Giáo viên hướng dẫn Ths.Lê Hương Lan
Quá trình thực hiện đề tài đã vận dụng tổng hợp các phương
pháp: phương pháp kết hợp lịch sử với logic, phương pháp kết hợp
phân tích với tổng hợp, phương pháp thống kê và so sánh đồng
thời tham khảo các tài liệu và các luận văn của những lớp trước để
rút ra những kết luận có tính phổ biến chung về quá trình cho vay
DNV&N.
4. Kết cấu đề tài
Ch ¬ng 1: Những vấn đề cơ bản về tín dụng đối với DNV&N
của NHTM
Ch ¬ng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh NHN
O
&PTNT Bách Khoa
Ch ¬ng 3: Một số giải pháp nhằm mở rộng tín dụng đối với các
DNV&N tại chi nhánh NHN
O
&PTNT Bách Khoa
SV: Nguyễn Hùng Sơn 5 Lớp: Ngân Hàng 46Q
Giáo viên hướng dẫn Ths.Lê Hương Lan
Danh mục những chữ viết tắt
- NHTM: Ng ân Hàng Thương Mại
- NHN
O
&PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn
- NHNN: Ngân hàng nhà nước
- DNV&N: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
- DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
SV: Nguyễn Hùng Sơn 6 Lớp: Ngân Hàng 46Q
Giáo viên hướng dẫn Ths.Lê Hương Lan
CHƯƠNG 1
NH ƯNG VẤN Đ Ề CƠ BẢN V Ề TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
DNV&N CỦA NHTM
1.1.NHTM và vai trò của nó trong nền kinh tế.
1.1.1.Khái niệm về ngân hàng thương mại.
* Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ
thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ
một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
* Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại.
-Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động vốn,
cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn – hoạt
đông tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại – đóng vai trò quan
trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm có: Vốn chủ sở hữu và
vốn nợ
Vốn chủ sở hữu chủ yếu bao gồm có nguồn vốn góp ban đầu,
nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động có thể là do đóng góp
SV: Nguyễn Hùng Sơn 7 Lớp: Ngân Hàng 46Q
Giáo viên hướng dẫn Ths.Lê Hương Lan
thêm hoặc trích từ lợi nhuận giữ lại, các quỹ và cuối cùng là nguồn
vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần.
Vốn nợ là nguồn vốn lớn nhất mà ngân hàng có được để sử
dụng kinh doanh. Theo luật các tổ chức tín dụng, tỷ lệ an toàn vốn
tối thiểu đối với các ngân hàng thương mại là 10%, riêng có ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là 8%, tức là
nguồn vốn này có thể chiếm tới 90% tổng nguồn vốn của ngân hàng.
Vốn nợ bao gồm có:
Thứ nhất là tiền gửi của khối dân cư và các doanh nghiệp các
loại như tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm của dân
cư… Đây là nguồn vốn huy động được nhiều nhất trong số vốn huy
động được của ngân hàng. Dân cư và các doanh nghiệp nhận thấy
rằng mình có một lượng vốn không dùng đến tạm thời hoặc cũng có
thể họ có nhu cầu nhờ chi đối với ngân hàng để thuận tiện cho hoạt
động của mình nên họ quyết định gửi số tiền của mình để nhận được
khoản phần thưởng của ngân hàng cho việc đã sẵn sàng bỏ ra một
khoản tiền cho ngân hàng sử dụng. Đây là các khách hàng của ngân
hàng và đối với khách hàng mà nói thì đây cũng là một phương pháp
vừa tiết kiệm lại vừa sinh lời từ khoản tiền nhàn rỗi của mình chính
là những khoản tiền gửi.
Thứ hai, tiền gửi là nguồn vốn lớn nhất của ngân hàng nhưng
không chỉ thế, vốn nợ của ngân hàng còn được hình thành từ các
khoản tiền vay, ngân hàng thương mại có thể vay tiền ngân hàng
trung ương bằng cách chiết khầu hoặc tái chiết khấu thương phiếu.
SV: Nguyễn Hùng Sơn 8 Lớp: Ngân Hàng 46Q
Giáo viên hướng dẫn Ths.Lê Hương Lan
Các thương phiếu đã được ngân hàng chiết khấu (hoặc tái chiết
khấu) trỏ thành tài sản của họ. Khi cần tiền, ngân hàng mang những
thương phiếu này tới ngân hàng nhà nước tái chiết khấu lại, như vậy
trong ngắn hạn làm cho lượng tiến mặt trong két của ngân hàng
thương mại tăng lên đồng nghĩa với thương phiếu của họ cũng giảm
đi. Cũng có thể ngân hàng thương mại vay các tổ chức tín dụng khác
trong thị trường liên ngân hàng tuy nhiên việc đi vay các tổ chức tín
dụng khác thường ít được áp dụng hơn do chi phí của các khoản vay
này cao hơn là vay ngân hàng trung ương. Nếu vay các ngân hàng
khác thì dự trữ của ngân hàng thiếu vốn đi vay sẽ tăng lên và ngược
lại với ngân hàng thừa vốn cho vay trong ngắn hạn. Ngoài ra, ngân
hàng thương mại còn đi vay trên thị trường vốn bằng cách phát hành
các loại giấy nợ( kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn.
Nhờ vậy mà các nguồn vốn trung và dài hạn của ngân hàng có thể
tăng lên đảm bảo.
Thứ ba, ngân hàng cũng còn một lượng vốn nợ khác hình
thành từ các hoạt động như ủy thác thanh toán, nguồn trong thanh
toán và các nguồn khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả…Trong
quá trình hoạt động, ngân hàng có thể nhận được những khoản ủy
thác đầu tư, ủy thác giải ngân, ủy thác chi hộ … từ những cá nhân
hay tổ chức khác trong nền kinh tế làm cho nguồn vốn nợ của ngân
hàng tăng lên; nguồn vốn nợ cũng có thể tăng lên nhờ nguồn trong
thanh toán như khoản tiền ký quỹ trong thanh toán L/C
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng
SV: Nguyễn Hùng Sơn 9 Lớp: Ngân Hàng 46Q
Giáo viên hướng dẫn Ths.Lê Hương Lan
Đây là hoạt động phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích
nhằm đảm bảo an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của ngân hàng
thương mại.
Hoạt động sử dụng vốn quan trọng nhất là hoạt động tín dụng, bao
gồm các khoản đầu tư sinh lời của ngân hàng thông qua việc cho vay
ngắn hạn, trung và dài hạn đối với nền kinh tế. Lợi nhuận thu từ hoạt
động này là thường là cao nhất trong tổng lợi nhuận, tạo ra thu nhập
chủ yếu cho ngân hạng. Tuy nhiên, đây là hoạt động chứa đựng độ
rủi ro cao nên các ngân hàng luôn quan tâm đến chất lượng của hoạt
động này.
Ngoài ra còn các hoạt động sử dụng vốn khác như hoạt động ngân
quỹ, hoạt động đầu tư tài chính, đầu tư vào trụ sở và những trang
thiết bị kỹ thuật phục vụ quá trình hoạt động của bản thân ngân
hàng, chi phí thường xuyên cho quá trình vận hành ngân hàng.
1.1.2.3. Các hoạt động kinh doanh khác
Ngoài các hoạt động cho vay và đầu tư tạo ra lợi nhuận, ngân hàng
thương mại còn đóng vai trò là trung gian thực hiện các dịch vụ và
hoạt động ngân hàng khác theo yêu cầu của khách hàng như: dịch vụ
kinh doanh ngoại hối, dịch vụ thanh toán, thu hô, chi hộ, chuyển
tiền, ủy thác, bảo quản vật có giá, nghiệp vụ bảo lãnh, tư vấn… Các
hoạt động trung gian này có độ rủi ro thấp hơn hoạt động cho vay và
đầu tư trong khi vẫn mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Ở một
SV: Nguyễn Hùng Sơn 10 Lớp: Ngân Hàng 46Q
Giáo viên hướng dẫn Ths.Lê Hương Lan
số ngân hàng lớn trên thế giới như Citibank, HSBC thì tỷ trọng lợi
nhuận thu từ dịch vụ lên đến 20%. Ngày nay, lợi nhuận từ các hoạt
động dịch vụ này ngày càng tăng cao và chiếm vị trí quan trọng
trong hoạt động ngân hàng
1.2 Khái quát về DNV&N
1.2.1.Khái niệm DNNVV:
Phát triển DNV&N là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế -xã hội nước ta .Bởi vì sự thành đạt của các doanh nghiệp
DNNVV là khái niệm tương đối đối với doanh nghiệp lớn. Phương
thức phân loại DNNVV thường là căn cứ các chỉ tiêu chuẩn như số
lượng nhân viên, tổng số vốn, tổng tài sản, thị phần của doanh nghiệp
v.v… Vì vậy, trình độ phát triển kinh tế ở các nước là khác nhau, dẫn
đến các trị số của các chỉ tiêu trên cũng khác nhau. Do đó, khái niệm
DNNVV ở mỗi nước là không giống nhau.
Ở Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-
CP ngày 23/11/2001 tại điều 3 đã đưa ra khái niệm mới về DNN&V:
“ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không
vượt quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không
quá 300 người”.
Khu vực DNN&V ở Việt Nam hiện nay bao gồm:
- Các doanh nghiệp nhà nước có quy mô vừa và nhỏ kinh doanh
độc lập.
SV: Nguyễn Hùng Sơn 11 Lớp: Ngân Hàng 46Q
Giáo viên hướng dẫn Ths.Lê Hương Lan
- Các hợp tác xã có quy mô vừa và nhỏ đăng kí hoạt động theo
luật hợp tác xã.
- Các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh
nghiệp tư nhân có quy mô vừa và nhỏ kinh doanh độc lập đăng kí
hoạt động theo luật công ty, luật doanh nghiệp tư nhân, Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng kí hoạt động theo Nghị định số
02/2000/NĐ - CP ngày 03/02/2000 của chính phủ về đăng ký kinh
doanh.
Các DNN&V luôn chiếm số lượng lớn so với các khu vực
khác và tốc độ phát triển ngày càng tăng. Bằng chứng là cộng đồng
DNN&V có khoảng 230 000 doanh nghiệp, trong đó chiếm đến 90%
là DNN&V, đóng góp khoảng gần 30% vào GDP mỗi năm. DNN&V
cũng là đội ngũ chính cung cấp khoảng trên 30% tổng sản lượng
công nghiệp và tạo ra khoảng 40% lao động việc làm, chưa kể các
hợp tác xã, các hộ kinh doanh có thể chuyển lên được thành doanh
nghiệp.
1.2.2.Đặc điểm của DNV&N ở Việt Nam.
Các DNV&N ở Việt Nam được phát triển một cách chính thức kể
từ khi có sự ra đời của luật doanh nghiệp tư nhân, luật công ty áp
dụng từ năm 1990 và sửa đổi năm 1994. Một loạt các bộ luật khác đã
thực sự hỗ trợ cho sự phát triển của khu vực này. Theo các số liệu
thống kê cùng kết quả điều tra các tổ chức kinh tế thì đến cuối năm
SV: Nguyễn Hùng Sơn 12 Lớp: Ngân Hàng 46Q
Giáo viên hướng dẫn Ths.Lê Hương Lan
1999 số lượng các doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng thuộc
DNV&N là 43.772 doanh nghiệp chiếm 91%trong tổng số các doanh
nghiệp, trong đó DNV&N thuộc DNNN là 3.672 chiếm 64% tổng số
DNNN và số DCV&V ngoài quốc doanh là 40.100 doanh nghiệp
chiếm 94,5% trong tổng số doanh nghiệp. Trong năm 2000, số doanh
nghiệp mới được thành lập theo luật doanh nghiệp dưới dạng doanh
nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có số
vốn đăng ký trung bình trên dưới 1 tỷ đồng nên hầu hết các doanh
nghiệp này cũng có quy mô vừa và nhỏ.
Theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2006 do tổng cục thống kê
( GSO) và ngân hàng thế giới (WB) tại Việt Nam công bố ngày
6/12/2006, số lượng doanh nghiệp thực tế đang hoạt động tính đến
31/12/2005 là 113.352 doanh nghiệp, tăng 23,54% so với
31/12/2004. Trong đó, doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp
chiếm 22,55%, doanh nghiệp hoạt động trong thương nghiệp chiếm
41,59%, trong xây dựng chiếm 13,46%.
1.2.2.1. Những điểm mạnh của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Trong nền kinh tế của một quốc gia, hệ thống các doanh nghiệp
đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển và tăng trưởng. Hệ
thống các doanh nghiệp bao gồm các doanh nghiệp lớn, các
DNV&N. Mỗi loại doanh nghiệp đó đều có những điểm mạnh,
những khó khăn của mình trong quá trình hoạt động. Các doanh
nghiệp lớn họ gặp nhiều những khó khăn về mức độ rủi ro; bất lợi về
quy mô dẫn đến khả năng thay đổi mẫu mã sản phẩm, khả năng đa
dạng hóa đầu tư, kinh phí cao, kênh phân phối, khả năng xâm nhập
SV: Nguyễn Hùng Sơn 13 Lớp: Ngân Hàng 46Q
Giáo viên hướng dẫn Ths.Lê Hương Lan
thị trường; hạn hẹp trong các lĩnh vực kinh doanh; cồng kềnh về mô
hình tổ chức; khả năng hợp tác kém. Nếu như ở các doanh nghiệp
khó khăn như vậy thì ở các DNV&N họ lại có những lợi thế về
những mặt đó và đang ngày càng phát huy được những thế mạnh đó
của mình
-Năng đông, linh hoạt, tự do sáng tạo trong kinh doanh:
Do có quy mô cơ sở vật chất hạ tầng đồ sộ nên khi có một sự thay
đổi thị trường các doanh nghiệp có quy mô lớn thường kém linh hoạt
và nhanh nhậy đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng hơn là các
doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Trước sự thay đổi liên tục của thị
trường, các doanh nghiệp có thể chuyển hướng kinh doanh, thay đổi
mặt hàng nhanh chóng, đồng thời có thể tăng giàm lao động hay sử
dụng lao động thời vụ, đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Hơn
nữa, khi chuyển địa điểm sản xuất các doanh nghiệp vừa và nhỏ
không gặp khó khăn như các doanh nghiệp lớn. DNV&N có thể nắm
bắt được cả những yêu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực, địa phương.
DNV&N có thể dễ dàng chuyển đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh
doanh. Điều này càng làm cho DNV&N khai thác hết năng lực của
mình, đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.
-Vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao thu hồi vốn nhanh.
Điều này hấp dẫn nhiều cá nhân, tổ chức ở mọi thành phần kinh tế
đầu tư vào khu vực này. DNV&N có tỷ suất vốn đầu tư trên lao động
thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn, cho nên chúng có hiệu suất
tạo việc làm cao hơn.
SV: Nguyễn Hùng Sơn 14 Lớp: Ngân Hàng 46Q
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét