N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 5
nhiên, trong đàu tư thì lợi nhuận và rủi ro tương quan tỉ lệ thuận với nhau, chính vì vậy các nhà
đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như chấp
nhận rủi ro của mình mà không thể san sẻ cho bất cứ ai.
1.2.Nhà đầu tư có tổ chức
Nhà đầu tư có tổ chức hay còn gọi là các định chế đầu tư, thuờng xuyên mua bán chứng
khoán với số luợng lớn.Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp chính trên thị trường chững khoán là
các công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác.
Ngúôn vốn chủ yếu của nhà đầu tư có tổ chức là vốn huy động từ nhiều cổ đông với mục
đích kinh doanh chứng khoán trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 5 năm) để thu về
lợi nhuận.
Đầu tư thông qua tổ chức đầu tư có ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hoá danh mục đầu tư
và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm.
Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty tài chính.Các công ty này được
phép kinh doanh chứng khoán, có thể sử dụng nguồn vốn của mình để đầu tư vào chứng khoán
với mục đích sinh lời.Bên cạnh đó có các công ty chứng khoán, các Ngân hàng Thương mại cũng
có thể trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ mua chứng khoán cho chính mình.
2. Căn cứ vào trình độ của các nhà đầu tư:
Nhà đầu tư chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp.
2.1. Nhà đầu tư không chuyên nghiệp ( nhà đầu tư nghiệp dư)
Là những nhà đầu tư không có quy mô tổ chức và chuyên môn cao trong lĩnh vực đầu tư
chứng khoán, nắm số lượng cổ phiếu ít và khả năng tíêp cận thông tin thấp hơn so với các nhà
đầu tư chuyên nghiệp.
2.2. Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp:
Theo quy định tại khoản 10 Điều 6 Luật chứng khoán thì nhà đầu tư chuyên nghiệp là các
ngân hàng thuơng mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm
và các tổ chức kinh doanh chứng khoán.Sở dĩ gọi đây là các nhà đầu tư chuyên nghiệp bởi lẽ các
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 6
tỏ chức này có khả năng tiếp cận những thông tin về chứng khoán nhanh nhạy, có mạng lưới rộng
khắp và có khả năng phân tích thông tin tốt hơn các nhà đầu tư không chuyên khác.Các quyết
định đầu tư ở đây đều được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm.
3. Căn cứ vào quốc tịch: Nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài:
Căn cứ vào quốc tịch của nhà đầu tư, có thể chia thành 2 nhóm là nhà đầu tư trong nước và
nhà đầu tư nước ngoài với những quy phạm pháp luật, chế độ pháp lý riêng biệt điều chỉnh, phù
hợp với từng nhóm.
3.1. Nhà đầu tư nước ngoài:
Theo Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg ngày 15 tháng 04 năm 2009 về tỉ lệ tham gia của nhà
đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm các tổ
chức, cá nhân sau đây:
• Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của tổ chức này
tại nước ngoài và tại Việt Nam.
• Tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài
trên 49%.
• Quỹ đầu tư, công ty đầu tư chứng khoán có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài
trên 49%.
• Cá nhân nước ngoài là người không mang quốc tịch Việt Nam, cứ trú tại nước ngoài hoặc
tại Việt Nam.
Theo Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam
ban hành theo Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC ngày 24 tháng 12 năm 2008, nhà đầu tư nước
ngoài bao gồm:
• Cá nhân là người có quốc tịch nước ngoài, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam,
bao gồm cả người gốc Việt Nam có quốc tịch nước ngoài.
• Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của tổ chức
này, bao gồm cả chi nhành hoạt động tại Việt Nam.
• Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước
ngoài và các chi nhánh của tổ chức này.
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 7
• Quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và các quỹ đầu tư thành
lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài.
• Các trường hợp khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Theo quy định tại Khoản 5, Khoản 12, Khoản 13 Luật Đầu tư 2005, nhà đầu tư nước ngoài
được quy định là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam
bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư. Đầu tư nước ngoài là việc
nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành
hoạt động đầu tư.
3.2. Nhà đầu tư trong nước:
Là tổ chức, cá nhân trong nước bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Đầu tư
trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến
hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh
tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động đầu
C. QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CƠ BẢN
CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ
1. Quyền và lợi ích chung:
1.1. Quyền tham gia tiếp cận thị trường
Đầu tư chứng khoán luôn là phương thức đầu tư hiệu quả với những khoản lợi nhuận lớn.
Tuy nhiên, thị trường chứng khoán cũng là nơi chứa đựng rất nhiều rủi ro. Nhà đầu tư chứng
khoán phải tỉnh táo và tận dụng tối đa quyền lợi của mình để thu được lợi nhuận như mong muốn
Quyền tham gia tiếp cận thị trường thể hiện ở việc các nhà đầu tư có quyền tìm hiểu về thị
trường chứng khoán mà họ muốn đầu tư (vào việc mở tài khoản kinh doanh chứng khoán, chuyển
tiền vào tài khoản, giao tiếp với nhân viên công ty chứng khoán, tiêu chuẩn niêm yết… để giao
dịch được thực hiện)
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 8
Khi tham gia thị trường chứng khoản, các nhà đầu tư cần biết rõ về đối tượng trung gian tài
chính hỗ trợ công việc của các nhà đầu tư, thường quen thuộc nhất là các công ty chứng khoán.
Tìm hiểu về kỹ về công ty tài chính trung gian mà mình định sử dụng dịch vụ là một cách thức tốt
để yên tâm đầu tư. Các yếu tố tìm hiểu chẳng hạn như: công ty đó có được đánh giá tốt về uy tín
không, nhân viên phục vụ khách hàng tận tình không, khi có tranh chấp hoặc phàn nàn chất lượng
thì nhận được phản hồi ra sao.
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trung gian tài chính đông đảo nhất và cũng là đối
tượng được các nhà đầu tư quan tâm nhất đó chính là các công ty chứng khoán mà trong đó nhân
viên môi giới là những người sẽ tiếp xúc trực tiếp với các nhà đầu tư. Việc Ủy bàn chứng khoán
nhà nước ban hành quy định mới về mẫu đơn đăng ký mở tài khoản giao dịch trong đó có thêm
một số đề mục như: Người tư vấn chỉ định, Mục đích đầu tư, Mức thu nhập, Mức độ chấp nhận
rủi ro kèm theo kế hoạch định hướng về việc quy định số lượng tài khoản khách hàng mà một
nhân viên môi giới được phép quản lý đã tăng cường sự linh hoạt của nhà đầu tư trong việc lựa
chọn sử dụng các dịch vụ tư vấn tài chính. Điều đó cũng đòi hỏi các nhà đầu tư phải có một sự
đánh giá tương đối đầy đủ và chính xác về đối tượng cung cấp dịch vụ tài chính.
Như vậy, Việc tìm hiểu kỹ lưỡng về thị trường chứng khoán có tác dụng giúp các nhà đầu tư
sáng suốt trong việc lựa chọn hướng đầu tư, tránh mắc phải những sai lầm đáng tiếc khi chưa
thực sự có những kiến thức cơ bản khi tham gia vao thị trường đầy rủi ro này
1.2. Quuyền tiếp cận thông tin:
Thị trường chứng khoán hình thành thì tất yếu thị trường thông tin phải xuất hiện, gần nhất
là các thông tin về chủ thể phát hành chứng khoán với khả năng tài chính, năng lực kinh doanh,
tiềm năng phát triển trong tương lai…hay về giá chào mua,chào bán, số lượng lệnh, khối lượng
của mỗi lệnh.Thông tin có sự ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên thị trường chứng khoán.Có
thông tin, các nhà đầu tư mới có thể phân tích tình hình, diễn biến của thị trường chứng khoán, từ
đó nắm bắt được các xu hương về giá của chứng khoán và cuối cùng là đưa ra các quyết định
mua hay bán chứng khoán vào thời điểm hợp lý. Chình vì sự quan trọng như thế của thông tin
đối với nhà đầu tư cho nên được tiếp cận thông tin là 1 quyền cơ bản của các nhà đầu tư. Nếu
không có quyền năng này, nhà đầu tư sẽ không còn niềm tin vào chứng khoán vì 1 lẽ dĩ nhiên
không ai muốn đầu tư vào 1 thứ mình không biết rõ, rủi ro sẽ vô cùng lớn; cũng như sẽ không
tạo ra sự thu hút đối với nhà đầu tư và cũng không thể có 1 thị trường chứng khoán phát triển.
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 9
Một khi tiếp cận thông tin trở thành quyền đối với nhà đầu tư, thì nó sẽ là nghĩa vụ đối với các
chủ thể phát hành chứng khoán, của các công ty chứng khoán, các sở giao dịch chứng khoán và
của cơ quan quản lý thị trường chưng khoán.
Quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư được biểu hiện như thế nào?
• Quyền được tiếp cận với các báo cáo tài chính hàng năm và các thông tin bất thường của
các công ty phát hành chứng khoán.Theo khoản 2 Điều 101 LCK 2006 các công ty phát
hành chứng khoán( cụ thể là các công ty đại chúng) phải thông báo các sự kiện bất thường
trong vòng 24h, kể từ khi xảy ra các sự kiện.
• Quyền được tiếp cận các thông tin về báo các tài chính quý, về tổn thất tài sản có giá trị từ
10% vốn chủ sở hũư trở lên, các thông tin theo quy chế của sở giao dịch chứng khoán,
trung tâm giao dịch chứng khoán của các tổ chức niêm yết.
• Quyền được tiếp cận các thông tin về báo cáo tài chính năm, về các sự kiện bất thường
theo khoản 2 Đ104 của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ. Theo khoản 4 điều
này, các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải công bố thông tin theo yêu cầu
của UBCKNN khi có thông tin liên quan đến công ty có ảnh hưởng nghiêm trọng đếb lợi
ích hợp pháp của Nhà đầu tư.
• Quyền được tiếp cận với các thông tin về báo cáo tài sàn hàng năm cũng như các sự kiện
bất thường được quy định tại khoản 3 điêfu 105LCK của các quỹ đại chúng. Theo khoản
4 điều này khhi có tin đồn ảnh hưởng đến việc chào bán, giá chứng chỉ quỹ đại chúng hay
cso sự thay đổi bất thường về giá và khối lượng giao dịch chứng chỉ quỹ đại chúng thì
quỹ đại chúng phải công bố thông tin theo yêu cầu của UBCKNN.
• Sở giao dịch chứng khoán và trung tâm giao dịch chứng khoán là những cơ quan có chức
năng quan trọng đối với các hoạt động chứng khoán. Do đó những thông tin từ các cơ
quan này cũng cso ảnh hưởng lớn và mạnh tới quyết điịnh đầu tư của các nhà đầu tư. Vì
vậy sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán cũng có nghĩa vụ phải
công bố các thông tin về giao dichj chứng khoán tại SGDCK và TTGDCK; các thông tin
về tổ chức niêm yết tại SGDCK,TTGDCK; các thông tin về công ty chứng khoán, công ty
quản lỹ quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán; và các thông tin về
giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán.
Tiếp cận thị trường bằng những phương tiện gì? Điều này tuỳ thuộc vào các nhà đầu tư. Khi
công nghệ số đã phát triển với những kỹ thuật vượt bậc, các nhà dầu tư có thể tìm kiếm thông tin
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 10
bằng rất nhiều phương tiện: đài báo;truyền hình,; các kênh thông tin, phân tích,dự báo; internet…
Trong thời gian 8 năm hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam, một cách tổng thể và
khách quan thì nhà đầu tư Việt Nam đã trưởng thành hơn rất nhiều so với buổi sơ khai. Nhà đầu
tư đã tiếp cận thị trường chứng khoán một cách khoa học hơn; cố gắng tích lũy kiến thức cho
mình, có thể bằng cách tự tìm hiểu, có thể bằng kinh nghiệm Nhưng để thị trường chứng khoán
VIệt Nam hướng tới sự phát triển bền vững, bên cạnh việc nhà đầu tư phải trang bị đầy đủ hành
trang cần thiết thì đòi hỏi các định chế tài chính trung gian cũng phải hoàn thiện hơn chất lượng
hoạt động, Nhà nước phải tạo ra các công cụ cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch và công khai
hơn nữa để xoá bỏ tình trnạg bất cân xứng về thông tin và đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các
nhà đầu tư.
1.3. Quyền được bảo vệ của nhà đầu tư chứng khoán
1.3.1. Tại sao lại đặt ra vấn đề về quyền được bảo vệ của nhà đầu tư?
“Nhà đầu tư là thành viên quan trọng nhất của thị trường. Năng lực tài chính, quyền lợi, kiến
thức và cả đạo đức của họ quyết định chất lượng phát triển thị trường chứng khoán của một quốc
gia. Bảo vệ nhà đầu tư được xem là bảo vệ thị trường từ gốc”. Quan điểm đề cao vai trò của nhà
đầu tư nói trên ít được đề cập đến ở Việt Nam trong thời gian qua và khá mới mẻ với nhiều đại
biểu tham dự hội thảo “Đào tạo nhà đầu tư và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam”, do
Trung tâm Doanh nghiệp tư nhân Quốc tế (CIPE) thuộc Phòng Thương mại Hoa Kỳ tổ chức ngày
3/7.
• Vị trí quan trọng số 1 của nhà đầu tư trên thị trường được thừa nhận ở Việt Nam, dù ít
được đề cập tới. Nhưng yêu cầu bảo vệ họ lại trở nên cấp thiết, được đặt ra trong suốt thời
gian qua, đặc biệt là ở một thị trường mới nổi, khi chứng khoán còn khá mới mẻ, kiến
thức nhà đầu tư phần lớn còn hạn chế và hệ thống pháp lý đang hoàn thiện như ở Việt
Nam.
• Bảo vệ nhà đầu tư là bảo vệ thị trường. Đó cũng là yêu cầu đặt ra đối với cơ quan quản lý
và phát triển thị trường. Bảo đảm được công bằng cho nhà đầu tư, tạo được sự tin cậy ở
họ là cơ sở để tạo dựng một môi trường đầu tư minh bạch và phát triển bền vững.
Chủ tịch Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Hoa Kỳ (NASD) Robert R.Glauber có cách nói
khá đơn giản nhưng sâu sắc như sau “Họ đặt những đồng tiền khó nhọc tích cóp vào thị trường
chứng khoán để mong tìm kiếm lợi nhuận khi hưu trí, để mong mua được nhà hay có thể nuôi
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 11
con cái ăn học; vậy thì họ đáng được tham gia vào một hệ thống công bằng và tin cậy”, ông
Robert R.Glauber nói.
1.3.2. Nhà đầu tư được bảo vệ bằng những hình thức nào?
Tại Mỹ, thay vì được bảo vệ bằng các cơ quan quản lý, nhà đầu tư được bảo vệ bằng 1 cơ
quan ngôn luận- 1 một cơ quan độc lập và chuyên biệt với kinh phí hoạt động lấy chính từ nguồn
xử phạt các hành vi vi phạm quyền lợi của nhà đầu tư. Đó là một biện pháp, một vấn đề thực sự
mới mẻ chưa từng được đặt ra tại Việt Nam. Trong khi đó các Cơ quan quản lý có thể bảo vệ nhà
đầu tư bằng các công cụ chính sách, bằng các điều kiện hoạt động hay các chế tài xử phạt.
Tại Việt Nam, đó cũng là những công cụ chủ yếu nhất. Ngoài ra còn có 1 công cụ bảo vệ nhà
đầu tư phổ biến khác là:Quyền được chọn chứng khoán. Quyền này cho phép người nắm giữ hợp
đồng cơ hội (nhưng không bắt buộc thực hiện) mua hoặc bán chứng khoán với giá được thỏa
thuận trước. Người mua quyền chọn trả cho người bán quyền chọn một số tiền gọi là phí quyền
chọn. Người bán hoặc người phát hành quyền chọn bắt buộc phải thực hiện hợp đồng nếu như
người mua quyền chọn yêu cầu. Một hợp đồng quyền chọn được thực hiện tại bất cứ thời điểm
nào trước khi đáo hạn được gọi là quyền chọn theo kiểu Mỹ và chỉ có thể thực hiện được vào
ngày đáo hạn thì được gọi là quyền chọn theo kiểu Châu Âu. Khi nhà đầu tư có dự định mua
chứng khoán và kỳ vọng giá của chứng khoán đó sẽ tăng lên trong tương lai thì họ sẽ phòng ngừa
rủi ro bằng cách mua một quyền chọn mua. Đến thời điểm đáo hạn của hợp đồng quyền chọn,
nếu giá chứng khoán lên cao như dự đoán thì người sở hữu quyền chọn sẽ thực hiện hợp đồng và
mua chứng khoán theo giá đã thoả thuận tại thời điểm ký hợp đồng.
Điều này sẽ có lợi hơn so với phải mua theo giá hiện tại trên thị trường, khoản lãi này là
không giới hạn tuỳ thuộc vào chênh lệch giữa giá chứng khoán hiện tại và giá chốt trên hợp
đồng.Trong trường hợp này, nếu giá chứng khoán diễn biến ngược lại so với dự đoán thì người sở
hữu quyền chọn sẽ không thực hiện hợp đồng và chỉ chịu một khoản lỗ giới hạn bằng với khoản
phí mua quyền chọn.Ngược lại khi nhà đầu tư đang sở hữu chứng khoán và họ dự đoán trong
tương lai giá chứng khoán sẽ giảm thì sự lựa chọn cho nỗi lo về giá của họ đối với chứng khoán
đang sở hữu là mua một quyền chọn bán. Nếu có công cụ quyền chọn chứng khoán thì nhà đầu tư
sẽ không bị hoảng loạn khi thị trường đảo chiều vì họ đã mua “bảo hiểm” về giá.
1.4. Các quyền của 1 chủ sở hữu đối với chứng khoán:
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 12
1.4.1. Đối với cổ phiếu:
1.4.1.1. Đối với CP ưu đãi: Nhà đầu tư nắm giữ cổ phần ưu đãi có các quyền sau:
Cổ phiếu ưu đãi cổ tức ấn định một tỷ lệ cổ tức tối đa so với mệnh giá, hay một mức cổ tức
tuyệt đối tối đa.
Trong điều kiện công ty hoạt động bình thường, cố đông ưu đãi sẽ được hưởng cổ tức này, vì
thế, thu nhập từ cổ tức của cổ phiếu ưu đãi so với cổ phiếu phổ thông khá ổn định. Đổi lại, cổ
đông ưu đãi không được tham gia bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của công ty.
Trong trường hợp công ty không đủ lợi nhuận để trả theo tỷ lệ đó, công ty sẽ trả theo khả
năng có thể, đặc biệt khi thua lỗ, công ty có thể không trả cổ tức ưu đĩa, những một khi cổ đông
ưu đãi chưa được trả cổ tức thì cố đông phổ thông cũng chưa được trả.
Trong trường hợp công ty thanh lý tài sản, cổ đông ưu đãi được ưu tiên nhận lại vốn trước
cổ đông phổ thông những sau người có trái phiếu.
Cổ phiếu ưu đãi cũng có thể kèm theo những điều khoản để tăng thêm tính hấp dẫn của nó.
Cổ phiếu ưu đãi cộng dồn quy định nếu chưa trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi thì xem như công ty
còn mắc nợ, cho đến khi nào có đủ lợi nhuận để trả, và tất nhiên cho đến khi đó, cổ đông phổ
thông mới được nhận cổ tức. Cổ phiếu ưu đãi tham dự cho phép cổ đông ưu đãi được chia sẻ
thành quả hoạt động sẽ được nhận lượng cổ tức cao hơn mức tối đa đã quy định nếu cổ tức trả
cho cổ đông thường vượt quá một mức nhất định. Cổ tức ưu đãi có thể chuyển đổi cho phép cổ
đông, trong những điều kiện cụ thể có thể chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường,
thường là trong điều kiện công ty làm ăn phát đạt.
Ngoài cổ phiếu ưu đãi về cổ tức, còn có thể có cổ phiếu ưu đãi về quyền bỏ phiếu ( được
nhiều phiếu bầu hơn) hay được quyền đòi lại vốn góp ( theo luật Doanh Nghiệp Việt Nam).
1.4.1.2. Người sở hữu cổ phiếu thường thông thường được hưởng một số quyền lợi
nhất định như sau:
• Quyền nhận cổ tức theo công bố của HĐQT là việc hưởng phần lợi nhuận của công ty
dành để trả cho những nhà đầu tư. Cổ tức có thể được trả bằng tiền ( dạng phổ biến nhất ),
cũng có thể được trả bằng cổ phiếu mới. Việc có trả cở tức hay không, tỷ lệ và hình thức
chi trả cổ tức cho cổ đôgn là tùy thuộc vào kết quả hoạt động và vào chính sách của công
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 13
ty, và do hội đồng quản trị quyết định. Vì thế, thu nhập mà cổ phiếu phổ thông mang lại
cho cổ đông là thu nhập không cố định.
• Quyền mua cổ phiếu mới: Khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới để tăng vốn, các
nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu phổ thông có quyền được mua trước cổ phiếu mới;
trước khi đọt phát hành được chào bán ra công chúng, trong một thời hạn nhất định.
Lượng cổ phiếu mới được phép mua theo quyền này tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu đang
nắm giữ. Như vậy, quyền này cho phép cổ đông hiện hữu duy trì tỷ lệ sở hữu của mình
trong công ty sau khi công ty đã tăng thêm vốn.
• Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần đã được thanh toán đầy đủ và được ghi trong sổ cổ
đông của công ty, trừ một số trường hợp bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của
pháp luật và Điều lệ công ty
• Quyền bỏ phiếu cho các vấn đề có ảnh hưởng đến toàn bộ công ty. Nếu không tham dự
được, cổ đông thường có thể ủy quyền cho người khác thay mặt họ biểu quyết, theo chỉ
thị của họ hoặc tùy ý người được ủy quyền.
• Quyền kiểm tra sổ sách của công ty.
• Quyền tặng cho, thừa kế
• Quyền cầm cố để vay vốn ngân hàng hoặc tại công ty chứng khoán có cổ phiếu đã mua.
• Quyền góp vồn vào công ty: Các loại chứng khoán cũng được coi là 1 loịa tài sản, do vậy
nó cũng có thể mang đi góp vốn để thành lập công ty. Tuy nhiên để trở thành tài sản góp
vốn nó phải được định giá.
1.4.2. Đối với trái phiếu:
• Quyền hưởng tiền lãi định kỳ
• Quyền chuyển nhượng trái phiếu
• Quyền chuỷen đổi trái phiếu thành cổ phiếu nếu đó là trài phiếu chuyển đổi.
1.4.3. Đối với các loại chứng chỉ quỹ:
• Quyền được chia tài sản khi công ty thanh lý hay giải thể
• Quyền được chuyển nhượng .
• Quyền mua chứng khoán của các nhà đầu tư nước ngoài:
1.4.3.1. Các hình thức đầu tư:
Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới các hình
thức sau:
• Trực tiếp thực hiện đầu tư thông qua việc:
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 14
• Mua, bán cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán niêm yết khác trên Sở Giao
dịch chứng khoán, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán hoặc đăng ký giao dịch tại
các công ty chứng khoán.
• Mua, bán cổ phần và các loại chứng khoán chưa niêm yết trên Sở Giao dịch
Chứng khoán, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch tại
các công ty chứng khoán.
• Tham gia đấu giá mua chứng khoán, đấu giá mua cổ phần tại các doanh nghiệp
thực hiện cổ phần hoá.
• Tham gia góp vốn thành lập quỹ đầu tư chứng khoán với tỷ lệ góp vốn của bên
nước ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
• Tham gia góp vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ góp vốn của bên nước
ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
• Thực hiện đầu tư thông qua việc uỷ thác quản lý vốn đầu tư cho công ty quản lý
quỹ trên cơ sở Hợp đồng quản lý đầu tư ký với công ty quản lý quỹ
1.4.3.2. Các quyền năng cụ thể:
Nhà đầu tư nước ngoài mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được
nắm giữ:
• Đối với cổ phiếu: tối đa 49% tổng số cổ phiếu của công ty cổ phần đại chúng. Trường
hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì áp dụng theo quy định của pháp
luật chuyên ngành Trường hợp tỷ lệ sở hữu bên nước ngoài được phân loại theo
danh mục các ngành nghề cụ thể thì áp dụng theo danh mục phân loại.
• Đối với chứng chỉ quỹ đầu tư đại chúng: tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư
của một quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng.
• Đối với công ty đầu tư chứng khoán đại chúng: tối đa 49% vốn điều lệ của một công
ty đầu tư chứng khoán đại chúng.
• Đối với trái phiếu: tổ chức phát hành có thể quy định giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với
trái phiếu lưu hành của tổ chức phát hành.
Về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam, theo Nghị
định số 69/2007/NĐ-CP, quyền của nhà đầu tư nước ngoài bao gồm
• Được hưởng các quyền như cổ đông khác theo quy định tại Điều lệ của ngân hàng Việt
Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét