Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Bình Định

hàng thương mại phải mở rộng các dịch vụ của mình, các ngân hàng thương
mại không chỉ thực hiện các dịch vụ truyền thống mà còn phải thực hiện các
dịch vụ mới như cho vay tiêu dùng, tư vấn tài chính, quản lý tiền mặt, dịch vụ
thuê mua thiết bị, cho vay tài trợ dự án, và các dịch vụ bảo hiểm
Vậy, Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục
các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ
thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng (Luật số 02/1997/QH10) chỉ rõ:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Trong đó, hoạt
động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng tiền này để cấp tín dụng và cung
ứng các dịch vụ thanh toán.
Các ngân hàng thương mại đã và đang thay đổi một cách phù hợp để
đáp ứng các yêu cầu mới của nền kinh tế hiện đại. Tuy nhiên, các dịch vụ
truyền thống của ngân hàng vẫn không thay đổi, nó bao gồm các hoạt động
quan trọng sau:
Mua bán ngoại tệ
Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên
được thực hiện là trao đổi ngoại tệ - Ngân hàng đứng ra mua bán loại tiền này
lấy loại tiền khác và hưởng chi phí dịch vụ, chẳng hạn bán USD lấy VND và
ngược lại. Sự trao đổi đó là rất quan trọng đối với các thương gia sang vùng
khác hoặc nước khác để buôn bán, hay đối với khách du lịch họ cần đồng bản
tệ để dễ dàng trao đổi, mua bán ở quốc gia mà họ tới. Trong thị trường tài
chính ngày nay, việc mua bán ngoại tệ chỉ do các ngân hàng lớn thực hiện bởi
vì độ rủi ro cao và đòi hỏi có trình độ chuyên môn.
5
Nhận tiền gửi
Hoạt động cho vay đem lại nguồn thu nhập lớn nhất cho ngân hàng, do
đó, ngoài phần vốn tự có các ngân hàng tìm cách huy động được tiền gửi để
có thể cho vay nhiều hơn, một trong những nguồn quan trọng là các khoản
tiền gửi (thanh toán và tiết kiệm). Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được
các khoản tiền gửi, các ngân hàng phải trả lãi cho các khoản tiền gửi như là
phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hy sinh nhu cầu tiêu dùng trước
mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh.
Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại
Cho vay của ngân hàng gắn liền với quá trình hình thành ngân hàng,
chính nhu cầu tiền cho sản xuất kinh doanh, nhu cầu cho tiêu dùng mà những
người có tiền đã thành lập nên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thực tế đó.
Ngay từ ban đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho
vay đối với các doanh nhân địa phương, những người bán các khoản nợ
(khoản phải thu) của các khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. cho vay
thương mại: cho vay trực tiếp để kinh doanh, chiết khấu thương phiếu. Đó là
bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với
khách hàng và hầu hết các khoản cho vay này là ngắn hạn. Bên cạnh cho vay
truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng
động trong việc tài trợ các dự án dài hạn như xây dựng nhà máy, đầu tư bất
động sản, đất đai tuy rủi ro của tín dụng dài hạn cao nhưng lãi lại lớn.
Bảo quản vật có giá:
Dịch vụ này xuất hiện rất sớm trong hoạt động của Ngân hàng. Ngay từ
khi hình thành ngân hàng đã lưu giữ vàng và vật có giá khác của khách hàng
trong kho và thu phí bảo quản. Hình thức này hấp dẫn khách hàng bởi họ
nhận được giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát từ việc gửi các vật trên và
giấy chứng nhận đó có thể được lưu hành như tiền - đó là hình thức đầu tiên
6
của séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, việc lưu giữ vật có giá trong ngân hàng
giảm hẳn do khách hàng phải mất phí cho việc gửi vàng hoặc vật có giá đó,
còn nếu họ gửi bằng tiền thì lại có thêm thu nhập, vì vậy người ta có xu
hướng đổi vàng hoặc vật có giá sang tiền để gửi để không phải sử dụng dịch
vụ trên.
Cung cấp các tài khoản giao dịch
Thanh toán qua ngân hàng mở đầu cho giai đoạn thanh toán không
dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền
thanh toán để thanh toán mà có thể dùng séc, thẻ điện tử, uỷ nhiệm chi, nhờ
thu, việc cung cấp các tài khoản giao dịch đã giúp cho các giao dịch kinh
doanh được thực hiện nhanh chóng, an toàn hơn.
Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ:
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã
thu hút sự chú ý của Chính phủ. Vì vậy, ngay từ thời kỳ đầu hình thành ngân
hàng, Chính phủ đã tìm cách kiểm soát hoạt động của ngân hàng để tài trợ cho
các hoạt động của mình. Ngày nay, Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt
động và kiểm soát các ngân hàng, các ngân hàng được cấp giấy phép thành
lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện một mức độ nào đó các chính
sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng phải mua trái
phiếu của Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà
ngân hàng huy động được; hoặc phải cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các
doanh nghiệp của Chính phủ.
Ngoài các hoạt động cơ bản trên, ngân hàng còn phát triển thêm những
dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hiện đại như: cho thuê thiết bị
trung và dài hạn, bảo lãnh, ủy thác, tư vấn, môi giới đầu tư chứng khoán, dịch
vụ bảo hiểm
1.1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
7
Cho vay là hoạt động truyền thống của NHTM và cho đến nay nó vẫn
là hoạt động chủ yếu và mang lại nhiều thu nhập nhất cho ngân hàng mặc dù
đã có thêm nhiều dịch vụ mới đóng góp vào thu nhập của ngân hàng.
Có nhiều quan điểm khác nhau về cho vay: có quan điểm đồng nhất
cho vay với tín dụng, lại có quan điểm cho vay chỉ là một trong các hình thức
cấp tín dụng cho khách hàng. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, ta thống
nhất quan điểm về cho vay như sau:
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong khoản thời gian xác định.
Với quan niệm cho vay như trên thì ta có nhiều cách phân loại cho vay
khác nhau tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân
hàng. Thông thường có những cách phân loại như sau:
Căn cứ vào mục đích sử dụng tiền vay:
+ Cho vay kinh doanh: là loại cho vay để bù đắp các chi phí phục vụ
cho mục đích kinh doanh, từ đầu tư thiết bị, xây dựng nhà xưởng cho đến chi
phí mua vật tư hàng hoá, chi trả lương công nhân
+ Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng
như mua sắm các vật dụng đắt tiền, ngày nay ngân hàng còn thực hiện các
khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua
phát hành thẻ tín dụng.
Căn cứ vào thời hạn sử dụng tiền vay:
+ Cho vay ngắn hạn: loại cho vay này có thời hạn từ 12 tháng trở
xuống và được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động và thiếu hụt tạm
thời của các doanh nghiệp, nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. Đối với
ngân hàng thương mại tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất và đem lại ít
rủi ro hơn so với tín dụng trung và dài hạn.
8
+ Cho vay trung hạn: khoản cho vay này có thời hạn từ 1 đến 5 năm
cho vay trung hạn chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu đầu tư mua sắm tài sản cố
định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,
xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong
nông nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng như:
máy cày, máy bơm, xây dựng vườn cây công nghiệp như cà phê, điều ; máy
bơm điện
+ Cho vay dài hạn: là khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm. Cho vay
dài hạn thường được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà
ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp
mới
Nghiệp vụ truyền thống của các ngân hàng thương mại là cho vay ngắn
hạn, nhưng từ những năm 70 trở lại đây các ngân hàng thương mại đã chuyển
sang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng
cao tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
+ Cho vay không đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín
của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong
kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có
thể cho vay dựa vào uy tín của khách hàng đó mà không cần một nguồn thu
nợ thứ hai bổ sung.
+ Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay được ngân hàng cung ứng phải
có tài sản thế chấp, hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba.
Đối với khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng, khi vay vốn đòi
hỏi phải có sự bảo đảm. Sự bảo đảm này giúp cho ngân hàng có thêm nguồn
thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
9
Một số cách phân loại cho vay khác như: cho vay theo ngành kinh tế
(công nghiệp, nông nghiệp ), theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài
sản cố định), theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng ). Cách phân loại như thế
này giúp ngân hàng đánh giá hoạt động cho vay của mình theo ngành nghề,
đối tượng, từ đó đưa ra các biện pháp điều chỉnh cho vay theo chính sách tín
dụng của ngân hàng.
1.2. Cho vay đối với các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu của
ngân hàng thương mại
1.2.1. Đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu
a) Đặc điểm của doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu
Doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu là doanh nghiệp được thành lập
theo qui định của Luật doanh nghiệp, sản xuất kinh doanh các sản phẩm được
chế biến từ gỗ (nguyên liệu đầu vào là nguyên liệu thô: gỗ tròn; nguyên liệu
qua sơ chế: dăm gỗ và các loại gỗ công nghiệp như: ván ép, gỗ ghép, gỗ
lạng ), các sản phẩm của doanh nghiệp này là: bàn ghế ngoài trời, giường tủ
và đồ nội thất bằng gỗ và các sản phẩm này được bán sang nước ngoài.
Từ một nước xuất khẩu gỗ nguyên liệu là chủ yếu, Việt Nam đã vươn
lên thành một nước xuất khẩu sản phẩm gỗ có tên tuổi trong khu vực. Hiện có
hơn 1200 doanh nghiệp CBGXK tại Việt Nam trong đó tập trung ở các tỉnh
miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Bình Định và Huế, đưa năng lực chế biến
và xuất khẩu gỗ trong nước tăng từ 40% đến 50% mỗi năm. Có khoảng gần
200 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn lại là các doanh nghiệp Việt
Nam, các doanh nghiệp này đều có đặc điểm chung như sau:
Hầu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam là doanh
nghiệp vừa và nhỏ nên có những đặc điểm riêng của doanh nghiệp vừa và nhỏ
như: qui mô vốn bé, trình độ công nghệ lạc hậu thiếu thông tin và trình độ tổ
chức quản lý còn nhiều yếu kém đặc biệt trong lĩnh vực lập kế hoạch và xây
10
dựng chiến lược phát triển lâu dài cho doanh nghiệp, thương hiệu của sản
phẩm chưa được xây dựng vững mạnh. Hơn nữa, mặt hàng này xuất khẩu ra
thị trường thế giới nên gặp rất nhiều đối thủ cạnh tranh có tên tuổi trên thị
trường, họ có lợi thế cả về qui mô, chất lượng và uy tín. Như vậy với qui mô
chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất
khẩu gặp rất nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu
đồ gỗ.
Hiện nay, nguyên liệu gỗ chiếm 60% - 70% giá thành sản phẩm. Trong
khi đó, trong nước chỉ đáp ứng gần 20% nguyên liệu gỗ cho chế biến gỗ xuất
khẩu, còn lại hơn 80% nguyên liệu gỗ phải nhập khẩu từ nước ngòai, thêm
vào đó các nước cấm xuất khẩu gỗ nguyên liệu ngày càng tăng. Như vậy, phải
phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu gỗ nhập khẩu từ nước ngoài và số lượng
ngày càng hạn chế là yếu tố bất ổn đối với các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất
khẩu. Để hạn chế bất ổn này buộc các doanh nghiệp phải có một lượng vốn
lưu động lớn dành cho dự trữ nguyên vật liệu.
Một đặc điểm quan trọng nữa là về đầu ra của các doanh nghiệp chế
biến gỗ xuất khẩu, các doanh nghiệp này sản xuất chủ yếu theo hợp đồng và
sản xuất theo thời vụ, tập trung vào thị trường nước ngoài chủ yếu vào các thị
trường như: EU, Nhật Bản, Mỹ đây là những thị trường khó tính. Để đảm
bảo nhận được tiền thanh toán từ phía người mua các doanh nghiệp không chỉ
phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm mà còn phải đáp ứng các yêu
cầu khắc khe trong các điều kiện thanh toán. Vì vậy, các doanh nghiệp
CBGXK cần có sự hỗ trợ của ngân hàng về dịch vụ thanh toán quốc tế.
Do các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu hiện nay vừa nhỏ lại vừa
phân tán, phát triển tự phát thiếu sự liên kết dù các doanh nghiệp Việt Nam có
lợi thế là nguồn nhân công rẻ, tay nghề khéo léo, kỹ thuật tinh xảo và sản
phẩm đạt chất lượng tương đương hàng nước ngoài, giá bán thấp hơn 20% so
11
với hàng hóa cùng loại của nước ngoài vẫn khó cạnh tranh. Khách hàng quốc
tế thường đặt yêu cầu cao về sự “an toàn” của các hợp đồng, trong khi các
doanh nghiệp Việt Nam không liên kết được với nhau trong sản xuất. Các
doanh nghiệp ít vốn nên khó có đủ khả năng để tiếp thị sản phẩm, quảng bá
thương hiệu của mình ra nước ngoài. Vì vậy, đa số các doanh nghiệp thường
nhận hợp đồng gia công cho phía đối tác hoặc xuất khẩu dưới hình thức gián
tiếp.
Qui mô vốn của doanh nghiệp nhỏ bé, vốn tự tài trợ càng bé hơn, trong
khi đó các hợp đồng cung cấp sản phẩm gỗ cho nước ngoài giá trị trung bình
từ 10 - 20 tỷ đồng và có khi còn cao hơn, điều này buộc các doanh nghiệp
phải đi vay rất nhiều. Hơn nữa, đây là những doanh nghiệp sử dụng rất nhiều
các dịch vụ ngân hàng liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu như: cung cấp
các tài khỏan giao dịch, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ… Vì vậy, đây là
một thị trường đầy tiềm năng mà các ngân hàng cần xem xét để mở rộng hoạt
động cho vay của mình.
b) Vai trò của doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu
Từ khi hình thành và phát triển cho đến nay các doanh nghiệp chế biến
gỗ xuất khẩu đã có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế của đất nước,
những vai trò quan trọng đó là:
Thứ nhất, sự phát triển của các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu đã
góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập quốc
dân, đặc biệt là tăng nguồn thu ngoại tệ góp phần giảm thâm hụt cán cân
thanh toán quốc tế. Hiện có hơn 1200 doanh nghiệp chế biến gỗ trong cả nước
tạo việc làm cho hơn 250.000 lao động.
Thứ hai, với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của ngành chế biến gỗ
xuất khẩu đã giúp Việt Nam có uy tín trên thị trường thế giới về lĩnh vực chế
biến, góp phần quảng cáo các ngành chế biến khác như: chế biến thủy sản,
12
nông sản và quảng cáo cho ngành thủ công mỹ nghệ của Việt Nam (đan,
thêu, dệt may) từ đó đưa tên tuổi Việt Nam ngày càng lớn mạnh trên thương
trường quốc tế.
Thứ ba, các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu cũng giúp người lao
động Việt Nam làm việc trong môi trường cạnh tranh quốc tế, có nhiều kinh
nghiệm trong sản xuất kinh doanh với nước ngoài từ đó nâng cao trình độ lao
động trong nước.
Và cuối cùng là doanh nghiệp có vai trò khuyến khích cả nhà nước và
nông dân trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc góp phần giảm sa mạc
hóa quỹ đất sản xuất đang ngày càng khan hiếm. Từ khi các doanh nghiệp chế
biến gỗ xuất khẩu phát triển, rừng càng có giá trị về mặt kinh tế thì Nhà nước
mới quan tâm quy hoạch các vùng rừng kinh tế và giao rừng cho người dân,
từ đó việc chặt phá rừng giảm đi và tỷ lệ đất trống đồi núi trọc cũng giảm hẳn;
góp phần giảm ô nhiễm môi trường, thiên tai và sử dụng hiệu quả tài nguyên
đất của quốc gia.
1.2.2. Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu
của ngân hàng thương mại
1.2.2.1. Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp chế biến gỗ xuất
khẩu
Cho vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn là khoản cho vay có thời hạn ít hơn hoặc bằng 12
tháng. Các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu như trên đã nói, có đặc điểm
là sản xuất theo thời vụ và đa số sản phẩm của doanh nghiệp là xuất khẩu nên
đây là đối tượng khách hàng vay ngắn hạn chủ yếu của ngân hàng.
Ngân hàng có thể có các phương thức cho vay ngắn hạn như sau:
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng
13
Đây là khoản cho vay theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách
hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ.
Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Phương thức này được áp dụng phổ biến
đối với các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu, bởi vì nguồn nguyên liệu gỗ
nhập khẩu không ổn định và khan hiếm nên các doanh nghiệp phải mua
nguyên liệu gỗ để dự trữ nguyên liệu cho sản xuất, việc vay theo hạn mức sẽ
giúp doanh nghiệp chớp được thời cơ mua nguyên liệu, chủ động trong sản
xuất.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp.
+ Cho vay từng lần (cho vay theo món)
Đây là phương thức cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp chế
biến gỗ xuất khẩu do không có điều kiện vay thường xuyên, mà doanh nghiệp
vay vốn khi có đơn đặt hàng hoặc mới vay ngân hàng.
Mỗi lần vay, doanh nghiệp phải làm đơn và trình ngân hàng theo
phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí hợp
đồng cho vay, xác định quy mô, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và
yêu cầu đảm bảo của món vay nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt thành các
hồ sơ khác nhau. Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng
có thể kiểm soát từng món vay tách biệt.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi
Thấu chi là một kỹ thuật cấp tín dụng cho khách hàng, theo đó ngân
hàng cho phép khách hàng chi vượt số dư trên tài khoản thanh toán của khách
hàng để thực hiện các giao dịch thanh toán kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh
doanh.
Để được vay theo hạn mức thấu chi, các khách hàng phải là những
khách hàng quen biết, thường xuyên giao dịch qua ngân hàng, tình hình tài
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét