Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Ví dụ: Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng nh cho phép thông hiểu nội
dung văn bản. Ngợc lại nêu không hiểu điều đang đọc thì không thể đọc nhanh và
diễn cảm đợc. Nhiều khi, khó mà nói đợc rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ
năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng mới đọc đúng. Vì
vậy trong dạy đọc không thể xem nhẹ yếu tố nào.
- Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách hình thành phơng pháp và thói quen
làm việc với bản bản, làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách trở thành một
sự tôn sùng ngự trị trong nhà trờng đó là một trong những điều kiện để trờng học
thực sự trở thành trung tâm văn hoá. Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phải
làm cho học sinh thích đọc và thấy đợc rằng khả năng đọc là có lợi ích cho học
sinh thích đọc, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những con đờng đặc
biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển.
- Về đọc không thể tách rời khỏi những nội dung đợc đọc nên bên cạnh
nhiệm vụ rèn kỹ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách phân môn tập đọc còn có
nhiệm vụ.
+ Làm giàu kiến thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh.
+ Phát triển ngôn ngữ và t duy cho học sinh.
+ Giáo dục t tởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh.
3/ Xuất phát từ tính tất yếu phải đổi mới phơng pháp và hình thức tổ
chức dạy học Tiếng việt trong chơng trình mới:
Môn Tiếng việt trong chơng trình tiểu học mới, thực hiện sự đổi mới cả về
mục tiêu - nội dung và phơng pháp dạy học, phơng tiện dạy học, các hình thức tổ
chức dạy học, các đánh giá kết quả của học sinh.
Hiện nay mục tiêu giáo dục đã đợc xác định rõ ràng. Chơng trình SGK tơng
đối ổn định - nội dung Chính vì vậy để th ờng xuyên nâng cao chất lợng dạy học
thì phơng pháp dạy học càng trở nên quan trọng vô cùng.
Tầm quan trọng đó phải đợc thể hiện theo quan điểm: Dạy học lấy học
sinh trung tâm. Nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh. Do
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
5
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
đó chúng ta có thể khẳng định rằng: Việc đổi mới phơng pháp dạy học Tiếng việt
ở Tiểu học nói chung và đổi mới phơng pháp dạy học đọc nói riêng, là một việc
làm rất cần thiết và thờng xuyên để nâng cao chất lợng dạy học tập đọc. Tạo cho
học sinh nắm đợc các kiến thức kỹ năng theo yêu cầu của môn học đúng, để hiểu
đợc nội dung đợc đọc. Tôi còn vận dụng các phơng pháp phù hợp với đặc điểm
tâm sinh lý trình độ của học sinh thực tế ở lớp học, trờng ở vùng miền núi là cần
thiết góp phần thực hiện thành công việc đổi mới phơng pháp dạy theo quan điểm
giao tiếp.
4/ Thực trạng ở trờng Tiểu học hiện nay:
Việc dạy đọc bên cạnh những thành công còn có những hạn chế: Học sinh
cha đọc đợc nh ta mong muốn, đọc cha đúng ở những chỗ ngắt nhịp vì các em cha
hiểu đợc nội dung câu thơ câu văn nên các em ngắt nghỉ không đúng với nội dung
biểu cảm của tác giả.
Học sinh cha hiểu cách nói văn chơng, vốn lý luận cha có các em thờng
ngắt giọng giữa từ ghép, các em cha đọc đúng chỗ nào cần lên giọng, chỗ nào cần
học giọng xuống khi đọc câu hỏi giọng đọc các em còn đều đều cha toát lên đợc
nội dung câu hỏi. Khi đọc các câu hội thoại các em cha phân biệt đợc giọng của
nhân vật, giọng của tác giả.
- Giáo viên tiểu học còn lúng túng các bớc khi dạy tập đọc theo chơng trình
mới, vận dụng quy trình còn máy móc dạy còn theo sách giáo viên, sách thiết kế
bài soạn chứ không chú ý đến đặc thù của địa phơng.
Cần đọc bài tập đọc (mỗi dạng thơ, văn xuôi) nh thế nào, làm thế nào để chữa lỗi
phát âm cho học sinh dân tộc thiểu số, làm thế nào để các em đọc đúng, đọc nhanh
hơn, rèn kỹ năng đọc đúng, đọc hiểu một nội dung để đọc hay hơn, diễn cảm hơn.
Làm thế nào để để hiểu đợc văn Làm sao để phối hợp đọc thành tiếng và đọc
hiểu, với cách dạy nh thế nào để cho những gì đợc đọc hiểu và tác động và chính
cuộc sống các em Đó là những trăn trở của giáo viên trong mỗi giờ tập đọc từ
thực trạng đó nên dẫn đến giờ dạy hiệu quả cha cao mà trong chơng trình cha có hớng
dẫn cụ thể, cha đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy.
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
6
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Xuất phát từ những lý do vừa nêu trên trong luận văn này chúng tôi chọn
nghiên cứu về đề tài: Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2 .
II - Mục đích nghiên cứu:
1/ Nghiên cứu thực hiện đề tài này nhằm rèn kỹ năng đọc cho học học sinh
lớp 2 chơng trình mới.
2/ Nhiệm vụ:
- Khảo sát nội dung tìm hiểu ở SGK
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc dạy tập đọc. Tìm hiểu
về nội dung và phơng pháp dạy tập đọc lớp 2.
- Khảo sát thực trạng dạy đọc thông qua các giờ dạy tập đọc.
- Khảo sát kỹ năng đọc của học sinh qua một bài tập đọc.
III - Giới hạn đề tài:
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi trờng tiểu học. Nghiên cứu vấn đề rèn kỹ năng
đọc cho học sinh lớp 2 trờng Tiểu học Châu Kim - Quế Phong - Nghệ An.
IV - Ph ơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu theo
các phơng pháp sau:
1/ Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết:
Đọc nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề đổi mới phơng pháp
dạy học nói chung và phơng pháp dạy học Tiếng việt nói riêng trong đó có phơng
pháp dạy tập đọc.
Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu nhằm rút ra đợc những vấn đề cần thiết để sử
dụng cho thực hiện đề tài, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài đa đề tài
vào áp dụng phù hợp với thực tế.
Bên cạnh đọc các tài liệu trên còn nghiên cứu thêm SGK, sách giáo viên từ
lớp 1, 2 của chơng trình mới.
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
7
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Trên cơ sở nghiên cứu SGK để nắm bắt đợc chơng trình của các môn, mối
quan hệ giữa các môn học đối với SGK chúng tôi tập nghiên cứu sâu vào môn tập
đọc.
2/ Phơng pháp điều tra khảo sát:
- Điều tra thực trạng dạy học ở trờng Tiểu học Châu Kim - Quế Phong -
Nghệ An.
- Dạy một tiết tập đọc ở lớp 2 bài.
- Để rèn kỹ năng đọc cho học sinh.
3/ Phơng pháp thực nghiệm s phạm:
Phơng pháp này đợc sử dụng để đánh giá tính khả thi của các biện pháp này
đợc sử dụng để đánh giá tính khả thi của các biện pháp đợc đề xuất trong khoá
luận.
B - Phần nội dung
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
8
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Chơng I: Những cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
I - Một số cơ sở lý luận:
1/ Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học:
1.1/ Khái niệm đọc:
Môn Tiếng việt ở trờng phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt
động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ đợc thể hiện trong bốn
dạng hoạt động, tơng ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đọc là
một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức viết sang lời nói có
âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng) là quá trình chuyển
trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với
đọc thầm) Hai mảng này có liên quan với nhau bởi vì đọc thành tiếng đúng thì mới
điểu và ngợc lại có hiểu mới đọc đúng đọc hay.
1.2/ ý nghĩa của việc đọc:
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu của văn hoá khoa học t
tởng tình cảm của các thế hệ trớc và của cả những ngơì đơng thời phần lớn đã đợc
ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con ngời không thể tiếp thu nền văn
minh của loài ngời, không thể sống một cuộc sống bình thờng có hạnh phúc với
đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc con ngời đã nhận khả năng
tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây anh ta biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống nhận thức
các mối quan hệ tự nhiên xã hội t duy, biết đọc con ngời sẽ có khả năng chế ngự
một phơng tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp đợc với thế giới bên trong của ng-
ời khác, thông hiểu t tởng, tình cảm của ngời khác đặc biệt khí đọc các tác phẩm
văn chơng, con ngời không chỉ thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm,
nảy nở những ớc mơ tốt đẹp đợc khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo
cũng nh bồi dỡng tâm hồn. Không biết đọc con ngời sẽ không có điều kiện hởng
thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành đợc một nhân cách
toàn diện. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan
trọng vì nó sẽ giúp ngời ra sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là học, học nữa,
học mãi, đọc để tự học học cả đời.
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
9
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Vì những lẽ trên, dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Đọc trở
thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi ngời đi học. Đầu tiên là trẻ phải học
đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc chiếm lĩnh đợc một ngôn ngữ để dùng trong
giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập. Nó tạo điều kiện để học sinh có khả
năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là một khả năng không thể thiếu đợc
của con ngời thời đại văn minh.
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ
cũng nh t duy của ngời đọc. Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn bồi dỡng
ở các em lòng yêu cái thiện cái đẹp dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgíc
cũng nh biết t duy có hình ảnh. Nh vậy đọc có một ý nghĩa to lớn còn vì nó bao
gồm các nhiệm vụ giáo dỡng, giáo dục và phát triển.
1.3/ Cơ sở tâm sinh lý của việc dạy tập đọc:
Để tổ chức giờ đọc cho học sinh chúng ta cần hiểu rõ quá trình đọc, nắm
bản chất kỹ năng đọc. Đặc biệt tâm sinh lý của học sinh khi đọc khi đọc là cơ sở
của việc dạy đọc.
Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin
bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác.
- Đọc đợc xem là một hoạt động có 2 mặt quan hệ mật thiết với nhau, là
việc sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự
ghi lại bằng lời nói âm thanh. Đo là vận động t tởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ
nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tởng, các khái niệm chứa đựng bên
trong để nhớ và hiểu cho đợc nội dung những gì đợc đọc. Đọc bao gồm những yếu
tố tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác
và thông hiểu những gì đợc đọc, càng ngày những yếu tố này càng gần với nhau
hơn, tác động đến nhau là nhiều hơn.
Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp
giữa những mặt riêng lẻ này trong quá trình đọc. Đó là điểm phân biệt ngời mới
biết đọc và ngời đọc thành thạo. Học sinh càng có khả năng tổng hợp các mặt trên
bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác biểu cảm bấy nhiêu.
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
10
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc (tức là việc chuyển
dạng thức chữ viết của từ và âm thanh) đọc đợc hiểu và kỹ thuật đọc cộng với sự
thông hiểu đọc (không chỉ hiểu nghĩa từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài) ý nghĩa cả hai
mặt của thuật ngữ đọc đợc ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phơng pháp
dạy học.
Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu
dài T.G.E Gôrốp chia việc hình thành kỹ năng này qua 3 giai đoạn phân tích, tổng
hợp (còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chính thể của hành
động) và giai đoạn tự động hoá.
Học sinh lớp 2, 3 bắt đầu đọc tổng hợp. Thời gian gần đây ngời ta đã chú
trọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kỹ năng
đọc, làm việc với văn bản. Đòi hỏi tổ chức giờ tập đọc sao cho việc phân tích nội
dung của bài đọc, đồng thời hớng đến việc hoàn thiện kỹ năng đọc, hớng đến đọc
có ý thức bài đọc.
Đọc là hiểu nghĩa chữ viết, nếu trẻ không hiểu thì những từ đa ra cho các
em đọc thì các em sẽ không có hứng thú học tập và không có khả năng thành
công. Do đó hiểu những gì đợc đọc sẽ tạo ra động cơ hứng thú cho việc đọc.
Mục đích này chỉ có thể đạt đợc thông qua con đờng luyện giao tiếp có ý
thức. Một phơng tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục tiêu đạt tới
trong sự chiếm lĩnh ngôn ngữ. Chính là việc đọc cả đọc thành tiếng và đọc thầm.
Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bớc sau:
+ Hiểu nghĩa các từ ngữ
+ Hiểu nghĩa các câu
+ Hiểu nghĩa các khối đoạn
+ Hiểu nghĩa đợc cả bài
Học sinh tiểu học không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu đợc những câu
điều mình đọc. Hầu nh toàn bộ sức chú ý đều tập trung vào việc nhận ra mặt chữ,
đánh vần để phát âm, còn nghĩa thì cha đủ thì giờ và sức lực mà nhận biết. Mặt
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
11
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
khác, do vốn từ còn năng lực liên kết thành câu thành ý còn hạn chế nên việc hiểu
và nội dung còn khó khăn. Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp hình thành năng
lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học.
1.4/ Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy học:
Phơng pháp dạy tập đọc, phải dựa trên cơ sở ngôn ngữ học nó liên quan mật
thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học nh vấn đề chính âm, chính tả, chữ viết,
ngữ điệu, nghĩa của từ, câu đoạn.
Phơng pháp dạy tập đọc dựa trên cơ sở nghiên cứu của ngôn ngữ học xác
lập nội dung và phơng pháp dạy tập đọc. Bốn phẩm chất của đọc không thể tách
rời những cơ sở ngôn ngữ học không coi trọng đúng mức những cơ sở này, việc
dạy học sẽ mang tính tùy tiện và không đảm bảo hiệu quả dạy học.
+ Chính âm trong Tiếng việt:
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu
quả về mặt xã hội
Theo đa số nhà nghiên cứu nội dung cơ bản của chính âm trong Tiếng việt
hiện nay nên lấy hệ thống ngữ âm (cách phát âm) của phơng ngữ bác bộ mà tiêu
biểu là tiếng Hà Nội làm căn cứ bổ sung cách phát âm. Một số phụ âm quặt lỡi (tr,
s, r) và không phát âm phân biệt d/gi.
1.4.1/ Vấn đề ngữ điệu Tiếng việt:
Ngữ điệu là sợ thay đổi giọng nói, giọng đọc là sự lên cao hay học thấp
giọng đọc, giọng nói. Ngữ điệu là một trong những thành phần của ngôn điệu, ngữ
điệu gồm toàn bộ các phơng tiện siêu đoạn (siêu âm đoạn tính) đợc sử dụng bình
diện câu nh độ thấp của âm thanh cờng độ mạnh yếu, hay là môi trờng truyền dẫn
(độ dài ngắn của âm thanh, hay là thời gian thực tế của âm thanh) âm sắc (là sắc
thái riêng của âm thanh)
Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yêu tố tham gia tạo thành lời nói
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
12
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Mỗi ngôn ngữ, có một ngữ điệu riêng, ngữ điệu Tiếng việt nh các ngôn ngữ
có thanh điệu khác, chủ yếu đợc biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng (trờng
độ) và sự chuyển giọng (phối hợp cả cờng độ và trờng độ).
1.4.2/ Cơ sở lý thuyết văn bản phong cách học và việc dạy đọc cho học sinh:
Việc dạy học không thể dựa trên lý thuyết văn bản, những tiêu chuẩn để
phân tích, đánh giá một văn bản nói chung cũng nh lý thuyết để phân tích đánh giá
các tác phẩm văn chơng nói riêng. Việc hình thành kỹ năng đọc cho học sinh phải
dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá văn bản tốt, tính chính xác, tính đúng đắn và
tính thẩm mỹ, dựa trên các đặc điểm về kiểu ngôn ngữ, các phong cách chức năng,
các thể loại văn bản các đặc điểm về tác phẩm của thể loại văn chơng dùng làm
ngữ liệu đọc ở Tiểu học.
Ví dụ: Cách đọc và khai thác để hiểu nội dung bài thơ, một đoạn tả cảnh,
một câu tục ngữ, một truyền thuyết, một bài lịch sử là khác nhau. Việc h ớng
dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đề
tài, chủ đề kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung hình thức, các biện pháp thể
hiện trong tác phẩm văn học nhằm miêu tả, kể chuyện và biểu hiện các phơng
tiện, biện pháp tu từ.
Khi luyện đọc cho học sinh dựa trên những hiểu biết về đặc điểm ngôn ngữ
văn học, tính hình tợng, tính tổ chức cao và tính hàm đa nghĩa của nó.
* Chuẩn bị cho việc đọc thành tiếng:
Giáo viên hớng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc. Khi ngồi đọc cần
ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30-35cm, cổ
và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi. ở lớp khi đợc cô giáo gọi
đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin không hấp dẫn đọc ngay.
Trớc khi nói về việc rèn đọc đúng cần nói về tiêu chí cờng độ và t thế khi
đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng. Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc thành
tiếng ngời đọc một lúc đóng hai vai: Một vai - và mặt này thờng đợc nhấn mạnh -
là ngời tiếp nhận thông tin, bằng chữ viết, vai thứ hai là ngời trung gian để truyền
thông tin, đa văn bản viết đến ngời nghe. Khi giữ vai thứ hai này, ngời đọc đã thực
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
13
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
hiện việc tái sản sinh văn bản. Vì vậy khi đọc thành tiếng ngời đọc có thể đọc cho
mình hoặc cho ngời khác hoặc cho cả hai. Đọc cùng với phát biểu trong lớp là hai
hình thức giao tiếp trớc đám đông đầu tiên của trẻ em nên giáo viên phải coi trọng
khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công tạo cho các em sự tự tin cần thiết. Khi
đọc thành tiếng các em phải tính đến ngời nghe. Giáo viên cần cho các em hiểu
rằng các em đọc không phải chỉ đề cho mình cô giáo mà để cho tất cả các bạn
cùng nghe nên cần đọc đủ lớn cho tất cả những ngời này nghe rõ. Nhng nh thế
hoàn toàn không có nghĩa là đọc quá to hoặc gàn lên. Để luyện cho học sinh đọc
quá nhỏ lý nhí giáo viên cần tập cho các em đọc to chừng nào bạn ở xa nhất
trong lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên nên cho học sinh đứng lên bảng để đối
diện với những ngời nghe t thế đứng đọc phải vừa đàng hoàng, vừa thoải mái sinh
phải đợc mở rộng và cân bằng hai tay.
* Luyện đọc đúng:
- Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác,
không có lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc
đúng phải thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói
cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phơng lệch chuẩn, với những học
sinh ngời dân tộc thì lu ý không để hệ thống ngữ âm mẹ đẻ ảnh hớng tiêu cực đến
phát âm Tiếng việt. Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm
vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu) .
- Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng
việt.
+ Đọc đúng các phụ âm đầu s/x, tr/ch
+ Đọc đúng các chính âm: Có ý thức phân biệt để không đọc Ơn, ân cơn
ma, cân ma.
+ Đọc đúng các âm cuối
+ Đọc đúng các thanh có các lỗi phát âm địa phơng nh lẫn thanh (~) và
thanh nặng (.) VD: Dũng - Dụng, xã - xạ.
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét