Công nhân kỹ thuật không bằng 20,21
Trung học chuyên nghiệp 35,27
Đại học và cao đẳng trở lên 20,32
Tổng số lao động kỹ thuật(người) 3461331
b, Việt nam có dân số trẻ :
Tỷ trọng trẻ em dưới 15 tuổi ở nước ta đã có xu hướng giảm, xong vẫn còn
ở mức cao, năm 1979 là 42,9% và năm 1989là 39,6% .Tuy nhiên tỷ trọng
người già trong dân số không quá thấp, năm 1979 là 7,05% và năm 1989 là
7,1%.Với dân số trẻ như vậy, nước ta chứa đựng một tiềm năng lao động to
lớn,cho phép tái sản xuất một cách thuận lợi, điều đó hứa hẹn một thị trường
tiêu thụ rộng lớn .Nhưng bên cạnh đó dân số trẻ tạo lên gánh nặng to lớn về y
tế, giáo dục và việc làm.
c,Dân cư phân bố không đồng đều:
Quá trình phân bố lại đang diễn ra mạnh mẽ,tình hình phân bố dân cư ở các
tỉnh Đồng Bằng Bắc Bộ từ 800-1100 người/km
2
ở thành phố Hồ Chí Minh
có 1883 người/km
2
;ở Đồng bằng sông Cửu Long có 359 người/km
2
.Sự phân
bố không đồng đều giữa các vùng dẫn đến sự mất cân đối giữa lao động và tư
liệu sản xuất để kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
d, Dân số phát triển ở mức độ cao:
Bước vào nửa sau của thế kỷ XX,dân số Việt Nam phát triển nhanh thời
kỳ 1954-1980 do tình hình chính trị ổn định, kinh tế phục hồi và phát triển,
qui luật dân số tăng lên sau chiến tranh làm cho dân số nước ta tăng lên với
tốc độ kỷ lục: 3,93%/năm .Trong thời kỳ 1979-1989,tỷ lệ dân tăng dân số
bình quân ở mức 2,1%.Với mức tăng như vậy chỉ trong vòng 30 năm nữa
dân số nước ta sẽ tăng lên gấp đôi, vào năm 2000 dân số nước ta sẽ là 80000,
trong đó lực lượng lao động là 45 triệu, tăng 10 triệu so với năm 1989.
2.Đặc điểm về thị trường lao động.
a,Áp lực lớn về việc làm:
Lực lượng lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây đã liên tục tăng
với tốc độ cao,một mặt tạo nguồn lực lớn cho phát triển đất nước nhưng mặt
khác cũng tạo ra áp lực lớn về đào tạo nghề và giải quyết việc làm.
Tác dụng cả tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế đối với
việc thu hút , chuyển dịch cơ cấu lao động, nhưng hiện thực, tốc độ chuyển
dịch cơ cấu còn rất chậm , cụ thể :Trong vòng 10 năm kể từ năm 1990-
2000,khu vực công nghiệp và dịch vụ lực lượng lao động tăng 14,2% trong
khi đó lực lượng lao động nông nghiệp chỉ giảm 4%(từ trên 72% năm 1990
xuống 68% năm 1999 ).
Những đặc điểm trên là luận chứng lý giải cho tình trạng : Thiếu việc làm
và dư thừa lao động càng trở lên bức xúc.Theo kết quả của cuộc điều tra về
5
lao động-việc làm cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ
tuổi ở khu vực thành thị trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng.Nếu
năm 1986 là 5,8% thì năm 1997 là 6,01%;năm 1998 là 6,85% và năm 1999
là7,4%(trong đó nữ chiếm 8,26%) .Đồng thời tỷ lệ lao động thất nghiệp ở
khu vực thành thị chủ yếu tập trung ở lực lượng lao động có độ tuổi từ 15-
24.Lực lượng lao động ở nhóm tuổi càng cao tỷ lệ thất nghiệp càng thất .Tỷ
lệ sử dụng thời gian thời gian lao động ở khu vực nông thôn chỉ đạt khoảng
65%-75% (thiếu việc làm khoảng 30%-35%), càng chứng tỏ cho nhận định
về tình trạng dư thừa lao động nói trên .
b, Cơ cấu về lao động bất hợp lý:
Lực lượng lao động ở Việt Nam tăng nhanh, với mức cung về số lượng lao
động lớn, xong về trình độ chuyên môn tay nghề lại rất thấp dẫn đến tình
trạng vừa thừa lại vừa thiếu ,thừa lao động phổ thông thiếu lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật .
Chất lượng lao động nước ta còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát
triển.Theo liệu điều tra,số lượng công nhân được đào tạo nghề giảm sút
nghiêm trọng,chỉ có 12% đội ngũ công nhân qua đào tạo , số công nhân
không có tay nghề hoặc thợ bậc thấp chiếm 56% và khoảng 20% lao động
công nghiệp không có chuyên môn.Số công nhân thay đổi nghề chiếm 22,7%
,nhưng chỉ có 6,31% trong số đó được đào tạo lại.Đặc biệt là ở các tỉnh miền
núi các Nông -Lâm trường trình độ văn hoá và tay nghề của công nhân thấp
hơn nhiều so với các nơi khác.Mặt khác thể lực người lao động Việt Nam
còn kém xa so với các nước trong khu vực về cân nặng và chiều cao,sức bền,
như chiều cao của người lao động Việt Nam là 1,47m, cân nặng 34,4kg so
sánh với một số nước như Philíppin là 1,53m; 45,5kg; người Nhật là 1,64m;
53,3kg.Số người không đủ tiêu chuẩn về cân nặng ở Việt Nam chiếm
48,7%.Bên cạnh đó kỷ luật lao động còn chưa cao còn mang tác phong sản
xuất công nghiệp lạc hậu.
Cơ cấu phân công lao động bất hợp lý, năng suất lao động và thu nhập
còn thấp .Nếu năm 1991 lao động nông nghiệp là72,6% năm 1995 là 69,73%
đến năm 1999 là 67,7% và đến năm 2000 dự báo khoảng 62,27% trong tổng
số lao động được thu hút vào hoạt động trong nền kinh tế.
Lao động nước ngoài làm việc chủ yếu trong các nghành nghề mà lao
động Việt Nam không đáp ứng được .Việc xuất khẩu lao động tuy có tăng
lên nhưng vẫn còn thấp,,năm 1999 xuất khẩu được hơn 30000 lao động
nhưng lại chủ yếu là lao động giản đơn.
c,Tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động còn thấp.
Ở Việt Nam, hiện nay thị trường lao động tập trung chủ yếu ở đô thị lớn:
Thành Phố Hồ Chí Minh,thủ đô Hà Nội , các Trung tâm công nghiệp mới.
6
Gần đây Tổng cục thống kê điều tra mức sống dân cư Việt Nam cho thấy
21,45% lao động so với tổng số lao động trong tuổi ở khu vực nông thôn
tham gia làm công ăn lương (quan hệ thuê mướn) trong số đó số làm công ăn
lương chuyên nghiệp là 4,29%.Con số này ở thành thị là 42,81%b và
32,75% .Lao động làm công ăn lương ở nước ta từ 3 tháng trở lên trong năm
nhìn chung còn chiếm tỷ lệ nhỏ (17% tổng số lực lượng lao động của xã hội
, trong khi đó ở các nước có nền kinh tế phát triển tỷ lệ này thường chiếm
60-80%).
Qua một số khái niệm và đặc điểm của dân số và thị trường lao động nêu
trên, ta có đủ cơ sở, lý luận thực tiễn, để đi nghiên cứu tiếp sang phần thực
trạng của vấn đề đó .Tuy nhiên để xem xét vấn đề được hoàn thiện ta phải đề
cập đến,vấn đề sự tác động của dân số đến thị trường lao động.
3.Dân số và sự tác động tới thị trường lao động.
Trong phần này em xin điểm qua một số đặc điểm chung về mối quan hệ
hay sự tác động của dân số đến thị trường lao động. Cụ thể xin nêu trong
phần thực trạng tiếp theo.
Tương ứng với tốc độ tăng dân số nhanh là sự tăng nhanh dân số trong
tuổi lao động.
Cùng với sự gia tăng dân số nguồn nhân lực cũng tăng một cách đáng
kể, nó được biểu hiện bằng những con số cụ thể sau: Hiện số người chưa
được sử dụng khá đông, chiếm khoảng 6-7 triệu người.Lực lượng hữu hình
này theo ước tính còn được bổ sung mỗi năm 20-30 vạn mỗi năm .Tỷ lệ thất
nghiệp ở thành phố còn ở mức cao: 6,08% cuối năm 1994.
Như vậy, sự tác động của dân số luôn làm cho lực lượng lao động tăng
cùng xu hướng tăng của dân số từ đó tác động gián tiếp đến thị trường lao
động.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG DÂN SỐ ,THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÚNG
I.THỰC TRẠNG VỀ DÂN SỐ
I.1.Quy mô dân số:
Để đi vào nghiên cứu khía cạnh qui mô dân số trước hết ta phải nhận
thức được rằng : Quy mô dân số là chỉ tiêu quan trọng nhất cần được nghiên
cứu trong dân số ,vì nó cho phép khái quát được tổng dân số của một
vùng ,một quốc gia một khu vực hay trên toàn thế giới.Những thông tin về
dân số cho phép ta phân tích,so sánh với các chỉ tiêu phát triển kinh tế_xã hội
như mật độ dân số ,thu nhập quốc dân bình quân đầu người,lương thực bình
quân đầu người,điện năng bình quân đầu người vv Xuất phát từ sự quan
trọng đó của việc nghiên cứu qui mô dân số,cùng với sự kết hợp việc sử dụng
7
những phương pháp khác nhau để biết được qui mô dân số,ta có được những
số liệuvà thông tin sau:
Một thực tế từ trước tới nay là: Nước ta là một nước đông dân ,qui mô
dân số lớn; Theo số liệu mới nhất,kết quả của cuộc điều tra dân số ngày
1/4/1999 nước ta có 77,263 triệu nguời và như phần đặc điểm của dân số đã
nêu,tình trạng dân số như vậy đã tác động đến lực lượng lao động và dẫn đến
hậu quả : Số lao động lên đến một con số khổng lồ với tỷ lệ người trong độ
tuổi lao động là 58,5% với khoảng 45 triệu người.Đó là một thức thách lớn
đối với nền kinh tế và là một vấn đề kinh tế xã hội nan giải.
Mặt khác kết quả điều tra dân số năm 1999 trên khẳng định xu thế giảm
mức sinh trong thập kỷ vừa qua,nhất là từ khi triển khai thực hiện chiến lược
DS-KHHGD đến nay (năm 2000) .Trong điều kiện nước ta hiện nay việc giải
quyết có đồng bộ ,từng bước về quy mô chất lượng ,cơ cấu dân số và phân bố
dân cư là nền tảng quan trọng trong chiến lược phát triển con người của
Đảng và Nhà nước,góp phần trực tiếp vào nâng cao chất lượng cuộc sống
cho nhân dân hiện tại và các thế hệ mai sau.
a.Kết quả đạt được qua sáu năm thực hiện chiến lược DS - KHHGĐ Đến
năm 2000 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 6 - 3 - 1993 nhằm thể
chế hoá một giai đoạn thưc hiện Nghị Quyết Trung Ương bốn ( khoá VII):
Việc giảm mức sinh nhanh hơn so với kế hoạch đề ra đã tạo điều kiện
thuận lợi để đạt được mục tiêu hạ tỷ lệ dân số từ 2,1% (năm 1992) xuống còn
1,5 -1,6% (năm 1999) .Quy mô dân số sẽ ở mức dưới 81 triệu người vào năm
2000 đây là một tiến bộ vượt bậc so với mục tiêu cuả ''
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét