Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

v2299

quần, nhà ở, v.v về mặt thực tiễn, tính phổ biến của con ngời biểu hiện ra
chính ở cái phổ biến toàn bộ giới tự nhiên thành thân thể vô cơ của con ngời.
Ông kết luận: "Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con ngời thì
tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên" Câu nói sâu sắc này nêu lên tính tất yếu
của sự hoà hợp giữa con ngời và tự nhiên. Nhờ hoạt động thực tiễn, con ngời
quan hệ với tự nhiên cũng có nghĩa là con ngời quan hệ với bản thân mình,
bởi tự nhiên là "thân thể vô cơ của con ngời".
Tính loài của con ngời không phải tính loài trừu tợng. Nó cũng có nghĩa
là tính xã hội, và loài ngời chính là "xã hội ngời".
Con ngời có tính xã hội trớc hết bởi bản thân hoạt động sản xuất của
con ngời là hoạt động mang tính xã hội. Trong hoạt động sản xuất, con ngời
không thể tách khỏi xã hội. Tính xã hội là đặc điểm cơ bản làm cho con ngời
khác con vật. Hoạt động của con vật chỉ phục vụ nhu cầu trực tiếp của nó,
còn hoạt động của con ngời gắn liền với xã hội và phục vụ cho cả xã hội. Xã
hội cùng với tự nhiên là điều kiện tồn tại của con ngời. Tính xã hội của con
ngời thể hiện ở hoạt động và giao tiếp xã hội. Hoạt động của con ngời không
phải hoạt động theo bản năng nh động vật mà là hoạt động có ý thức. T duy
con ngời phát triển trong hoạt động và giao tiếp xã hội, trớc hết là trong hoạt
động lao động sản xuất. Với ý nghĩa trên đây, có thể nói con ngời phân biệt
với động vật ở t duy mà ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của t duy. Bởi cơ sở của
t duy là hoạt động thực tiễn xã hội. "Những miền sâu thẳm của tâm linh"
cũng không thể có đợc nếu nh không có hoạt động mang tính xã hội và
những quan hệ xã hội của con ngời.
Nói tóm lại con ngời khác con vật về bản chất ở cả ba mặt: quan hệ với
thiên nhiên, quan hệ với xã hội, quan hệ với bản thân. Cả ba mối quan hệ đó
đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất nhất, bao
quát nhất trong mọi hoạt động của con ngời, cả trong lao động, sinh con đẻ
cái và trong t duy.
Khi C.Mác nói: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng
hoà những quan hệ xã hội", thì ta hiểu những quan hệ ấy thể hiện trong toàn
bộ hoạt động cụ thể của con ngời. Không có con ngời trừu tợng mà chỉ có
những con ngời sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại
nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất địh, nghĩa là những con ngời
cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý
thức. Chỉ trong toàn bộ những quan hệ xã hội cụ thể đó, con ngời mới bộ lộ
và thực hiện đợc bản chất thật sự của mình. Xét về bản chất của một con ngời
cũng nh của một dân tộc phải xuất phát từ toàn bộ những quan hệ xã hội ấy.
Tính xã hội của con ngời phát triển từ thấp đến cao, từ hoạt động bản
năng đến hoạt động có ý thức , cũng nh bản thân ý thức.
Con ngời không chỉ có bản năng sinh học, mà còn có bản năng xã hội.
Cái bản năng xã hội đã bắt đầu nhen nhóm trong những tập đoàn động vật,
đặc biệt là tập đoàn khỉ, nó tạo nên tính xã hội của những động vật ấy. Cách
đây hàng triệu năm trong sự tiến hoá của một số loài khỉ thì cái bản năng xã
hội hay tính xã hội phát triển và bao trùm từng bớc cái bản năng sinh học. Vì
vậy, "bản năng xã hội là một trong những đòn bẩy quan trọng nhất của sự
phát triển của con ngời từ khỉ" bản năng xã hội của con ngời là bản năng có ý
thức.
Lao động lúc mới phát sinh và phát triển từ tổ tiên loài vợn thì dĩ nhiên
là tiến hoá theo bản năng, nhng khi ý thức và ngôn ngữ đã xuất hiện và phát
triển thì lao động trở thành lao động có tính chất xã hội.
ở mỗi bớc tiến lên của lao động xã hội, của tiếng nói và ý thức , lại hình
thành ra những con ngời mới của hoạt động liên hệ thần kinh trong vỏ não.
Và trên cơ sở ấy thì lựa chọn tự nhiên cố định trên một cơ cấu di truyền trên
vỏ não, làm cho con đờng liên hệ thần kinh mới xuất hiện trong thực tiễn lao
động.
Tầng trên của vỏ não ngời chính là ở di truyền của bản năng lao động xã
hội của con ngời nguyên thuỷ mà c.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận định là bản
năng có ý thức. Do đó, bản năng lao động xã hội với t cách là bản năng có ý
thức, chính là chức năng cơ bản của tầng trên vỏ não ngời.Đấy là cái vốn di
truyền đã đợc xây dựng trong sự tiến hoá từ tổ tiên vợn lên ngời, thông qua
nhiều bớc nhảy vọt. Mỗi bớc nhảy vọt này là kết quả của sự phát triển của lao
động xã hội ở giai đoạn trớc trong quá trình trở thành ngời. Dĩ nhiên kết quả
đó phải có những điều kiện tự nhiên nhất định.
Lao động xã hội quyết định đời sống con ngời, nên bản năng sinh vật đ-
ợc thu hút và hội nhập vào bản năng lao động xã hội, cái bản năng xã hội đặc
thù của con ngời.
Khi C.Mác chỉ ra rằng bản chất con ngời, trong tính hiện thực của nó, là
tổng hoà mối quan hệ xã hội thì ông không dừng lại ở bản năng sinh vật của
con ngời. C.Mác nói đến con ngời là nói đến con ngời hiện thực, nói đến bản
năng xã hội của con ngời trong mọi quan hệ của đời sống.
2. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có vị trí quan trọng đặc biệt
trong học thuyết của Mác. Các tác phẩm của các nhà kinh điểm Mác - Lênin
đã đề cập đến vấn đề này một cách toàn diện, sâu sắc có hệ thống trên cơ sở
chủ nghĩa duy vật lịch sử.
2.1.Khái niệm cá nhân và xã hội.
Khái niệm cá nhân chỉ con ngời cụ thể sống trong một xã hội nhất định
với t cách một cá thể, một thành viên của xã hội ấy; do những đặc điểm riêng
biệt của mình mà phân biệt với những thành viên khác của xã hội.
Xã hội bao giờ cũng do các cá nhân hợp thành, những cá nhân này sống
và hoạt động trong những nhóm, cộng đồng, tập đoàn xã hội khác nhau do
điều kiện lịch sử cụ thể quy định. Bất cứ xã hội nào cũng đợc cấu thành
không phải bởi những con ngời trừu tợng mà bởi những con ngơì cụ thể,
những cá nhân sống.
Mỗi cá nhân là một cái đơn nhất mang những đặc điểm riêng phân biệt
với các cá nhân khác không chỉ về mặt sinh học mà chủ yếu về mặt những
quan hệ xã hội, những quan hệ này vô cùng phức tạp, rất cụ thể và có tính
lịch sử. Mỗi cá nhân có đời sống riêng, có những " quan hệ xã hội" của riêng
mình không hoàn toàn giống quan hệ xã hội của các cá nhân khác, có kinh
nghiệm riêng, có nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng riêng. Tuy nhiên, các cá nhân
trong một xã hội nhất định dù khác biệt nhau đến đâu, đều mang cái chung;
họ đều là thành viên của xã hội, đều mang bản chất xã hội, không thể sống
ngoài xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp đều do các cá nhân - thành viên
của giai cấp hợp thành. Mỗi cá nhân trong một giai cấp, vừa mang bản chất
chung của con ngời và loài ngời, vừa mang bản chất một giai cấp nhất định,
đồng thời có những đặc điểm riêng làm có cá nhân này không giống cá nhân
khác. Cần có sự phân biệt cá nhân với cá thể ngời. Một con ngời mới lọt lòng
cha có ý thức, cha có những quan hệ xã hội thật sự, cha thể gọi là một cá
nhân. Chỉ khi nào có ngời có ý thức, có thế giới nội tâm riêng, có những quan
hệ xã hội riêng, con ngời đó mới trở thành một cá nhân đúng nghĩa khái niệm
này.
2.2. Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
Trong bất cứ xã hội nào, cá nhân cũng không tách rời xã hội. Cá nhân là
hiện tợng có tính lịch sử. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội biến đổi trong sự
phát triển của lịch sử. Mối quan hệ đó trong xã hội cổ đại không giống trong
xã hội trung đại,xã hội cận đại. Điều đó không chỉ liên quan tới trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất, trình độ văn hoá, văn minh, mà liên quan tới sự
thay đổi của phơng thức sản xuất, của hình thái kinh tế - xã hội. Chỉ khi thay
đổi hình thái kinh tế - xã hội thì quan hệ cá nhân - xã hội mới có thay đổi căn
bản.
* Trong xã hội nguyên thuỷ, quan hệ giữa cá nhân và xã hội không có
đối kháng. Lợi ích cá nhân phụ thuộc trực tiếp vào lợi ích sống còn hàng
ngày của cộng đồng. Mỗi con ngời của xã hội nguyên thuỷ cha trở thành
những cá nhân theo nghĩa đầy đủ của nó. Trong xã hội này không những lợi
ích cá nhân mà vai trò của cá nhân cũng "tan biến" trong cộng đồng.
* Đến khi xã hội phát triển sang giai đoạn mới cao hơn, xã hội phân
chia thành các giai cấp đối kháng, xuất hiện hình thái mới trong quan hệ cá
nhân - xã hội: Giữa cá nhân và xã hội vừa có thống nhất vừa có mâu thuẫn
sâu sắc. Những con ngời thuộc giai cấp bị bóc lột nh nô lệ, nông nô, vô sản
thiếu những điều kiện xã hội để trở thành những cá nhân thật sự. Mỗi con ng-
ời thuộc các giai cấp ấy không thể khẳng định cá nhân mình trên cơ sở làm
chủ hoạt động lao động cũng nh những thành quả lao động của mình. Các
thành viên giai cấp thống trị, là những con ngời mới có đặc quyền, đặc lợi đ-
ợc khẳng định với t cách cá nhân và trở thành kiểu cá nhân đặc trng của thời
đại (chẳng hạn cá nhân phong kiến, cá nhân t sản )
* Trong xã hội t bản, giai cấp t sản nói nhiều đến cá nhân, cá tính, tự do
cá nhân , thực chất là nói đến cá nhân t sản. C.Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ
rõ, trong lao động làm thuê, ngời vô sản mất hết cá tính. Lợi ích của giai cấp
t sản, của xã hội t bản đối lập với lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích
cánhân ngời công nhân.
Chủ nghĩa t bản càng phát triển càng làm cho con ngời bị tha hoá. Ngời
công nhân gánh chịu mọi hậu quả nặng nề của sự tha hoá. Kết quả hoạt động
của con ngời, của ngời công nhân, ngày càng biến thành một lực lợng thoát
ra khỏi con ngời, xa lạ với con ngời, thống trị lại con ngời, thù địch với con
ngời, lực lợng đó là t bản. Các điều kiện lao động của ngời công nhân đối lập
lại ngời công nhân. Trong những điều kiện đó, tự do của ngời lao động chỉ
mang tính hình thức, cá nhân con ngời không thể có sự phát triển hài hoà và
toàn diện. Điều kiện sống và làm việc của công nhân càng tồi tệ hơn khi họ
mất việc làm; khi đó ngời lao động càng không thể khẳng định mình với t
cách cá nhân. Chỉ khi nào các đối kháng giai cấp toàn xã hội đã bị xoá bỏ,
khi ngời lao động thực sự làm chủ các điều kiện vật chất của lao động, họ
mới thật sự trở thành ngời lao động tự do. Và cá nhân ngời lao động, với t
cách con ngời mới đợc khẳng định.
Chủ nghĩa xã hội không "thủ tiêu cá nhân" nh giai cấp sản nói, trái lại
tạo những điều kiện xã hội cần thiết cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá
nhân, làm cho mỗi cá nhân phát huy cao độ năng lực của mình, bản sắc của
mình trong cuộc sống riêng t cũng nh xây dựng một xã hội mới nhân bản,
công bằng, văn minh, một xã hội trong đó lợi ích cá nhân và các lợi ích xã
hội không đối lập nhau mà thống nhất với nhau, là tiền đề và điều kiện của
nhau.
3. Vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử và sự nghiệp
phát triển.
Con ngời sáng tạo ra lịch sử của mình. Song vai trò quyết định đối với
sự phát triển xã hội là ở một số cá nhân đặc biệt hay quần chúng nhân dân
đông đảo?
Trớc khi chủ nghĩa Mác ra đời, triết học duy tâm và triết học duy vật
đều không hiểu đúng đắn vai trò của quần chúng và mối quan hệ giữa quần
chúng và cá nhân trong lịch sử.
Của nghĩa Mác Lênin đã chứng minh một cách khoa học vai trò
quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử và xác định đúng đắn mối
quan hệ giữa vai trò cá nhân và vai trò quần chúng trong lịch sử phát triển xã
hội.
3.1. Vai trò của quần chúng.
Quần chúng nhân dân là ngời sáng tạo chân chính của lịch sử. Vai trò
của quần chúng nhân dân thể hiện ở những mặt sau đây:
* Quần chúng nhân dân là lực lợng sản xuất cơ bản của xã hội.
Con ngời muốn sống, xã hội muốn tồn tại, thì trớc hết phải có thức ăn,
vật dùng, nhà ở Để đáp ứng những nhu cầu đó, ngời ta phải không ngừng
sản xuất. Sản xuất vật chất là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại và phát
triển của xã hội. Lực lợng sản xuất phát triển dẫn tới sự thay đổi về mặt ph-
ơng thức sản xuất và toàn bộ đời sống xã hội. Đó là cơ sở để khẳng định hoạt
động sản xuất của quần chúng là điều kiện cơ bản để quyết định sự tồn tại và
phát triển của xã hội, do đó, quần chúng nhân dân là ngời sáng tạo chân
chính ra lịch sử.
* Quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của moi cuộc cách mạng xã
hội.
Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ
sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng, giữa giai cấp
thống trị và giai cấp lao động, bị trị. Khi quan hệ sản xuất đã trở thành xiềng
xích của lực lợng sản xuất thì cần có các cuộc cách mạng xã hội để xoá bỏ
quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới, giải phóng lực lợng sản
xuất , hình thành phơng thức sản xuất mới cao hơn. Quần chúng nhân dân
bao giờ cũng là lực lợng cơ bản của cách mạng đóng vai trò quyết định thắng
lợi của các cuộc cách mạng. Trong các cuộc cách mạng vĩ đai làm thay đổi
hình thái kinh tế xã hội, quần chúng nhân dân tham gia đông đảo, tự giác,
tích cực thì cách mạng mới có thể giành thắng lợi. Cách mạng là ngày hội
của quần chúng, là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải sự nghiệp riêng
của một số cá nhân.
* Quần chúng nhân dân có vai trò to lớn, không thể thay thế, trong sản
xuất tinh thần.
Quần chúng nhân dân chẳng những đóng vai trò quyết định trong sản
xuất vật chất, trong cách mạng xã hội mà còn đóng vai trò vô cùng to lớn
trong sự phát triển văn học, nghệ thuật, khoa học, v.v
Quần chúng nhân dân đóng vai trò quyết định trong sự phát triển lịch
sử, nhng vai trò đó trong từng thời kỳ cụ thể không giống nhau. Vai trò ấy đ-
ợc phát huy cao độ một khi đông đảo quần chúng thoát khỏi sự trói buộc của
những t tởng phản động, phản khoa học, những tập quán lạc hậu và đợc giác
ngộ những t tởng khoa học và cách mạng. Do đó, C.Mác nói: T tởng một khi
thâm nhập vào quần chúng sẽ biến thành lực lợng vật chất. Đó là những t t-
ởng phản ánh đúng quy luật khách quan của lịch sử, phản ánh đúng ý nguyện
và lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng, chỉ ra đợc những nhiệm vụ lịch
sử đã chín muồi mà quần chúng nhân dân cần thực hiện.
Tóm lại, xét từ kinh tế đến chính trị, từ thực tiễn đến tinh thần t tởng, thì
quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử.
3.2. Vai trò của cá nhân, cá nhân u tú lãnh tụ.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, vai trò của quần chúng và
vai trò cá nhân trong lịch sử không tách rời nhau, trái lại có quan hệ khăng
khít với nhau. Cá nhân u tú, lãnh tụ kiệt xuất là sản phẩm của thời đại, đại
diện cho lợi ích và ý chí của quần chúng, và chỉ những cá nhân nh thế mới đ-
ợc quần chúng công nhận là ngời lãnh đạo thực sự của họ. Cá nhân u tú, lãnh
tụ kiệt xuất la sản phẩm, là con đẻ của phong trào quần chúng nên sức mạnh
của họ, trí tuệ của họ bắt nguồn từ quần chúng nhân dân.
Chủ nghĩa Mác Lênin đánh giá rất cao vai trò của cá nhân anh hùng
của lãnh tụ trong sự phát triển của lịch sử, nhng kiên quyết chống lại tệ sùng
bái cá nhân.
Tệ sùng bái cá nhân, thần thánh hoá cá nhân ngời lãnh đạo, sẽ đi đến
chỗ chỉ thấy vai trò quyết định tất cả của cá nhân ngời lãnh đạo, mà không
thấy hoặc xem nhẹ vai trò của lãnh đạo tập thể và của quần chúng. Tệ sùng
bái cá nhân, dẫn đến hạn chế hoặc tớc bỏ quyền làm chủ của quần chúng,
làm cho quần chúng thiếu tin vào lực lợng của bản thân họ, làm cho họ có
thái độ phục tùng tiêu cực, mù quáng, không phát huy đợc tính năng động
sáng tạo của họ trong sự nghiệp cách mạng.
Khi giai cấp vô sản đã giành đợc chính quyền mà có những ngời lãnh
đạo a thích và chấp nhận sự sùng bái cá nhân thì sẽ gây ra những tổng thất
không thể lờng đợc cho sự nghiệp cách mạng.
Tệ sùng bái cá nhân tạo ra nhiều hiện tợng tiêu cực nh thái độ xu nịnh,
quan liêu, gia trởng, hành động tham nhũng cũng nh mọi tệ hại khác. Nó phá
hoại nghiêm trọng các thành qua các mạng của Đảng và nhân dân.
C.Mác và Ph.Ăngghen , V.I. Lênin, trong cả cuộc đời mình, luôn luôn là
những con ngời khiêm tốn, chân thành, không hề tách ra khỏi quần chúng
nhân dân, mặc dù họ là những con ngời, những nhà lãnh tụ tài giỏi, đợc quần
chúng yêu mến, tôn kính.
Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam suốt đời đã gắn
với quần chúng nhân dân. Lòng yêu thơng vô hạn của ngời đối với quần
chúng gắn liền với lòng tin vô hạn đối với lực lợng và trí tuệ của quần chúng.
Ngời luôn khuyên bảo cán bộ đảng viên phải gắn bó với quần chúng, học hỏi
quần chúng, phải xứng đáng là ngời lãnh đạo, ngời đầy tớ thật trung thành
của nhân dân.
II- Vấn đề con ngời trong sự nghiệp cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
1. Vấn đề con ngời trong mục tiêu cách mạng của Đảng Việt Nam.
Mục tiêu cách mạng của Đảng Việt Nam và nhân dân Việt Nam là đem
lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho cả cộng đồng và mỗi thành viên của cộng
đồng với t cách cá nhân. Trong quá trình đổi mới, quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc, Đảng Vịêt Nam, Nhà nớc Việt Nam thực hiện các chủ
trơng, giải pháp kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội phục vụ lợi ích của toàn xã
hội, của cộng đồng, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, phát triển mạnh mẽ
vững chắc kinh tế, văn hoá, từng bớc thực hiện công bằng xã hội đó là lợi ích
cơ bản của nhân dân ta. Lợi ích chung đó không mâu thuẫn với lơi ích cá
nhân mà là cơ sở của lợi ích cá nhân. Chủ trơng của Đảng và Nhà nớc Việt
Nam động viên toàn thể cộng đồng phấn đấu vì lợi ích chung, đồng thời quan
tâm thích đáng những lợi ích cá nhân chân chính. Trong mỗi bớc đi của cách
mạnh, chỉ có kết hợp hài hoà lợi ích của toàn xã hội, đồng thời phát huy đợc
tính tích cực sáng tạo của mỗi cá nhân. Muốn đợc nh vậy, cần phải kết hợp
chặt chẽ giữa sự phát triển kinh tế với từng bớc thực hiện công bằng xã hội.
Phải kết hợp hài hoà giữa giải phóng xã hội với giải phóng cá nhân. Phát huy
nhân tố con ngời có nghĩa là đồng thời phát huy nhân tố cộng đòng và nhân
tố cá nhân.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngày dới chế độ xã hội
chủ nghĩa vẫn có những mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội. Để giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội cần tránh hai thái độ cực đoan:
Một là, chỉ thấy cá nhân mà không thấy xã hội, đem cá nhân đối lập với
xã hội, đòi hỏi thoả mãn những yêu cầu cá nhân không phù hợp hoặc cha phù
hợp với lợi ích của xã hội và với điều kiện chung của xã hội, chỉ đòi hỏi xã
hội mà không thực hiện nghĩa vụ đối với xã hội. Đó là chủ nghĩa cá nhân cần
phê phán. Những ngời tuyệt đối hoá cái cá nhân đã không nhận thức rõ rằng
nếu không đảm bảo những lợi ích cơ bản của xã hội thì không thể thực hiện
đợc lợi ích cá nhân chân chính.
Hai là, chỉ thấy xã hội mà không thấy cá nhân.Khuynh hớng này biểu
hiện ở chỗ quan niệm sai lầm về lợi ích xã hội, về chủ nghĩa tập thể, thực
chất là t tởng của chủ nghĩa bình quân dẫn đến thiếu sự quan tâm thiết thực
lợi ích cá nhân, coi nhẹ việc hình thành và phát huy bản sắc cá nhân, tài năng
cá nhân, xem thờng các nguyện vọng, tâm t, ý kiến của cá nhân; không thấy
rằng sự phát triển của một xã hội là do kết quả đóng góp tích cực sáng tạo
của mọi cá nhân trong xã hội đó. C.Mác nhận định: xã hội là sản phẩm
của sự tác động lẫn nhau giữa ngời với ngời và Lịch sử xã hội của ngời ta
bao giờ cũng chỉ là lịch sử phát triển cá nhân của họ xã hội càng phát triển
thì những yêu cầu, nguyện vọng, khuynh hớng phát triển của cá nhân càng đa
dạng. Không quan tâm giải quyết những vấn đề đó chẳng những làm suy yếu
động lực của sự phát triển xã hội mà còn làm cho đời sống xã hội trở thành
nghèo nàn, đơn điệu, không phù hợp với bản chất của chủ nghĩa xã hội.
2. Xây dựng con ngời mới xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới.
Đối với giai cấp công nhân, Đảng cần có những biện pháp cụ thể nhằm
nâng cao giác độ xã hội chủ nghĩa và trình độ hiểu biết về mọi mặt ddể xứng
đáng với vị trí giai cấp tiên phong của cách mạng, đồng thời chăm lo đời
sống vật chất và văn hoá, tạo ra những điều kiện cần thiết để giai cấp công
nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình; có chế độ tiền lơng và phúc lợi
xã hội hợp lý, bảo đảm đời sống vật chất và văn hoá của công nhân, viên
chức và gia đình. Đảng cần tổng kết kinh nghiệm và ra nghị quyết về xây
dựng giai cấp công nhân. Nhà nớc cần bổ sung Luật công đoàn.
Đối với nông dân, phải giải quyết tốt quan hệ giữa nghĩa vụ đóng góp
cho đất nớc và quyền lợi của nông dân. Nhà nớc phải soát lại các chính sách
quan hệ đến nông dân, bãi bỏ những chính sách không đúng.
Đối với trí thức, điều quan trọng nhất là bảo đảm quyền tự do sáng tạo.
Đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện cho năng lực đợc sử dụng đúng và
phát triển. Phá bỏ những quan niệm hẹp hòi, không thấy tầng lớp trí thức
ngày nay là những ngời lao động xã hội chủ nghĩa, đợc đảng giáo dục và lãnh
đạo, ngày càng gắn bó chặt chẽ với công nhân, nông dân.
Thanh niên, phải đợc bảo đảm việc làm khi bớc vào đời và đợc quan
tâm giáo dục về nhân cách, bản lĩnh và lý tởng theo phơng châm sống chiến
đầu, lao động và học tập theo gơng Bác Hồ vĩ đại. Phải có ý thức đầy đủ
rằng chính thanh niên là ngời có sứ mệnh lịch sử xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội. Mạnh dạn giao trách nhiệm cho thanh niên, và thông qua các
hoạt động xã hội mà đào tạo và bồi dỡng họ. Thiếu niên và nh đồng phải đợc
học tập và chăm sóc trong tình thơng của gia đình và xã hội. Các cấp bộ
Đảng và đoàn thanh niên phải chăm lo xây dựng Đội thiếu niên tiền phong
Hồ Chí Minh.
Phụ nữ nói chung, và lao động nữ nói riêng, có những đặc điểm cần đợc
chú ý. Để phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghệp cách mạng, cần
làm cho đờng lối vận động phụ nữ của Đảng đợc thấu suốt trong cả hệ thống
chuyên chính vô sản, đợc cụ thể hoá thành chính sách, luật pháp. Các cơ
quan Nhà nớc, với sự phối hợp của các đoàn thể, cần có biện pháp thiết thực
tạo thêm việc làm, đào tạo và bồi dỡng cán bộ nữ, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ,
trẻ em, thực hiện đúng Luật hôn nhân và gia đình. Tạo điều kiện cho phụ nữ
kết hợp đợc nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình
hạnh phúc.
Đảng cầng tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết và đấu tranh cách
mạng kiên cờng, dũng cảm của các dân tộc thiểu số ở nớc ta nhằm củng cố
và nâng cao thêm một bớc khối đoàn kết các dân tộc, hớng vào việc xây dựng
miền núi giàu mạnh, thực hiện thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng

Xem chi tiết: v2299


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét