LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa đề tài:
Ngày nay, ngân sách nhà nước (NSNN) trở thành công cụ điều chỉnh nền
kinh tế vĩ mô cực kỳ quan trọng của bất kỳ Nhà nước nào trên thế giới, giữ vai trò
quan trọng, chủ yếu trong huy động và phân phối các nguồn lực của nền kinh tế
nhằm đảm bảo hoạt động của Nhà nước, đồng thời phân phối nguồn lực hợp lý để
thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững, bên cạnh đó còn giải quyết
những vấn đề xã hội, đảm bảo thực hiện công bằng, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi
hoạt động xã hội. Chính từ vai trò đó và trong điều kiện đất nước ta hiện nay đang
tích cực phấn đấu không còn là nước kém phát triển trở thành một nước công
nghiệp. Với mục tiêu đó và nguồn lực cho sự phát triển của Việt Nam là có hạn nên
yêu cầu huy động mọi nguồn lực và sử dụng hiệu quả là hết sức cần thiết đây chính
là mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý NSNN; NSNN là một thể thống nhất nên yêu
cầu nâng cao hiệu quả quản lý NSNN không chỉ là ở cấp quốc gia mà các địa
phương phải thực hiện. Để thực hiện được điều đó, trước hết cần phải nhận thức
đúng vấn đề lý luận về ngân sách Nhà nước, từng bước đổi mới phương thức quản
lý NSNN phù hợp. Ngày 7/11/2001 Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của
tổ chức quốc tế WTO – là điều kiện thuận lợi cho chúng ta đón nhận nguồn tài
chính của các tổ chức tài chính trên thế giới, song phải quản lý, sử dụng đạt hiệu
quả cao nhất, kết hợp chặt chẽ giữa phát huy nội lực kết hợp huy động nguồn lực
bên ngoài đảm bảo nên tài chính quốc gia.
Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN nhằm làm cho NSNN thực sự là công cụ
của Nhà nước, sử dụng nó để thực hiện tố hơn, hiệu quả cao hơn trong huy động và
phân bổ các nguồn lực của xã hội thuộc phạm vi NSNN. Yêu cầu trên đối với An
Giang là hết sức cần thiết, bởi vì là một tỉnh nông nghiệp, quy mô kinh tế nhỏ tăng
truởng kinh tế chưa cao, khả năng tích luỹ thấp, điều kiện tự nhiên còn nhiều khó
khăn, Chính vì vậy nguồn thu NSNN hàng năm không cao nhưng phải đáp ứng yêu
cầu chi rất lớn mới có thể phấn đấu bằng mức bình quân chung của cả nước, chính
4
vì vậy nâng cao hiệu quả quản lý NSNN là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện
nay và sắp tới, nhằm huy động tối đa mọi nguồn tài chính trong xã hội, đảm bảo cân
đối thu chi ngân sách, cải thiện , lành mạnh tình hình tài chính địa phương, đảm bảo
yêu cấu vốn chi cho các mục tiêu phát triển KT-XH và đảm bảo an ninh quốc
phòng.
Thời gian qua, quản lý NSNN của tỉnh An Giang từng bước đổi mới, hoàn
thiện, nhiều chính sách tài chính góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế, thu và chi
ngân sách đều không ngừng tăng qua các năm góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn
định đời sống xã hội. Tuy vậy, vẫn còn một vài hạn chế và trong giai đoạn mới cần
phải khắc phục và hoàn thiện, tập trung vào nội dung: phân cấp ngân sách, lập dự
toán ngân sách, trong đó phân bổ vốn đầu tư và chi thường xuyên, từng bước đổi
mới công tác lập dự toán gắn với thực hiện các chương trình kinh tế của tỉnh; nâng
cao ý thức tiết kiệm, chống lãng phí, ý thức kỷ luật tài chính; có chính sách tài
chính để khai thác hiệu quả nguồn lực hiện có đồng thời góp phần tạo môi trường
đầu tư thụân lợ, nâng cao năng lực đầu tư…
Với nhận thức như vậy, với những kiến thức đã được các thầy, cô của
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh trang bị, cùng với thực tiễn công
tác và với mong muôn góp một phần nhỏ công sức để tham gia công tác quản lý
NSNN ở địa phương được tốt hơn nên tôi chọn đề tài " nâng cao hiệu quả quản lý
ngân sách nhà nước tỉnh An Giang giai đoạn 2006 - 2010 ".
2. Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài : Luận văn tập trung
khai quát lại một số khái niệm, vai trò và những vấn đề cơ bản cơ sở lý luận về ngân
sách Nhà nước như bản chất, chức năng, vai trò cơ cấu, quản lý nhà nước về
NSNN; phân tích thực trạng về quản lý NSNN từ năm 2001 đến 2006 của tỉnh An
Giang để rút ra những kết quả đạt được và những hạn chế, trên cơ sở đó và gắn với
mục tiêu kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2006-2010 để đề xuất một số giải pháp
cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang.
Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN là đề tài rộng, luận văn mới chỉ nêu được
những nét khái quát về tình hình phân cấp và sử dụng ngân sách. Chưa đi sâu vào
5
xây dựng những định mức cụ thể và mô hình cụ thể. Đây cũng là bước khởi đầu
của bản thân trong nghiên cứu về một lĩnh vực cụ thể, chắc chắn nhiều thiếu sót
mong được quý thầy cô thông cảm và hướng dẫn thêm với mong muốn ngày càng
được hoàn thiện
3. Về phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp duy vật biện chứng
và phương pháp duy vật lịch sử. Công tác quản lý và điều hành ngân sách cần phải
được bổ sung và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu thực tiễn Các kết luận và giải pháp
đề xuất được đúc kết từ quá trình thu thập, khảo sát và tổng hợp các thông tin, tư
liệu, qua đó đối chiếu với cơ sở lý luận để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu.
Quá trình nghiên cứu đảm tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và tổng hợp.
4. Kết cấu luận văn:
Kết cấu luận văn ngoài lời mở đầu và phần kết luận gồm có 3 chương:
Chương I : Lý luận chung về Ngân sách nhà nước và quản lý ngân sách nhà
nước.
Chương II. Thực trạng tình hình quản lý NSNN tỉnh An Giang giai đoạn
1996 - 2000 và giai đoạn 2000- 2005:
Chương III: một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
quản lý ngân sách tỉnh An Giang.
6
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NSNN VÀ QUẢN LÝ NSNN
1.1. Ngân sách nhà nước (NSNN):
1.1.1. Bản chất NSNN
1.1.1.1.Khái niệm NSNN:
Lịch sử đã chứng minh rằng, sản xuất hàng hóa phát triển, chế độ tư hữu
xuất hiện, và có sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trong điều kiện lịch sử
đó, Nhà nước xuất hiện, đầu tiên là Nhà nước chiếm hữu nô lệ. Khi Nhà nước ra đời
và hoạt động, để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước đã dùng quyền lực chính trị
buộc các tổ chức và cá nhân trong xã hội phải đóng góp một phần thu nhập, của cải
cho Nhà nước nhằm tạo lập quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầu chi tiêu quốc gia. Như vậy
sự ra đời của Nhà nước đã làm nảy sinh các quan hệ kinh tế gắn với hình thành,
phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ riêng có của mình, để phục vụ các chức năng,
nhiệm vụ hoạt động của Nhà nước, hình thành nên hoạt động tài chính nhà nước
(TCNN). Lịch sử đã chứng minh rằng TCNN gắn liền sự ra đời của Nhà nước và
cùng với sự xuất hiện của tiền tệ làm tiền tệ hoá các khoản thuế và chi tiêu của Nhà
nước. Bản chất của TCNN do bản chất Nhà nước quyết định, ỏ chế độ chính trị
khác nhau thì bản chất TCNN khác nhau.
Tài chính nhà nước tác động đến hoạt động và phát triển của toàn bộ nền
kinh tế xã hội, thể hiện qua quá trình phân phối và phân phối lại sản phẩm của xã
hội. TCNN đã hình thành trước so với ngân sách nhà nước (NSNN). Trong TCNN
thì NSNN là bộ phận chủ yếu, quan trọng nhất vì nó là quỹ tiền tệ lớn nhất. Qua
kênh thu, NSNN huy động và tập trung một bộ phận các nguồn tài chính trong xã
hội dưới các hình thức như: thuế và các khoản thu không mang tính chất thuế, vay
nợ của chính phủ trong và ngoài nước, viện trợ quốc tế. Qua kênh chi: Nhà nước sử
dụng NSNN để cấp phát vốn, kinh phí, tài trợ về vốn cho các tổ chức kinh tế, các
đơn vị hành chính sự nghiệp… nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã
hội trong từng thời kỳ.
Như vậy NSNN gắn liền hoạt động của Nhà nước, là một trong những công
7
cụ hết sức quan trọng, không thể thiếu được nhằm đảm bảo hoạt động nhà nước.
Nhà nước ra đời, hình thành và phát triển gắn liền hình thành chế độ sở hữu và đấu
tranh giai cấp trong quá trình phát triển xã hội loài người, mang tính tất yếu và
khách quan, do vậy NSNN cũng mang tính khách quan. Khi không còn Nhà nước
thì không còn NSNN. Và bản chất Nhà nước quyết định bản chất NSNN, nhưng
quản lý NSNN là những tổ chức và con người cụ thể nên quản lý NSNN mang tính
chủ quan. do vậy nhận thức đúng về bản chất của NSNN và vận dụng thực tiễn
nhằm nâng cao hiệu quả NSNN là cần thiết đối với mọi quốc gia, mọi cấp chính
quyền.
Khi nói về ngân sách Nhà nước, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về
ngân sách. Khái niệm về NSNN được hiểu đầy đủ theo Luật NSNN:" ngân sách
nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm".
1.1.1.2. Bản chất NSNN:
Về mặt hình thức biểu hiện có thể hiểu ngân sách là toàn bộ các khoản chi
tiêu của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
nhà nước. Các biểu hiện bên ngoài của NSNN rất phong phú rất đa dạng nhưng
cũng rời rạc; đó là bảng tổng hợp các khoản thu, khoản chi của Nhà nước, là mức
động viên các nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà nước, những khoản đóng góp
của các thành viên cho xã hội và các hình thức cấp phát của nhà nước cho các thành
viên. Tuy NSNN có biểu hiện rời rạc phân tán nhưng hoạt động của nó đều nằm
trong sự kiểm soát của Nhà nước. Các nội dung bên trong của NSNN có mối quan
hệ chặt chẽ nhau, phần lớn nguồn thu NSNN mang tính chất bắt buộc, thu không
hoàn thông qua hình thức thuế và phí, lệ phí, còn các khoản chi phần lớn mang tính
chất cấp phát không hoàn lại, trừ trường hợp góp vốn tham gia các tổ chức kinh tế.
Và chính nội dung này đóng vai trò quyết định sự tốn tại của NSNN. Chủ thế của
NSNN chính là Nhà nước.
8
Tuy nhiên, bản chất kinh tế của NSNN được hình thành từ các mối quan hệ
bên trong trong quá trình hoạt động của nó. Hoạt động của NSNN là hoạt động
phân phối các nguồn tài chính, nguồn này được chia thành hai phần là phần nộp vào
NSNN và phần để lại cho xã hội, phần nộp vào NSNN tiếp tục được phân phối cho
tiêu dùng và đầu tư và phần để lại cho xã hội cũng vậy. Vì vậy hoạt động của
NSNNN là quá trình giải quyết các quyền lợi kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể
trong xã hội, gắn liền với việc hình thành và sử dụng quỹ NSNN. Như vậy làm xuất
hiện hàng loạt các quan hệ giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể xã
hội, được thể hiện qua các khoản thu và các khoản chi của NSNN. Như vậy hệ
thống các quan hệ tài chính gắn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ NSNN tạo nên
bản chất kinh tế của NSNN, thể hiện ở các mối quan hệ chủ yếu: quan hệ kinh tế
giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp; quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị
hành chính, sự nghiệp, phát sinh trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập;
quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư; Quan hệ kinh tế giữa NSNN
với thị trường tài chính. Quản lý NSNN chính là quá trình tác động vào các mối
quan hệ trên để đạt được mục tiêu nhất định
Như vậy, mặc dù các biển hiện của NSNN rất phong phú đa dạng nhưng
thực chất chúng phản ảnh những nội dung cơ bản là:
Thứ nhất, NSNN là phạm trù kinh tế khách quan nhưng được sử dụng theo
ý định chủ quan của nhà nước;
Thứ ha , xét nội dung vật chất thì NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất
của Nhà nước, do Nhà nước quản lý, sử dụng;
Thứ ba, Xét về nội dung quản lý thì NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản
của Chính phủ, được thực hiện trong một thời kỳ( thường là một năm) có 3 đặc
trưng: tính dự toán, tính cân đối và tính thời hạn;
Thứ tư, xét về pháp lý thì NSNN là một đạo luật tài chính;
Thứ năm, quy mô của NSNN nhà nước quyết định bởi kết quả hoạt động
của nền kinh tế quốc dân.
9
Từ đó, có thể đi đến kết luận một cách toàn diện và khoa học: Bản chất
của NSNN, đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế được phát sinhtrong quá trình
phân phối bằng giá trị tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành
quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ kinh tế - xã hội của
Nhà nước trong một thời ký nhất định, thường là một năm. Nghiên cứu, nắm
vững bản chất của NSNN để thấy rõ các mối quan hệ, sự tác động qua lại của các
quan hệ để có những giải pháp quản lý NSNN hiệu quả. Quản lý NSNN ảnh hưởng
đến nhiều đối tượng, nhiều cấp chính quyền cần phải thận trọng, cơ chế chính sách
trong quản lý NSNN cần phải có sự nghiên cứu nghiêm túc, khoa học, dân chủ,
được xem xét trong các mối quan hệ thì khi áp dụng mới mang lại hiệu quả cao.
1.1.2. Cơ cấu NSNN:
NSNN là một chỉnh thể kinh tế - xã hội, bao gồm nhiều nội dung thu - cho
được sắp xếp theo một cơ cấu nhất định, nói cách khác cơ cấu ngân sách chỉ mối
quan hệ giữa các nội dung thu - chi của NSNN trong những khoản thời gian nhất
định nhằm phục vụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nuớc. Nhìn vào cơ
cấu NSNN có thể cho thông tin về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khả năng nền
kinh tế, quản lý của Nhà nước.
Mối quan hệ trong cơ cấu NSNN được thể hiện như sau:
Thứ nhất: quan hệ tổng thu và tổng chi, quan hệ tổng thu và tổng chí với
tổng sản phẩm xã hội (GDP) thể hiện quy mô ngân sách; quan hệ tốc độ tăng thu và
tăng chi với tốc độ tăng trưởng nền kinh tế…các mối quan hệ này phản ảnh trình độ
phát triển của nền kinh tế của quốc gia hoặc địa phương nên cần xác định cho một
giai đoạn phát triển, thường là 5 năm. Và xây dựng kế hoạch cần xác định tỷ lệ các
mối quan hệ một cách hợp lý khoa học đảm bảo cân đối giữa thu và chi để thực hiện
các mục tiêu mà Nhà nước đặt.
Thứ hai, Cơ cấu NSNN được xem xét trong các mối quan hệ bên trong với
nội dung cơ bản của nó là thu và chi. Ví dụ: tỉ trọng thu các khoản thuế, phi lệ, phí
trong tổng thu, đây là nguồn thu chủ yếu mang tính chất bắt buộc, nguồn này càng
10
phải chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu thì mới đảm bảo đáp ứng nhu cầu chi tiêu
của chính phủ. Quan hệ chi đầu tư phát triển và chi cho tiêu dùng hợp lý ở từng
quốc gia.
1.1.3. Chức năng của NSNN:
Chức năng NSNN được xuất phát từ bản chất của NSNN, và xuất phát từ
nguồn gốc ra đời của NSNN là Nhà nước, một Nhà nước ra đời tồn tại và phát triển
trước hết cần có nguồn tài chính đảm bảo chi tiêu cho bộ máy đồng thời chi đầu tư
đảm bảo kinh tế - xã hội phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực. Nguồn tài chính của
NSNN hình thành chủ yếu qua các khoản thu của Nhà nước, giữa thu và chi ngân
sách có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ nhau mang tính cân đối, nên chức năng của
NSNN thực hiện hai chức năng chính:
Thứ nhất, huy động các nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu
của Nhà nước.
Thứ hai, NSNN có chức năng thực hiện các khoản cân đối thu và chi băng
tiền của Nhà nước.
NSNN là bộ phận của TCNN nên bản thân nó còn có chức năng phân phối,
chức năng giám đốc và trong nên kinh tế thị trường nó còn thực hiện chức năng
điều tiết nên kinh tế vĩ mô, thông qua các công cụ của nó.
1.1.4. Vai trò của NSNN:
Vai trò của NSNN được xác định trên cơ sở bản chất, chức năng và nhiệm vụ
của NSNN trong từng giai đoạn nhất định. Vai trò của NSNN được thể hiện qua
thực hiện chức năng của nó vào hoạt động thực tiễn.
1.1.4.1. Quan điểm của các nhà kinh tế học:
Đa số các học thuyết đều thống nhất về sự cần thiết phải duy trì ngân sách
đảm bảo tiêu dùng thường xuyên của Nhà nước, nhưng lại có ý kiến khác nhau về
toàn bộ NSNN là ngân sách tiêu dùng hay ngân sách tiêu dùng chỉ là một bộ phân
của NSNN?, các nhà kinh tế học thường xuất phát từ chức năng của Nhà nước, căn
cứ vào đó để làm luận cứ xác định vai trò của NSNN.
11
Từ buổi đầu kinh tế thị trường TBCN rồi kéo dài đến thập niên của thế kỷ
XX, trường phái kinh tế học cổ điển ( Adam Smith, 1723-1790) xuất phát từ luận
điểm về chức năng nhà nước và thuyết " bàn tay vô hình" để xác lập vai trò hạn chế
của NSNN đối với nền kinh tế. Họ cho rằng Nhà nước có ba chức năng: giữ gìn hòa
bình, bảo đảm an ninh quốc phòng, duy trì trật tự an toàn xã hội; bảo vệ và cải tiến
cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng thuận lợi cho hoạt động SXKD và thương mại phát triển.
Với giả thiết thị trường cạnh tranh tự do và hoàn hảo, các quy luật kinh tế khách
quan sẽ tác động điều chỉnh hoạt động kinh tế nên việc Nhà nước sử dụng các công
cụ điều tiết nền kinh tế là sự can thiệp thô bạo vào kinh tế, sẽ gây hiệu quả tiêu cực.
Quan điểm này đã trở thành quan điểm chính thống của các nhà nước tư bản
phương tây.
Nhưng do không thể hội đủ các tố thị trường cạnh tranh tự do và hoàn hảo,
cuộc Đại khủng khoảng kinh tế của CNTB ( 1929 - 1933) và Đại chiến thế giới thứ
II đã chứng tỏ Học thuyết này tỏ ra kém hiệu nghiệm, không còn đảm bảo cho nền
kinh tế phát triển lành mạnh. Bên cạnh , sự phát triển nhanh chóng của lực lượng
sản xuất đòi hỏi phái có sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế ngày càng gia tăng.
Vì vậy, một học thuyết mới ra đời, đó là Lý thuyết trọng cầu của nhà kinh tế học
Anh John Maynard Keyner ( 1883 - 1946). Ông cho rằng, khủng khoảng kinh tế và
thất nghiệp là do chính sách lỗi thời, bảo thủ, " tự do kinh tế" gây ra, do thiếu can
thiệp nhà nước vào kinh tế, từ đó Ông cho rằng muốn có cân bằng kinh tế, Nhà
nước phải can thiệp vào kinh tế, điều tiết kinh tế vĩ mô bằng các chính sách thích
hợp nhằm kích thích và duy trì tốc độ tăng ổn định của tổng cầu, dùng lãi suất,
chính sách đầu tư "lạm phát có điều tiết" … để điều tiết nền kinh tế. Trong khoảng
thời gian khá dài (từ những năm 40 đến những năm 70 của thế kỷ XX) học thuyết
này được áp dụng ở các nước tư bản phát triển và dã đạt được những hiệu quả nhất
định.
Sau lý thuyết kinh tế của J.M. Keynes, nhiều nhà kinh tế đều cho rằng trong
quá trình phát triển của kinh tế thị trường, không thể không có vai trò can thiệp của
12
Nhà nước. Thực tế đã chứng minh được điều này. Vấn đề là phương thức, mức độ
và phạm vi can thiệp của mỗi Nhà nước là khác nhau.
1.1.4.2. Vai trò NSNN trong nền kinh tế thị trường
Ngày này, cùng với tiến trình toàn cầu hóa, khoa học công nghệ đã tác động
mạnh mẽ đến mọi đời sống kinh tế xã hội, thì càng phải có can thiệp của Nhà nước,
trong đó NSNN được xem là một những công cụ chủ yếu. Vai trò của NSNN trong
nền kinh tế thị trường hiện nay như sau:
a) Vai trò khai thác huy động nguồn tài chính đảm bảo nhu cầu chi
Hoạt động của Nhà nước luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để thỏa
mãn những nhu cầu chi tiêu thực hiện mục đích được xác định, các nhu cầu chi tiêu
phải thoả mãn từ các nguồn thu dưới các hình thức thuế và thu ngoài thuế. Đây là
vai trò lịch sử của NSNN được xuất phát từ nội tại của phạm trù tài chính mà trong
bất kỳ chế độ xã hội nào và cơ chế kinh tế nào, NSNN đều phải phát huy.
Trong huy động các nguồn lực vào NSNN cần chú ý 3 vấn đề: thứ nhất,
mức động viên vào NSNNN của các thành viên trong xã hội qua thuế, phí, lệ phí và
các khoản thu khác phải hợp lý; mức thu quá cao hay quá thấp đều có tác dụng tiêu
cực. Thứ hai, tỷ lệ động viên vào NSNN đối với tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
phải dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng giai đoạn
cụ thể, tỷ lệ này vừa phải đảm bảo hợp lý với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế,
vừa phải đảm bảo cho cơ sở sản xuất có điều kiện tích tụ vốn để tái sản xuất. Thứ
ba, các chính sách, công cụ sử dụng tạo trong thu NSNN và chi NSNN phải hợp lý,
phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, cho từng vùng kinh tế, cho
nhóm đối tượng để đảm bảo tính khả thi nhưng đảm bảo nguyên tắc thống nhất của
NSNN. Thứ tư, các nguồn lực tài chính mà NSNN cần khai thác hiệu quả, bao gồm
những nguồn lực hữu hình và các nguồn lực tài chính vô hình.
b). Vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
- Kích thích sự tăng trưởng nền kinh tế:
Để duy trì sự ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Nhà nước cần sử
dụng nhiều công cụ, trong đó có các công cụ của NSNN, chủ yếu thông qua chính
13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét