ khí may Gia Lâm.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG
CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG TẠI DOANH NGHIỆP
1.1. Tiền lương
1.1.1. Khái niệm tiền lương
Tuỳ theo cách tiếp cận, phương thức vận hành nền kinh tế và trình độ phát
triển của nền kinh tế mà người ta có những quan niệm khác nhau về tiền lương
(tiền công). Trong quá trình đổi mới kinh tế, chuyển sang nền kinh tế thị trường,
khi sức lao động được thừa nhận là hàng hoá, quan niệm về tiền lương đã có
những sự thay đổi căn bản.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng tiền lương (salary) là số tiền mà
người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một số lượng nhất định
không căn cứ vào số giờ làm việc thực tế, thường được trả theo tháng hoặc nửa
tháng. Còn tiền công (wage) là khoản tiền trả công lao động theo hợp đồng lao
động (chưa trừ thuế thu nhập và các khoản khấu trừ theo quy định), được tính
dựa trên số lượng sản phẩm làm ra hoặc số giờ làm việc thực tế.
Ở Pháp, sự trả công lao động bao gồm tiền lương hay lương bổng và mọi
nguồn lợi ích trực tiếp cũng như gián tiếp mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động theo việc làm của người lao động.
7
Ngày nay, người ta đã đi đến thống nhất về khái niệm tiền lương, dù cách
diễn đạt về khái niệm này có thể có những điểm khác nhau.
Tiền lương là giá cả của sức lao động, được hình thành trên cơ sở thoả thuận
giữa người lao động với người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động,
phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp
với các quy định tiền lương của pháp luật lao động. Tiền lương được người sử
dụng lao động trả cho người lao động một cách thường xuyên, ổn định trong
khoảng thời gian hợp đồng lao động (tuần, tháng, năm…)
Tại Điều 55, Chương VI “Tiền lương” Bộ Luật lao động của nước Cộng
Hoà XHCN Việt Nam được sửa đổi bổ sung năm 2007 ghi rõ: “Tiền lương của
người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo
năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao
động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước qui định”
Phân biệt tiền lương và tiền công
Nhiều nhà kinh tế cho rằng, tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác
của tiền lương, vì tiền lương và tiền công đều là số tiền (hoặc hiện vật) trả công
lao động cho người lao động, là biểu hiện của giá cả hàng hoá sức lao động. Tuy
nhiên, hai khái niệm này có sự khác nhau:
- Tiền lương là lượng tiền mà người sử dụng lao động trả công cho
người lao động mang tính chất thường xuyên và thường gắn với hình thức biên
chế, định biên trong một doanh nghiệp, tổ chức…
- Tiền công là lượng tiền mà người sử dụng lao động trả công cho người
lao động để thực hiện một hoặc một số công việc cụ thể, hoặc làm việc với số
8
thời gian nào đó, được xác lập thông qua thuê khoán lao động, hoặc qua hợp
đồng dân sự.
Trong nền kinh tế mà quan hệ công nghiệp ngày càng phát triển thì lao động
hưởng tiền lương ngày càng mở rộng, vì vậy trong nội dung đề tài này đề cập
chủ yếu là vấn đề tiền lương, nhưng trong từng bộ phận nghiên cứu tiền lương
bao gồm cả vấn đề tiền công.
1.1.2. Vai trò của tiền lương
• Đối với người lao động
Tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động, giúp cho
họ và gia đình trang trải các chi tiêu, sinh hoạt và dịch vụ cần thiết. Do vậy, các
mức tiền lương là đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hướng sự quan tâm và
định hướng của người lao động. Khi độ lớn của tiền lương phụ thuộc vào hiệu
quả sản xuất của công ty nói chung và cá nhân người lao động nói riêng thì họ sẽ
quan tâm đến việc không ngừng nâng cao năng suất lao động và chất lượng công
việc.
Mặt khác, tiền lương kiếm được ảnh hưởng đến địa vị của người lao động
trong gia đình, địa vị của họ trong tương quan với các bạn đồng nghiệp cũng như
giá trị tương đối của họ với tổ chức và đối với xã hội.
Tiền lương là một trong những hình thức kích thích lợi ích vật chất đối với
người lao động. Vì vậy khả năng kiếm được tiền lương cao hơn sẽ tạo ra động
lực thúc đẩy người lao động ra sức học tập để nâng cao giá trị của họ đối với tổ
chức thông qua sự nâng cao trình độ và sự đóng góp cho tổ chức. Hiệu quả công
việc càng cao thì tiền lương về mặt nguyên tắc càng cao và ngược lại.
• Đối với tổ chức
9
Tiền lương là một phần quan trọng của chi phí sản xuất. Tăng tiền lương sẽ
ảnh hưởng tới chi phí, giá cả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm của công ty
trên thị trường.
Tiền lương là một đòn bẩy nhằm đảm bảo sản xuất phát triển, duy trì, giữ
gìn và thu hút một đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ cao với ý
thức kỷ luật vững.
Cùng với việc kích thích không ngừng nâng cao năng suất lao động, tổ chức
tiền lương trong doanh nghiệp được công bằng và hợp lý sẽ tạo ra hoà khí cởi
mở giữa những người lao động, hình thành khối đoàn kết thống nhất, trên dưới
một lòng, một ý chí vì sự nghiệp phát triển doanh nghiệp và vì lợi ích của bản
thân họ. Chính vì vậy mà người lao động làm việc bằng cả nhiệt tình hăng say và
họ có quyền tự hào về mức lương họ đạt được.
• Đối với xã hội
Tiền lương có thể ảnh hưởng quan trọng tới các nhóm xã hội và các tổ chức
khác nhau trong xã hội. Tiền lương cao hớn giúp cho người lao động có sức mua
cao hơn và điều đó làm tăng sự thịnh vượng của cộng đồng nhưng mặt khác có
thể dẫn tới tăng giá cả và làm giảm mức sống của những người có thu nhập
không đuổi kịp mức tăng của giá cả. Giá cả tăng cao lại có thể làm giảm cầu về
sản phẩm và dịch vụ dẫn tới giảm công việc làm.
Tiền lương đóng góp một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân thông qua
con đường thuế thu nhập và góp phần làm tăng nguồn thu của chính phủ cũng
như giúp cho chính phủ điều tiết được thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã
hội.
1.1.3. Những yếu tố tác động lên tiền lương của người lao động
10
Yếu tố thuộc về
công việc
• Yếu tố thuộc môi trường bên ngoài gồm
- Thị trường lao động: Tình hình cung và cầu lao động, thất nghiệp trên
thị trường lao động là yếu tố bên ngoài quan trọng nhất ảnh hưởng đến số lượng
tiền lương mà người chủ sử dụng sức lao động sẽ đưa ra để thu hút và giữ gìn
người lao động có trình độ. Sự thay đổi cơ cấu đội ngũ lao động, các định chế về
giáo dục và đào tạo cũng ảnh hưởng đến mức tiền lương của doanh nghiệp.
- Sự khác biệt về tiền lương theo vùng địa lý mà tổ chức/doanh nghiệp
đang cư trú.
- Các mong đợi của xã hội, văn hoá, phong tục tập quán: Các mong đợi
của xã hội, văn hoá, phong tục, tập quán tại nơi doanh nghiệp đang kinh doanh
cũng cần được lưu tâm xem xét khi xác định mức tiền lương vì tiền lương phải
phù hợp với chi phí sinh hoạt của vùng địa lý.
- Các tổ chức công đoàn: Công đoàn là một tổ chức có thế lực mạnh mà
các cấp quản trị phải thảo luận với họ về các tiêu chuẩn được sử dụng để xếp
lương; các mức chênh lệch về tiền lương; các hình thức trả lương…Nếu doanh
nghiệp được công đoàn ủng hộ thì các kế hoạch đề ra rất dễ giành được thắng
lợi.
11
Yếu tố thuộc về môi
trường bên ngoài
Yếu tổ thuộc về cá
nhân người lao động
Yếu tố thuộc về
tổ chức
Ấn định mức
lương
- Luật pháp và các quy định của chính phủ: Các điều khoản về tiền lương
được quy định trong Bộ luật Lao động đòi hỏi các tổ chức phải tuân thủ khi xác
định và đưa ra các mức tiền lương.
- Tình trạng của nền kinh tế: Tình trạng của nền kinh tế đang suy thoái
hay đang tăng trưởng nhanh sẽ tạo cho doanh nghiệp có khuynh hướng hạ thấp
hoặc tăng lương cho người lao động. Bởi vì, trong điều kiện nền kinh tế suy
thoái nguồn cung về lao động tăng lên, còn trong điều kiện nền kinh tế tăng
trưởng thì việc làm được tạo ra và cầu về lao động lại tăng lên.
• Yếu tố thuộc về tổ chức
- Tổ chức/doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất hoặc lĩnh vực sản xuất
kinh doanh nào.
- Doanh nghiệp có tổ chức công đoàn hay không?
- Lợi nhuận và khả năng chi trả tiền lương của tổ chức. Các tổ chức kinh
doanh thành công thường có khuynh hướng trả lương cao hơn mức lương trung
bình của thị trường lao động bên ngoài và ngược lại.
- Quy mô của doanh nghiệp.
- Trình độ trang bị kĩ thuật của doanh nghiệp: hiện đại hay lạc hậu.
- Quan điểm, triết lý của tổ chức trong trả lương: Tổ chức đặt mức lương
cao, thấp hay theo cá mức lương trên thị trường. Chẳng hạn một số công ty muốn
đứng đầu trong việc trả lương cao hơn các công ty khác. Các công ty này muốn
thu hút nhân tài, bởi vì họ cho rằng trả lương cao hơn các tổ chức khác sẽ thu hút
những người làm việc có khả năng cao hơn. Trả lương cao cũng thúc đẩy người
lao động làm việc có chất lượng cao, năng suất lao động cao và vì thế chi phí lao
động của một đơn vị sản phẩm sẽ thấp hơn.
12
Một số tổ chức khác lại áp dụng mức lương thịnh hành tức là mức lương
trung bình mà hầu hết các tổ chức khác đang trả lương cho người lao động. Vì họ
cho rằng với cách đó vẫn thu hút được người lao động có trình độ lành nghệ phù
hợp với yêu cầu công việc, đồng thời vẫn duy trì được vị trí cạnh tranh của công
ty bằng cách không nâng giá sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty.
Có tổ chức lại có chính sách trả lương thấp hơn mức lương hiện hành trên
thị trường bởi vì: hoặc là tổ chức đang gặp khó khăng về tài chính; hoặc là ngoài
tiền lương người lao động còn nhận được các khoản trợ cấp khác. Nhưng các
công trình nghiên cứu đã chỉ rõ trả lương thấp không có nghĩa là tiết kiệm được
chi phí, ngược lại tổ chức sẽ tốn kém hơn bởi vì người lao động làm việc không
có năng suất, những người lao động giỏi sẽ rời tổ chức.
• Yếu tố thuộc về công việc
Công việc là một yếu tố chính quyết định và ảnh hưởng đến mức tiền lương
của người lao động trong tổ chức. Các doanh nghiệp rất chú trọng đến giá trị
thực của từng công việc cụ thể. Những yếu tố thuộc về công việc cần được xem
xét tuỳ theo đặc trưng, nội dung của mỗi công việc cụ thể. Tuy vậy, những đặc
trưng chung nhất cần được phân tích và đánh giá cho mỗi công việc gồm:
- Kỹ năng: tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của công việc cũng như lao
động trí óc hay lao động chân tay mà yêu cầu kỹ năng khác nhau.
- Trách nhiệm: công việc đòi hỏi người lao động có trách nhiệm đối với
vật tư, trang thiết bị, tài sản và máy móc dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng như là trách nhiệm đối với công việc trong việc ra quyết định, các kết quả
tài chính
- Sự cố gắng: là sự yêu cầu về thể lực và trí lực của người lao động, mức
độ chịu áp lực của công việc.
13
- Điều kiện làm việc như: tiếng ồn; độ rung chuyển; nồng độ bụi cũng
như mức độ độc hại đối với người lao động
• Yếu tố thuộc về cá nhân người lao động
Cá nhân người lao động là yếu tố có tác động rất lớn đến việc trả lương.
Mức tiền lương phụ thuộc vào sự hoàn thành công việc của người lao động, trình
độ, kinh nghiệm, thâm niên công tác, sự trung thành, tiềm năng.
- Sự hoàn thành công việc: người lao động giỏi, có thành tích xuất sắc
năng suất cao thường được trả lương cao hơn.
- Thâm niên công tác: là một yếu tố được tính đến khi trả lương. Người
lao động có thâm niên lâu năm trong nghề cũng thường được nhận mức lương
cao hơn.
- Kinh nghiệm: kinh nghiệm cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến mức tiền
lương và cần được xem xét khi trả lương.
- Thành viên trung thành: có nghĩa là người đó làm việc lâu năm hơn
những người khác trong tổ chức, đặc biệt trong những giai đoạn khó khăn và
thăng trầm của tổ chức người lao động đó vẫn luôn đồng cảm cộng khổ để vượt
khó và giành được thắng lợi. Khi trả lương phải xem xét đến yếu tố này.
- Tiềm năng: Khi định mức lương cần quan tâm đến tiềm năng của người
lao động và nuôi dưỡng tiềm năng đó. Có thể có người lao động chưa có kinh
nghiệm hoặc chưa có khả năng làm được những công việc khó ngay nhưng trong
tương lai họ có tiềm năng thực hiện được. Do đó, những người trẻ tuổi như sinh
viên tốt nghiệp có thành tích học tập giỏi có thể trả lương cao bởi vì họ có tiềm
năng trở thành người quản lý giỏi trong tương lai.
1.2. Chính sách tiền lương
1.2.1. Khái niệm chính sách tiền lương
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét