THPT Kim Liên để có thể rút ra những nhận xét thực tế, khách quan về
giảng dạy đọc hiểu tác phẩm văn xuôi nước ngoài SGK Ngữ văn 11.
- Phương pháp phỏng vấn: Với đối tượng là giáo viên Ngữ văn
của trường THPT Kim Liên, tôi sẽ tiến hành phỏng vấn (khoảng 10 giáo
viên) để tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi, phương pháp áp dụng khi dạy
học tác phẩm văn xuôi nước ngoài SGK Ngữ văn 11.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Đề tài nghiên cứu của tôi sẽ
bao gồm cả bảng hỏi đối với 10 giáo viên của trường THPT Kim Liên.
Bảng hỏi bao gồm những câu hỏi đã được chọn lựa kĩ lưỡng, sát đề tài
nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích kết quả nghiên cứu:
+ Những phần phỏng vấn tôi ghi chép cẩn thận, tỉ mỉ , tổng hợp và
sau đó hỏi ý kiến chính những giáo viên được phỏng vấn để xác định được
những ý kiến chung nhất, đánh giá xác đáng nhất về thực trạng liên quan
đến vấn đề cần nghiên cứu. Đồng thời tôi cũng tham khảo ý kiến của các
giảng viên, chuyên gia trong ngành giáo dục.
+ Những số liệu điều tra bảng hỏi sẽ được tổng hợp, tính tỉ lệ phần
trăm, tính số liệu cụ thể để làm minh chứng cho những kết luận đưa ra.
Như vậy, đề tài nghiên cứu sẽ có được những nhận xét xác đáng về
thực trạng việc dạy đọc hiểu tác phẩm văn xuôi nước ngoài SGK Ngữ văn
11 với mục đích cuối cùng là tôi có thể xây dựng được qui trình giảng dạy
đọc hiểu những tác phẩm này sao cho có hiệu quả cao nhất.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về đọc hiểu và phương pháp đọc hiểu.
Chương 2: Thực trạng giảng dạy tác phẩm văn học nước ngoài ở
trường THPT.
Chương 3: Đề xuất qui trình dạy đọc hiểu tác phẩm văn xuôi nước
ngoài SGK Ngữ văn 11.
Trương Thị Thùy Linh- K49 Sư phạm Ngữ văn
Chương I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐỌC HIỂU VÀ PHƯƠNG
PHÁP DẠY ĐỌC HIỂU
Cái mới trong nội dung môn Ngữ văn là vấn đề đọc hiểu. Đọc hiểu
là khái niệm cơ bản của môn học có nội dung mới. Trước kia ta xem đọc là
phương pháp trong giảng văn mà thôi và lại thường nhấn mạnh một cách
cường điệu phương pháp đọc diễn cảm. Hiểu việc đọc văn như thế chưa
thấy hết được hoạt động đọc văn là con đường duy nhất để học sinh tự
mình cảm nhận cái hay cái đẹp của hình thức tồn tại của văn bản nghệ
thuật; từ đó tiến tới hiểu nội dung tư tưởng khái quát về nhân tâm thế sự.
Có thể nói rằng, đọc hiểu là mục đích cuối cùng của các giai đoạn đọc và
mức độ đọc.
Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa của văn bản. Ý
nghĩa ấy hình thành và sáng tỏ dần nhờ sự soi chiếu tổng hợp, khái quát
hóa từ ý nghĩa tồn tại trong hình thức hóa nghệ thuật của tác phẩm, từ ý đồ
sáng tạo, quan niệm nghệ thuật của nhà văn và ý nghĩa phái sinh thông qua
khả năng tiếp nhận của người đọc. Đọc hiểu tuân theo lôgic khoa học, đã
làm giảm đi tính chất “mơ hồ, đa nghĩa” của tác phẩm văn chương để sự
giao tiếp nghệ thuật đi tới chiều hướng thỏa thuận nào đó.
Cũng có thể nói, đọc hiểu là hoạt động cơ bản của học sinh đem tích
hợp các tầng ý nghĩa của văn bản. Tùy theo loại văn bản mà người đọc cần
Trương Thị Thùy Linh- K49 Sư phạm Ngữ văn
tích hợp những tri thức đọc hiểu nào. VD: Muốn đọc hiểu VHDG thì người
học sinh phải được trang bị tri thức đọc hiểu về thi pháp VHDG, tri thức về
văn hóa dân gian, tri thức về folklore, tri thức về môi trường diễn xướng.
Không có những tri thức đó không thể đọc hiểu được những văn bản còn
nhiều điều mù mờ về thời điểm sáng tác, về tác giả, về dị bản, về vùng
miền lưu truyền đối với các thể loại VHDG.
1.1. Quan điểm về đọc tác phẩm văn chương
Đọc không chỉ là hoạt động nhận thức nội dung ý tưởng từ văn bản
mà còn là hoạt động trực quan sinh động, giàu cảm xúc, có tính trực giác
và khái quát trong nếm trải của con người. Vì thế chúng ta thấy xuất hiện
kinh nghiệm đọc và sự biến đổi cách thức và chất lượng người đọc. Đọc
còn hoạt động mang tính chất tâm lí, một hoạt động tinh thần của độc giả,
bộc lộ rõ năng lực văn hóa từng người.
Chúng ta cần phải bàn đến tính vật chất của hoạt động đọc. Người ta
không chỉ đọc văn bản mà còn đọc sách, chẳng những đọc sách mà còn
những tác phẩm văn chương. Tuy rằng văn bản, sách và tác phẩm văn
chương đều mang tính hoàn chỉnh về cấu trúc nhưng độ dài ngắn, dung
lượng và ý nghĩa, chức năng, bản chất, tác dụng của chúng là hết sức khác
nhau. Vì vậy, cách thức đọc chúng, phương pháp và biện pháp đọc chúng
không hoàn toàn đồng nhất.
Theo Nguyễn Thanh Hùng, đọc tác phẩm văn chương là giải quyết
vấn đề thế giới quan của các cấu trúc tồn tại trong tác phẩm, trước hết là
cấu trúc ngôn ngữ, thứ đến là cấu trúc hình tượng thẩm mĩ, sau nữa là cấu
trúc thẩm mĩ [25, tr.58]. Trong cấu trúc ngôn ngữ, người đọc được tìm
hiểu để nắm bắt các loại thông tin, tư tưởng hiện thực đời sống và tư tưởng
thẩm mĩ.Tư tưởng hiện thực trong tác phẩm gợi ra sự đa dạng trong kinh
nghiệm sống của từng độc giả. Đây là bức tranh đời sống vừa quen vừa lạ.
Quen để chia sẻ thừa nhận. Lạ để trao đổi và suy nghĩ. Tầng lớp xuất hiện
Trương Thị Thùy Linh- K49 Sư phạm Ngữ văn
và vị trí xuất hiện của người đọc có ảnh hưởng nhiều đến mối quan hệ giữa
quen và lạ trong thông tin hiện thực đời sống mà cấu trúc ngôn ngữ tác
phẩm tạo ra.
Có thể nói rằng, ngay từ cấu trúc cụ thể, ngôn ngữ, tư tưởng và định
hướng tư tưởng sáng tạo đã có mặt, góp phần quyết định giá trị đích thực
của tác phẩm. Cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm văn chương là sự tồn tại tất
yếu với những nhà văn lớn, với những nghệ sĩ tài năng. Tuy trừu tượng và
tiềm ẩn nhưng cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm văn chương được nhận ra và
đánh giá trên nền tảng của cấu trúc ngôn ngữ, cấu trúc hình tượng thẩm mĩ.
Cần lưu ý rằng, sự lĩnh hội tác phẩm văn chương thông qua hoạt
động đọc bao giờ cũng xen lẫn vào nó thiên hướng chủ quan, không thể
loại trừ “cái tôi” của người đọc ra ngoài quá trình tiếp nhận. Cũng theo
những nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hùng, cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm
văn chương là cấu trúc mở, là “kết cấu vẫy gọi” (Appelestructur) bao gồm
sự tham gia sáng tạo của mọi người. Vì vậy, ý nghĩa nội dung tư tưởng
thẩm mĩ của tác phẩm văn chương là kết quả của sự đồng thuận và nhượng
bộ tỉnh táo hai chiều giữa nhà văn và người đọc về cấu trúc hình tượng
thẩm mĩ.
Nói tóm lại, đọc tác phẩm văn chương là một quá trình phát hiện và
khám phá nội dung ý nghĩa xã hội, con người, thời đại trong cấu trúc hình
tượng thẩm mĩ của tác phẩm đan xen giữa hoạt động nhận thức, đánh giá
và thưởng thức giá trị đích thực tồn tại trong hình thức NT độc đáo của tác
phẩm.
1.2. Những thành tựu nghiên cứu hoạt động đọc tác phẩm văn
chương
Trong lịch sử nhân loại, khi nào xuất hiện văn bản kí tự dưới hình
thức cố định thì bắt đầu có hoạt động đọc. Đọc là quá trình chuyển hóa nội
dung ý nghĩa từ ghi khắc sang âm thanh lời nói, âm vang trong óc. Có thể
Trương Thị Thùy Linh- K49 Sư phạm Ngữ văn
ghi nhận ý kiến của thánh Paul trong kinh Cựu ước và Tân ước, của Mạnh
Tử, của Đào Tiềm, Bô-đơ-le hay Asmus…[25, tr.57]
Trong tài liệu dịch, trước hết phải kể đến công trình “Phương pháp
giảng dạy văn học ở trường phổ thông” của A. Nhikônxki. Ngay từ
những dòng đầu tiên khi bàn đến hoạt động học của học sinh và ông đã
dành phần lớn trang lược thuật những quan niệm trong nhà trường Nga về
vấn đề đọc. Những luận điểm quan trọng trong công trình được tác giả
nhấn mạnh thuộc về vị trí của học sinh trong giảng dạy học tập môn văn và
thuộc về bản chất lao động trong đọc văn. Sách khẳng định “học sinh là
độc giả tác phẩm văn học” [41, tr.15]
Trình bày hệ thống các phương pháp và biện pháp dạy học, giáo
trình “Phương pháp luận dạy văn học” do Ia. Rez chủ biên đã đặt phương
pháp học tập sáng tạo ở vị trí hàng đầu như là phương pháp đặc biệt đối
với văn học, với tư cách là một môn học nhằm “phát triển cảm thụ NT,
hình thành những thể nghiệm, những khuynh hướng và năng khiều NT cho
học sinh bằng phương diện NT” [26, tr.38]. Quan niệm phân tích tác phẩm
văn học trong nhà trường là một quá trình sáng tạo, tác giả còn trình bày
các biện pháp bộc lộ và thúc đẩy sự đồng sáng tạo của người đọc, trong đó
đọc diễn cảm được xem là “biện pháp hoạt động đặc thù nhằm tăng cường
sự đồng sáng tạo của người đọc, tạo điều kiện cho sự đồng thể nghiệm và
phát triển trí tưởng tượng của người đọc” [26, tr.39]
Thực chất của quá trình đọc văn là quá trình phát hiện và tổng hợp
những tầng lớp ý nghĩa đã được nhà văn mã hóa trong một hệ thống kí hiệu
ngôn ngữ NT. Mỗi giai đoạn của quá trình ấy lại đặt ra những nhiệm vụ
nhất định cần phải giải quyết. Vì vậy hoạt động đọc sẽ được vận dụng dưới
nhiều hình thức phong phú, đa dạng, linh hoạt, hơn một cách duy nhất
nào đó.
Một số bài viết và công trình về đọc văn ở Việt Nam xuất hiện từ
những năm 80 một cách có hệ thống, như vậy là đã có sự quan tâm và
Trương Thị Thùy Linh- K49 Sư phạm Ngữ văn
những lí giải về nhiều phương diện hoạt động đọc văn. Nếu trước kia xem
đọc văn chỉ là phương pháp thì bây giờ người ta xem nó là một hoạt động.
Cơ sở lí luận của đọc văn, nội dung bản chất của đọc văn, khả năng vận
dụng đọc văn vào nghiên cứu phê bình văn học đến giảng dạy học tập văn
học đều được đề cập tới. Càng ngày những người quan tâm nghiên cứu vấn
đề đọc văn càng nhận ra mối quan hệ biện chứng của quá trình tiếp nhận
tác phẩm văn chương. Đọc văn vừa là tiền đề cơ bản, vừa là kết quả xác
thực của việc hiểu văn. Có đọc mới hiểu và có hiểu thì mới đọc tiếp được
tác phẩm văn chương mà không làm tiêu tan những giá trị và ý nghĩa của
nó.Các công trình nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hùng đã thể hiện sự
quan tâm sâu sắc của tác giả đến vấn đề phức tạp này: nhìn nhận trí tưởng
tượng, khả năng liên tưởng như là chìa khóa mở ra thế giới NT phong phú,
sinh động của tác phẩm văn chương đồng thời năng lực liên tưởng, tưởng
tượng thông qua ngôn ngữ NT là dấu hiệu chất lượng của đọc văn. Tác giả
viết: “Sự phát triển của quá trình đọc được vận động trong hoạt động liên
tưởng, tưởng tượng và giải thích nghệ thuật”. Theo tác giả, việc đọc hiểu
văn bản góp phần hình thành và củng cố, phát triển năng lực nắm vững và
sử dụng tiếng Việt thành thạo. Đồng thời “năng lực văn hóa có ý nghĩa cơ
bản đối với việc phát triển nhân cách , bởi vì phần lớn những tri thức hiện
đại được truyền thụ qua việc đọc”, hơn nữa việc đọc còn là “phương tiện
tinh thần nhiều loại khác nhau về quan điểm, thái độ, kinh nghiệm, tri thức”.
[28, tr.14]
Gần đây nhất, kế thừa và phát triển những thành tựu của lí thuyết
tiếp nhận, trong chuyên luận “Đọc và tiếp nhận văn chương”, Nguyễn
Thanh Hùng đã trả đọc về vị trí xứng đáng của nó trong quá trình khám
phá chiều sâu của tác phẩm văn chương. “Tiếp nhận văn học là một quá
trình, vì nó chỉ thực sự diễn ra theo một hoạt động duy nhất là đọc văn –
một thứ văn bản được kiến tạo bằng thời gian” [26, 16]. Thông qua quá
Trương Thị Thùy Linh- K49 Sư phạm Ngữ văn
trình đọc văn với những yêu cầu riêng của một hoạt động tinh thần dựa
trên một đối tượng thẩm mĩ, mục đích tiếp nhận là hiểu được tác phẩm văn
chương. Cũng theo đó mà tác giả này đã khẳng định: “Đọc văn chương-
một con người mới ra đời, đọc văn chương là lao động khoa học, đọc văn
chương là cách phát huy trực cảm, đọc văn chương là hoạt động ngôn ngữ
trong môi trường văn hóa thẩm mĩ, đọc văn chương là quá trình sáng tạo,
đọc văn chương là quá trình tiếp nhận nội sinh và ngoại sinh từ tác phẩm”
[26, tr.18]
Phan Trọng Luận cũng đã phân tích rõ tầm quan trọng của hoạt
động đọc trong chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học”: “Đọc
từ chữ đầu đến chữ cuối, đọc cho âm vang, đọc để tri giác, cảm giác được
bằng mắt bằng tai từ ngữ, hình ảnh, chi tiết…” và “trong khi đọc, những tín
hiệu ngôn ngữ, những hình ảnh cuộc sống trong bài thơ hiện lên tuần tự
sáng rõ dần”. Tác giả cũng chỉ rõ vai trò của liên tưởng tưởng, tưởng
tượng đối với hiệu quả cảm thụ của quá trình đọc sách: “Đọc sách là liên
tưởng, là hồi ức, là tưởng tượng. Sức hoạt động của liên tưởng càng mạnh
bao nhiêu thì sức cảm thụ càng sâu, càng nhạy bén bấy nhiêu” [33, tr.57]
Đọc văn không những được vận dụng trong nhà trường mà còn được
ứng dụng rộng rãi trong giao tiếp văn hóa, trong tiếp nhận văn học, trong
việc trao đổi thông tin tri thức và đời sống tinh thần nhân loại. Những trang
sách kì diệu đã từng tỏa sáng tuổi thơ cơ cực, tăm tối của M. Gorki. Ông
nói “Mỗi cuốn sách đều là bậc thang nhỏ mà khi bước lên, tôi tách khỏi con
thú để lên tới gần con người”. Đọc sách trước hết là lao động trí tuệ mang
lại niềm vui thanh khiết nhất của tâm hồn, là sự tự giải phóng cá nhân ra
khỏi những trói buộc của hoàn cảnh để trí tuệ hóa và nhân đạo hóa con
người ngày càng cao hơn.
1.3. Đọc hiểu tác phẩm văn chương
Có thể nói rằng đọc hiểu văn bản là một thuật ngữ mới xuất hiện
trong bối cảnh của sự gia tăng khối lượng tri thức nhân loại theo cấp số
Trương Thị Thùy Linh- K49 Sư phạm Ngữ văn
nhân. Có hàng trăm nghìn kiểu văn bản và sách cần đọc. Mỗi người cần
tìm ra một phương pháp đọc riêng cho mình để hiểu sâu về vấn đề quan
tâm, biết cách chọn thông tin phục vụ cho nhu cầu bản thân. Chính vì điều
này mà môn Ngữ văn trong nhà trường có một vai trò quan trọng trong
việc hình thành thói quen, phương pháp, nhận thức về hoạt động đọc, cụ
thể là hoạt động đọc hiểu.
Môn Ngữ văn trong nhà trường THPT không còn giới hạn trong
những văn bản nghệ thuật hư cấu mà mở rộng từ các thể loại văn học sang
các phương thức biểu đạt, tự sự, miêu tả, lập luận,… như đoạn trích tiểu
thuyết, kịch, truyện ngắn. Đọc những tác phẩm như thế có thể chưa hiểu
được ngay. Nội dung tác phẩm cần phải được hiểu dần dần, rồi từng bước
tiến tới hiểu kĩ, hiểu trọn vẹn.
1.3.1. Quan điểm về “hiểu” trong đọc hiểu tác phẩm văn chương
Hiểu là nắm vững nội dung và ý nghĩa của văn bản. Hiểu đối với
việc đọc các văn bản không hư cấu là thế nhưng hiểu trong đọc văn
chương với tư cách là văn bản hư cấu, tác phẩm NT ngôn từ thì không chỉ
có thế mà là thấu đạt được những nội dung biểu hiện và ẩn tàng mà nhà
văn cần nói, đáng nói và muốn nói với người đọc- những người sẵn sàng
chờ đón và chia sẻ.
Năng lực đọc hiểu, một năng lực bao gồm các năng lực cảm nhận, lí
giải, thưởng thức, ghi nhớ và đọc nhanh mà năng lực lí giải là quan trọng
nhất. Đọc- hiểu là hoạt động duy nhất để học sinh tiếp xúc trực tiếp với các
giá trị văn học, tránh sự áp đặt từ bên ngoài kể cả từ thầy cô, ngăn chặn
được sự suy giảm năng lực đọc của học sinh trong điều kiện các phương
tiện nghe nhìn ngày càng phổ biến…Điều này rất phù hợp với qui luật tiếp
nhận văn học và qui luật phát triển tư duy cũng như sự hình thành nhân
cách. [7, tr.20]
Vấn đề đọc hiểu văn chương không hề đơn giản chút nào. Những ý
kiến khác nhau có rất nhiều. Đã từng tồn tại kiểu đọc văn chỉ biết đến “cái
Trương Thị Thùy Linh- K49 Sư phạm Ngữ văn
biểu đạt”, tương đương với hình thức mà bỏ qua “cái được biểu đạt”, tức là
những lớp nội dung tạo nên chỉnh thể tư tưởng NT được sáng tạo trong tác
phẩm. Bôđơle, một tác giả phương Tây cũng lại cho rằng tác phẩm là
“một cuộc phiêu lưu của tâm hồn” bởi vậy người đọc cũng chỉ cần kể lại
những ấn tượng của mình khi đọc tác phẩm mà thôi. Phải từ những năm 70
của thế kỉ XX trở lại đây, dưới ánh sáng của lí thuyết tiếp nhận và tâm lí
học hoạt động cũng như những quan niệm mới về tác phẩm văn chương,
đọc hiểu văn chương đã được phân tích, mổ xẻ để có được khái niệm đúng
đắn.
Bản chất của hoạt động đọc hiểu văn bản là quá trình lao động sáng
tạo mang tính thẩm mĩ nhằm phát hiện ra những giá trị của tác phẩm trên
cơ sở phân tích đặc trưng của văn bản. Đọc không phải chỉ là tái tạo âm
thanh từ chữ viết mà còn là quá trình thức tỉnh cảm xúc, quá trình tri giác
và nhuần thấm tín hiệu để giải mã ngôn ngữ, mã nghệ thuật, văn hóa đồng
thời với việc huy động vốn sống, kinh nghiệm cá nhân người đọc để lựa
chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa vốn có của tác phẩm. Đọc là
chúng ta đón đầu những gì mình đang đọc qua từng từ, từng câu, từng đoạn
rồi quay lại về với những gì đọc qua để kiểm chứng và đi tìm hợp sức của
tác giả để tác phẩm được tái tạo trong tính cụ thể và giàu tưởng tượng. Độc
giả là người đồng sáng tạo với nhà văn, có khác chăng là nhà văn đi từ tư
tưởng đến ngôn ngữ, còn người đọc lại đi từ ngôn ngữ đến tư tưởng, để rồi
có những sáng tạo, phát hiện và cảm nhận mà chính người viết cũng không
thể ngờ tới. Theo Valentine Asmus, “Không thể hiểu được bất cứ một tác
phẩm nào, dù nó có rõ ràng đến mấy, dù sức mạnh gợi cảm và gây ấn
tượng của nó lớn lao đến mấy, nếu bản thân người đọc không tự mình dám
gánh chịu mọi được mất, dấn thân trong ý thức của mình theo con đường
tác giả đã vạch ra trong tác phẩm?” [29, tr.54]
Trương Thị Thùy Linh- K49 Sư phạm Ngữ văn
Nếu như đọc là sự tiếp xúc văn bản về mặt ngôn từ, câu chữ trực tiếp
thì hiểu được coi là sự tiếp xúc văn bản về mặt bên trong, tức là những nội
dung tiềm ẩn. Hiểu tức là nắm vững và vận dụng được. Hiểu tức là biết kĩ
và làm tốt. Hiểu một đối tượng không chỉ dừng ở quan sát, nắm bắt cái bề
ngoài.
Muốn đọc hiểu tác phẩm văn chương người đọc phải được trang bị
tri thức nhiểu loại. Các Mác từng nói “Nếu anh muốn thưởng thức nghệ
thuật, trước hết anh phải là người được giáo dục về nghệ thuật”. Tri thức
để hiểu cấu trúc ngôn ngữ là đời sống xã hội, là ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ. Tri
thức để hiểu cấu trúc hình tượng thẩm mĩ là thể loại, là thi pháp, là phương
thức trình bày NT, và tri thức tối cần thiết để hiểu cấu trúc tư tưởng là quan
niệm nghệ thuật về con người, là thế giới quan, là triết học, chính trị, tôn
giáo, đạo đức…Quan trọng hơn cả, hiểu tác phẩm văn chương là phát hiện
ra và đánh giá mối quan hệ hữu cơ giữa các tầng cấu trúc của tác phẩm: nội
dung sự kiện, nội dung hình tượng, nội dung quan niệm của tác giả. Tri
thức cần có để đọc hiểu mối quan hệ phức tạp đa dạng ấy trong tác phẩm
văn chương là “tính mơ hồ và đa “tác phẩm mở”, là “tâm lí học miền sâu”
(Psychoanalise), là “vô thức và huyền thoại”, là “lí thuyết tiếp nhận”, là “mĩ
học” và “lí thuyết giao tiếp”…
1.3.2. Các yếu tố quan trọng trong đọc hiểu tác phẩm văn
chương
Đọc hiểu văn bản cần chú ý đến 3 yếu tố quan trọng: ngôn ngữ, cấu
trúc hình tượng nghệ thuật và cấu trúc tư tưởng tác phẩm.
a. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là chất liệu, là hiện tượng của đời sống mang ý nghĩa phổ
biến và ý nghĩa sáng tạo của cá nhân, tạo nên nét khác biệt rõ nét về phong
cách tác giả. Khởi thủy của tác phẩm NT, trong đó có văn học bao giờ
cũng là tiếng nói giữa con người mang sắc thái tình cảm. Ngôn ngữ không
chỉ là chất liệu, không phải chỉ là phương tiện mà còn là “kí hiệu của tình
Trương Thị Thùy Linh- K49 Sư phạm Ngữ văn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét