Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

300572

Báo Cáo Thực Tập Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
Bảng Chữ Viết Tắt
SPC
Stored Program Control Điều khiển bằng chương trình ghi sẵn
PABX
Private Automatic Branch Exchange Tổng đài cơ quan
DTMF Dual Tone Multi Frequencie
Chuông kép đa tần số
PCM
Pulse Code Modulation Điều xung mã
DISA Direct Inward System Access Hệ thống truy cập trực tiếp bên
trong
VM Voice Message Hộp thư thoại
DSS
Direct Station Selection
Trạm lựa chọn trực tiếp
SLT Single Line Telephone Đường điện thoại đơn
SMDR Station Message Detail Recording
Trạm ghi âm chi tiết tin nhắn

Chương I – Tổng quan tổng đài điện tử số.
GVHD: Bùi Như Phong SV: Lương Văn Luật
5
Báo Cáo Thực Tập Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
1.1 - Sơ lược sự hình thành và phát triển của tổng đài điện tử số .
Để khắc phục những hạn chế và nhược điểm của các loại tổng đài điện thoại cần
nhiều kỹ thuật viên. Các nhà chế tạo tổng đài đã cho ra đời các loại tổng đài cơ điện
và từng bước hoàn thiện chúng. Tổng đài tự động từng nấc đầu tiên điều khiển trực
tiếp đã được chế tạo vào năm 1892. Nó được hoàn thiện trên tổng đài nhân công,
song nó vẫn còn có nhiều nhược điểm như chứa nhiều các bộ phận cơ khí, khả năng
tính toán linh hoạt bị hạn chế, kích thước cồng kềnh.
Năm 1982 hãng ericsson của thuỵ điển đã cho ra đời loại tổng đài thanh
chéo(cross bar) đầu tiên. các tổng đài này được sản xuất dựa trên cơ sở nghiên cứu
kỹ thuật chuyển mạch và hoàn thiện hơn các bộ phận chức năng của tổng đài từng
nấc, chủ yếu là chuyển mạch thanh chéo.
Sau đó nhiều sự thay đổi có ý nghĩa cách mạng trong lĩnh vực điện tử đã tạo ra
nhiêu điều kiện tốt để hoàn thiện các tổng đài ngang - dọc. Và nhiều khối chức năng
điều khiển: bộ ghi phát đấu nối phiên dịch trước đây được chế tạo trên cơ sở rơ le
cơ điện nay đã được thay thế bằng máy tính đơn giản chế tạo ở dạng khối . Điều đó
dẫn đến kích thước của tổng đài được thu nhỏ hơn, thể tích và trọng lượng của các
thiết bị cũng giảm , tổng đài làm việc nhanh, tin cậy cao , dễ vận hành và bảo dưỡng.
Sau đó công nghệ điện tử phát triển nhanh , đặc biệt là kỹ nghệ chế tạo các loại
mạch tổ hợp mật độ trung bình và lớn đã ra đời tạo điều kiện cho may tính và tổng
đài điện tử phát triển.
Tổng đài điện tử số đầu tiên được chế tạo và khai thác vào năm 1965 là tổng đài
tương tự làm việc theo nguyên lý SPC ( Điều khiển theo chương trình ghi sẵn ) .
Tổng đài này có nhãn hiệu essn
0
1 do hãng bell system chế tạo ở Mỹ, dùng trường
chuyển mạch cơ điện, có dung lượng từ 10000 đến 60000 thuê bao. Nó có thể lưu
loát lượng tải là 600 erlangs và có thể thiết lập 30 cuộc gọi/ giây.
Từ năm 1974 - 1976 là giai đoạn phát triển kỹ thuật và cải tiến hiệu quả của công
nghệ tổng đài số. Với sự phát triển của xã hội định hướng thông tin, các dịch vụ
thông tin điện thoại, thông tin số liệu thông tin di động, ngày càng trở nên phong
GVHD: Bùi Như Phong SV: Lương Văn Luật
6
Báo Cáo Thực Tập Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
phú, đa dạng. Sự phát truyển của công nghệ thông tin bao gồm cả truyền dẫn cáp
quang, kỹ thuật số, kỹ thuật thông tin vệ tinh, được phát truyển một cách nhanh
chóng, các mạng thông tin ngày một nâng cao về tính năng và tốc độ phát truyển. Kỹ
thuật số là kỹ thuật cơ bản cần thiết để xây dựng các mạng thông tin có tính năng
hoạt động cao. Trung tâm của một mạng thông tin sử dụng kỹ thuật số là tổng đài
điện tử số. Tổng đài điện tử số thực hiện chuyển mạch các kỹ thuật âm thanh.
1.2- Tổng quan tổng đài điện tử số SPC
1.2.1 Giới thiệu chung về Tổng đài SPC.
Loại tổng đài này được điều khiển bằng chương trình lưu trữ đã được lưu sẵn trong
bộ nhớ. Các chức năng chính tông đài SPC bao gồm:
+ Thứ tự sử lý các bước của tổng đài.
+ Số thứ tự của đường dây thuê bao,số thuê bao,thuộc tính thuê bao.
+ Duy trì và giám sát cuộc gọi.
+ Tính cước cuộc gọi.
+ Đấu nối các thuê bao.
+ Cung cấp các dịch vụ khách hàng.
+ Vận hành bảo dưỡng
Trong tổng đài điện tử SPC, người ta sử dụng thiết bị điều hành, quản lý và bảo dưỡng
tổng đài trong quá trình khai thác nhằm để giao tiếp với tổng đài. Các thiết bị này bao
gồm màn hình, bàn phím điều khiển, các máy in tự động, các thiết bị đo thử đường dây
và máy thuê bao Chúng được dùng để đưa các lệnh quản lý và bảo dưỡng vào thiết bị
xử lý thao tác và bảo dưỡng của tổng đài.
Ngoài các thiết bị nêu trên, ở các tổng đài SPC trung tâm còn có thiết bị ngoại vi nhớ
số liệu. Thiết bị này bao gồm khối điều khiển bằng từ và đĩa từ. Chúng có tốc độ làm việc
cao, dung lượng nhớ lớn và dùng để nạp phần mềm vào các loại bộ nhớ của các bộ xử lý,
ghi các thông tin cước, thống kê
GVHD: Bùi Như Phong SV: Lương Văn Luật
7
Báo Cáo Thực Tập Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
Tổng đài SPC có tính linh hoạt,mềm dẻo trong quá trình khai thác.Nếu cần phải
thay đổi số thuê bao,số lượng thuê bao,các dịch vụ của thuê bao người ta không phải
thay đổi kết cấu mạch điện ,cách đấu nối,hay phần cứng mà chi cần thay đổi bổ xung
các số liệu vào bộ nhớ chương trùnh của tổng đài thông qua một hệ thống các máy
tính đièu khiển
Tổng đài SPC có khả năng lưu giữ các số liệu trong quá trình làm việc bằng các
hệ thống băng từ,đĩa từ,bộ nhớ để cung cấp các số liệu cần thiết giúp cho iệc khai
thác quản lí có hiệu quả.
Tổng đài SPC có khả năng tự chuẩn đoán bằng chương trình tự động như thường
xuyên đo lường,kiểm tra các thông số kĩ thuật của tổng đài cho phép phát hiện kịp
thời các sự cố giúp cho việc sửa chữa thay thế nhanh chóng đảm bảo thông tin liên
lạc thông suốt.Và cho phép nhiều dịch vụ gia tăng phi thoại.
1.2.2- Phân loại tổng đài.
- Được ứng dụng rộng rãi trong hệ thống viễn thông hiện nay người ta sử dụng tổng
đài tự động điện tử kĩ thuật số được điều khiển theo chương trình ghi sẵn.
- Căn cứ vào phương pháp làm việc của tổng đài người ta chia tổng đài thành hai
loại:
+) Tổng đài nhân công: là có người thao tác để chuyển mạch.
+) Tổng đài tự động: được điều khiển theo chương trinh ghi sẵn.
- Căn cứ vào cấu tạo của tổng đài người ta chia thành hai loại:
+) Tổng đài cơ điện: là tổng đài được thực hiện việc đấu nối bằng các tiếp xúc
cơ khí sử dụng các tiếp điểm rơle.
+) Tổng đài điện tử: là tổng đài được thực hiện việc đấu nối bằng các tiếp xúc điện tử sử
dụng các linh kiện điện tử như điốt, tranziztor, cổng logíc.
- Căn cứ vào vị trí tổng đài trong hệ thống viễn thông:
+) Tổng đài nội hạt: là tổng đài mà các thuê bao được đấu trực tiếp vào đó được tổ
chức trong một khu vực địa lí.
GVHD: Bùi Như Phong SV: Lương Văn Luật
8
Báo Cáo Thực Tập Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
+) Tổng đài chuyển tiếp nội hạt:là những tổng đài chuyển tiếp tín hiệu thoại giữa các
tổng đài nội hạt trong một khu vực hoặc một vùng.
+) Tổng đài chuyển tiếp vùng.
+) Tổng đài quốc gia.
Hiện nay trên mạng viễn thông có 5 loại tổng đài sau:
- Tổng đài cơ quan PABX: được sử dụng trong
các cơ quan, khách sạn và thường sử dụng
trung kế CO- Line(central office).
- Tổng đài nông thôn (Rural Exchange): được sử
dụng ở các xã, khu dân cư đông, chợ và có thể
sử dụng tất cả các loại trung kế .
- Tổng đài nội hạt LE ( Exchange Local): được
đặt ở trung tâm huyện tỉnh và sử dụng tất cả các
loại trung kế.
- Tổng đài cửa ngõ quốc tế (Gateway Exchange):
tổng đài này dùng để chọn hướng và chuyển
mạch các cuộc gọi vào mạng quốc tế để nối các
quốc gia với nhau, có thể chuyển tải cuộc gọi
quá giang.
- Tổng đài đường dài TE (Toll Exchange): dùng
để kết nối các tổng đài nội hạt ở các tỉnh với
nhau, chuyển mạch các cuộc gọi đường dài
trong nước với nhau.
GVHD: Bùi Như Phong SV: Lương Văn Luật
9
Báo Cáo Thực Tập Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
1.3- Nhiệm vụ chung của một tổng đài
1.3.1 Nhiệm vụ báo hiệu
Là nhiệm vụ trao đổi báo hiệu với mạng ngoài bao gồm mạng các đường dây thuê
bao và trung kế đấu nối tới các máy thuê bao hay tổng đài khác.
1.3.2 Nhiệm vụ xử lý các thông tin báo hiệu và điều khiển các thao tác chuyển
mạch
Thiết bị điều khiển chuyển mạch nhận các thông tin báo hiệu từ các đường dây
thuê bao và trung kế, xử lý các thông tin này và đưa ra và đưa ra các thông tin điều
khiển cấp các thông tin báo hiệu tới các đường dây thuê bao hay trung kế hoặc để
điều khiển hoặc để điều khiển các thiết bị chuyển mạch và các thiết bị phụ trợ để tạo
tuyến nối.
1.3.3 Tính cước
Nhiệm vụ này là tạo ra các số liệu cước phù hợp với từng loại cuộc gọi sau khi
mỗi cuộc gọi kết thúc. Số liệu cước này sẽ được sử lý thành các bản tin cước để
phục vụ công tác thanh toán cước.
Tất nhiên các nhiệm vụ nói trên được thực hiện có hiệu quả nhờ sử dụng máy tính
điều khiển tổng đài.
1.3.4 Chức năng thiết lập cuộc gọi
- Là phải tạo và thiết lập tuyến đấu nối trong nội bộ tổng đài để truyền tín hiệu thoại
giữa các máy điện thoại.
a) Thiết lập 1 cuộc thông tin nội hạt.
GVHD: Bùi Như Phong SV: Lương Văn Luật
10
Báo Cáo Thực Tập Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
Chú thích :
A: thuê bao A
B: thuê bao B
B1: đặt tổ hợp
B2: nhấc tổ hợp
B3: âm mời quay số
B4: gửi số điện thoại
B5: phát và hồi âm chuông
B6: hai bên đàm thoại
B7: đặt tổ hợp
+) nguyên lý:
- B1 đặt tổ hợp trên giá máy
- B2,B3 khi có nhu cầu làm việc A nhấc tổ hợp tổng đài nhận biết trạng thái đường
dây thuê bao A thay đổi tổng đài lièn tiến hành xử lí nó và kiểm tra đường dây thuê
bao,số máy thuê bao các thông số của thuê bao A nếu thuê bao bị khoá tổng đài gửi
cho thuê bao âm báo bận vơí tần số f=425Hz nhịp ngắt 1:1 còn bình thường thì phát
âm mời quay số với f=425 Hz phát liên tục
- B4 A gửi các con số địa chỉ của thuê bao B
- B5 tổng đài nhận các con số và ghi vào bộ nhớ và tiến hành xử li,giải mã địa chỉ
xác định vị trí đường dây thuê bao,thuộc tính thuê bao B. nếu thuê bao B bận tổng
đài sẽ phát tín hiệu báo bận cho thuê bao A bình thường thì tổng đài chuyển mạch và
phát tín hiệu chuông cho thuê bao B và phát tín hiệu hồi âm chuông cho thuê bao A
với f=425Hz nhip ngắt 2:4
- B6 B nhấc tổ hợp hai bên đàm thoại hệ thống tính cước của tổng đài bắt đầu hoạt
động
- B7 kết thúc cuộc gọi xảy ra hai trường hợp:
GVHD: Bùi Như Phong SV: Lương Văn Luật
11
Báo Cáo Thực Tập Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
+ nếu A đặt tổ hợp trước tổng dài xác định đường dây thuê bao A thay đổi liền giải
phóng tuyến đấu nối về hướng thuê bao A đồng thời phát tín hiệu báo bận cho thuê
bao B nhắc B đặt tổ hợp vào giá máy khi B đặt tổ hợp vào giá máy tuyến đấu nối
trong nội bộ tổng đài được giải phóng hoàn toàn.
+ nếu B đặt tổ hợp trước tổng dài xác định đường dây thuê bao B thay đổi liền giải
phóng tuyến đấu nối về hướng thuê bao B đồng thời phát tín hiệu báo bận cho thuê
bao A nhắc A đặt tổ hợp vào giá máy khi A đặt tổ hợp vào giá máy tuyến đấu nối
trong nội bộ tổng đài được giải phóng hoàn toàn.
b) thiết lập một cuộc thông tin qua hai tổng đài nội hạt.
Sơ đồ thiết lập thông tin qua hai tổng đài nội hạt
Chú thích:
b1 đặt tổ hợp.
b2 nhấc tổ hợp.
GVHD: Bùi Như Phong SV: Lương Văn Luật
12
TĐ1 TĐ2
BA
b5,b6b4
b3
b2
b1
t/h chuông
hồi âm chuông
b7
b8 b9,b10 b11
Báo Cáo Thực Tập Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
b3 âm mời quay số ( âm báo bận).
b4 gửi số điện thoại.
b5,b6 chiếm trung kế và xác nhạn chiếm trung kế,hồi âm chuông.
b7 nhấc tổ hợp.
b8,b11 đặt tổ hợp.
b9,b10 giải phóng trung kế và xác nhận giải phóng trung kế.
TĐ1 tổng đài nội hạt của thuê bao A
TĐ2 tổng đài nội hạt của thuê bao B
- b1 đặt tổ hợp trên giá máy
- b2,b3 khi có nhu cầu làm việc A nhấc tổ hợp tổng đài nhận biết trạng thái đường
dây thuê bao A thay đổi tổng đài lièn tiến hành xử lí nó và kiểm tra đường dây thuê
bao,số máy thuê bao các thông số của thuê bao A nếu thuê bao bị khoá tổng đài gửi
cho thuê bao âm báo bận vơí tần số f=425Hz nhịp ngắt 1:1 còn bình thường thì phát
âm mời quay số với f=425 Hz phát liên tục
- b4 A gửi các con số địa chỉ của thuê bao B
- b5,b6 TĐ1 nhận các con số địa chỉ của thuê bao liền ghi vào bộ nhớ số liệu và tiến
hành xử lí nó xác nhận thuê bao B thuộc TĐ2 liền chiiếm một đường trung kế đến
TĐ2,TĐ2 xác nhận sự thay đổi đường dây trung kế liền phát tín hiệu công nhận
chiếm trung kế khi nhận được tín hiệu chiếm trung kế TĐ1 liền gửi các con số địa
chỉ của thuê bao B cho TĐ2 xử lý TĐ2 nhận và ghi vào bộ nhớ số liệu và tiến hành
xử lí nó xác nhận đường dây thuê bao,thuộc tính của thuê bao B. nếu thuê bao bị
khoá hay bận thì phát tín hiệu báo bận về cho thuê bao A xuyên qua TĐ1 còn bình
thường TĐ2 gửi t/h chuông cho thuê bao B đồng thời phát t/h hồi âm chuông cho
thuê bao A.
- b7 B nhấc tổ hợp tuyến đấu nối cho 2 tb A&B xuyên qua 2TĐ được thiết lập 2 bên
đàm thoại hệ thống tính cước của TĐ1 hoạt động.
- b8,b9,b10,b11 kết thúc cuộc gọi xảy ra hai trường hợp:
GVHD: Bùi Như Phong SV: Lương Văn Luật
13
Báo Cáo Thực Tập Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
+ A đặt tổ hợp trước : TĐ1 xác nhận trạng thái đường dây t/b A thay đổi liền giải
phóng tuyến đấu nối về hướng thuê bao A giải phóng trung kế về hướng TĐ2,TĐ2
xác nhận trạng thái đường trung kế thay đổi lièn phát tín hiệu xác nhận giải phóng
trung kế về phía TĐ1 và phát tín hiệu báo bận về cho t/b B nhắc B đặt tổ hợp vào giá
máy tuyến đấu nối giữa 2 t/b A&B xuyên qua 2 TĐ được giải phóng hoàn toàn
+ B đặt tổ hợp trước : TĐ2 xác nhận trạng thái đường dây t/b B thay đổi liền giải
phóng tuyến đấu nối về hướng thuê bao B giải phóng trung kế về hướng TĐ1,TĐ1
xác nhận trạng thái đường trung kế thay đổi lièn phát tín hiệu xác nhận giải phóng
trung kế về phía TĐ2 và phát tín hiệu báo bận về cho thuê bao A nhắc A đặt tổ hợp
vào giá máy tuyến đấu nối giữa 2 thuê bao A&B xuyên qua 2 TĐ được giải phóng
hoàn toàn.
1.4- Phương pháp điều khiển
1.4.1. Phương pháp điều khiển tập trung
Trong một số tổng đài SPC tất cả các thiết bị điều khiển có thể thay thế bằng một
bộ vi xử lý. Vì vậy bộ vi xử lý này phải có tốc độ đủ lớn để nó có thể xử lý hàng
trăm cuộc gọi trong một giây, ngoài ra nó phải hoàn thành các công việc điều hành
và bảo dưỡng khác. Từ đó việc tập trung hoá hoàn toàn các chức năng cũng có
nhược điểm vì phần mềm của bộ xử lý trung tâm rất cồng kềnh, phức tạp và khó có
độ tin cậy cao. Hơn nữa nó không thể đảm bảo độ an toàn cho hệ thống vì toàn bộ hệ
thống sẽ bị ảnh hưởng lớn khi bộ xử lý xảy ra sự cố. Điều hạn chế có thể được khắc
phục nhờ phương thức điều khiển phân tán.
1.4.2. Phương thức điều khiển phân tán
Trong phương thức điều khiển phân tán, một số chức năng xử lý gọi như đo thử
đường dây thuê bao, phân phối báo hiệu, điều khiển đấu nối có thể giao cho các bộ
vi xử lý ngoại vi. Mỗi bộ xử lý ngoại vi có một nhiệm vụ riêng và thường được điều
khiển bởi bộ vi xử lý trung tâm. Vì các bộ xử lý ngoại vi chỉ thực hiện một chức
năng nên các chương trình của nó đơn giản và ít chịu ảnh hưởng từ các nhân tố khác
GVHD: Bùi Như Phong SV: Lương Văn Luật
14

Xem chi tiết: 300572


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét