Thành tôi càng tin vào tiền đồ phát triển của thể tùy bút trong văn học cách mạng miền
Nam”[62], hay bút kí của Anh Đức, Nguyễn Thi…
Trong bài viết Phân loại tùy bút đăng trên tạp chí Khoa học xã hội, số 04/2009, tác giả
Trần Văn Minh đã phân chia các loại tùy bút, trong đó các tùy bút thuộc giai đoạn văn học
1954 – 1975 được tác giả xếp vào tiểu loại tùy bút chiến tranh và ông nhận xét “Nhưng hình
như cứu cánh của những trang tùy bút chiến tranh không ở chỗ phục dựng lại không khí lịch
sử. Nó tỏ ra quan tâm nhiều hơn đến việc giãi bày tâm tư tình cảm của con người Việt Nam
đằng sau những biến cố lịch sử ấy. Đó là tình yêu quê hương đất nước mãnh liệt, là nỗi đau
xé lòng trước cảnh loạn li tang tóc, là lòng căm thù giặc sâu sắc, là quyết tâm chiến đấu để
giành lại độc lập tự do”[48].
Trong năm 2007, luận văn thạc sĩ của Võ Thị Bích Hiền – Trường Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh với đề tài Tùy bút Việt Nam
giai đoạn 1975 – 2000, có phác thảo một vài nét về tùy bút giai đoạn 1954 – 1975 trong quá
trình phát triển của tùy bút Việt Nam…
3.2. Nghiên cứu về từng tác giả
3.2.1. Bút kí Anh Đức
Chu Nga trong bài viết bàn về Phong cách trữ tình trong sáng tác của Anh Đức, đã
lấy bút kí của Anh Đức làm đối tượng trung tâm để nghiên cứu “Đọc các bút kí của anh,
chúng ta luôn luôn có cảm giác như anh đang trực tiếp nói chuyện với ta. Anh kể cho ta nghe
về vùng quê anh – Cà Mau – nơi “cuối đất” của Tổ quốc, về những gian nan vất vả mà đồng
bào ta trong ấy đã trải qua trên hai mươi năm trời chiến đấu. Nhưng điều chính nhất mà anh
kể trong thư có lẽ vẫn là những thắng lợi ngày càng lớn mà đồng bào miền Nam đã giành
được kể từ sau ngày đồng khởi”[56].
Diệp Minh Tuyền đánh giá cao bút kí của Anh Đức ở nhiều khía cạnh như nghệ thuật
miêu tả, ngôn ngữ. Tác giả kết luận “Các bài bút kí của anh có cái chiều dài rộng lớn của
không gian bao la và cái chiều dài của thời gian đằng đẵng”[89].
Trong bài viết về tác giả Anh Đức, tác giả Phạm Văn Sĩ nhận xét “bút kí của Anh Đức
giàu tính chất hiện thực và viết khá duyên dáng”[68/253], tiếp đó tác giả phân tích những
biểu hiện nội dung, nghệ thuật của các bài bút kí để minh chứng cho nhận định trên.
Bàn về thiên nhiên trong tác phẩm của Anh Đức, đặc biệt trong bút kí, tác giả Hoài
Anh nhận xét “Anh không những đã có vốn sống viết về những cái thực sự mình nếm trải mà
còn có năng lực cảm thụ thiên nhiên, nhạy bén nắm bắt những thay đổi tinh tế trong cảnh sắc
thiên nhiên ở vùng đất Rạch Giá, Cà Mau và nói chung là miền Tây Nam Bộ”[2], ….
3.2.2. Tùy bút, bút kí Nguyễn Trung Thành
Phạm Văn Sĩ đã có những nhận xét rất xác đáng về tùy bút cũng như bút kí của
Nguyễn Trung Thành, đặc biệt là về giá trị và sức ảnh hưởng của những tác phẩm này, ông
cho rằng “Tùy bút của Nguyễn Trung Thành mang những suy nghĩ của tác giả về cuộc kháng
chiến hôm nay, về lịch sử dân tộc hôm qua và nói lên thái độ sắt son khảng khái của nhà văn
được bạn đọc chúng ta xem như một tuyên ngôn chống Mĩ, cứu nước của nhà văn miền
Nam.”[68/305]. Và “tùy bút của Nguyễn Trung Thành gợi cho người đọc nhận thức đúng về
lịch sử của dân tộc mình và tìm cách vận dụng những bài học hay của lịch sử để tăng thêm
sức mạnh chiến đấu hôm nay của chúng ta và để làm cho cuộc sống của chúng ta thêm ý
nghĩa”[68/305].
Bàn về cách viết của Nguyễn Trung Thành, Phan Nhân viết: “Nguyễn Trung Thành
suy nghĩ, lí luận và kể chuyện toàn bằng hình ảnh rút ra từ cuộc sống nên vừa trong sáng vừa
chân thật đầy sức thuyết phục. Anh chứng minh bằng những mẩu chuyện, đúng hơn là bằng
những tính cách, những nét tiêu biểu có tính chất điển hình trong cuộc sống, nên nội dung
càng phong phú, tư tưởng càng cao đẹp.”[62].
3.2.3. Tùy bút, bút kí Nguyễn Thi
Phan Nhân trong Suy nghĩ về khả năng của thể kí đã nhận xét về Nguyễn Thi và tùy
bút Dòng kinh quê hương của ông “Nguyễn Thi một cây bút vốn giàu chất thơ, trước cảnh
quê hương bị tàn phá, đã truyền cho ta tất cả những rung cảm đậm đà tình thương và lòng tự
hào bằng những hình ảnh quen thuộc của đất nước rất nên thơ”[62].
Trong bài viết của mình về Nguyễn Thi, tác giả Phạm Văn Sĩ đánh giá chung về khả
năng viết tùy bút của Nguyễn Thi, “Trong thể kí thì tùy bút được viết với bút pháp thiên về
trữ tình, với những liên hệ về truyền thống, về lịch sử anh hùng của dân tộc”[68/219], sau đó
ông tập trung phân tích các tùy bút, bút kí tiêu biểu như Dòng kinh quê hương, Đại hội anh
hùng, Những câu nói ghi trong đại hội, Ước mơ của đất…
Theo Hà Minh Đức, trong bài viết chung về Kí trong thời kì chống Mĩ cứu nước, khi
nhắc đến kí Nguyễn Thi, đặc biệt là tùy bút ông viết “Nguyễn Thi có nhiều cảm xúc đẹp trên
những trang tùy bút Dòng kinh quê hương, nhưng dường như anh muốn tập trung và ưu tiên
dành những trang viết để ghi chép về những người anh hùng đẹp của đất nước quê
hương”[16/158].
3.2.4. Bút kí Trần Hiếu Minh
Chủ yếu ca ngợi tập bút kí Cửu Long cuộn sóng, các tác giả Phạm Văn Sĩ, Phan Nhân,
Hà Minh Đức, Bích Thu đều có những nhận xét xác đáng và đáng ghi nhận về việc ghi chép
của Trần Hiếu Minh và giá trị của các tác phẩm:
“Cửu Long cuộn sóng của Trần Hiếu Minh đã ghi lại được một khí thế cách mạng
chưa từng thấy trong mỗi con người và từng thôn xóm ở mảnh đất Bến Tre”[80].
“Tập bút kí của Trần Hiếu Minh có tác dụng giáo dục tích cực, kịp thời, trước hết là vì
những chất liệu mà tác giả khai thác là những chất liệu rất quý giá, rút ra từ trong thực tế
máu lửa của chiến tranh và của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, rút ra từ trong ngọn lửa đồng
khởi, ngay trên mảnh đất quê hương của đồng khởi. Tập bút kí viết kịp thời nóng hổi không
khí cách mạng và khí thế anh hùng của người Bến Tre, đóng góp vào việc thúc đẩy sự nghiệp
chống Mĩ của nhân dân miền Nam.”[68/289].
3.2.5. Bút kí Bùi Hiển
Trong quá trình đi lâu dài trên trên vùng tuyến lửa khu 4, Bùi Hiển viết khá nhiều bút
kí. Phần lớn những bài viết đó đã được tập hợp trong Đường lớn và tập Trong gió cát (Trong
gió cát in chung với một số truyện ngắn).
Nguyễn Cương trong bài Đọc Đường lớn, bút kí của Bùi Hiển viết “Ấn tượng sâu nhất
còn để lại sau khi đọc tập bút kí này là những bài viết về tội ác đẫm máu của giặc Mĩ. Những
bài viết đó tuy chiếm số ít nhưng gây được nhiều xúc động ở người đọc. Đó là Nợ máu và
đặc biệt: Chúng nó là một lũ đê hèn”[8].
Tuy nhiên người viết bài này cũng có nhắc đến một vài khuyết điểm của tập bút kí
“Nếu như chỗ mạnh của anh là quan sát tỉ mỉ, công phu, sử dụng đến mức cao nhất tiếng nói
của bản thân chất liệu cuộc sống thì chỗ yếu của anh lại chính là sự việc có lúc bị đưa vào
quá nhiều, chưa thành những điểm tựa để khi đứng cạnh nhau làm bật lên những vấn đề của
cuộc sống. Nhược điểm đó làm cho vài bài viết của anh trở nên bằng phẳng và tản mạn”[8].
Tác giả Nguyễn Phan Ngọc lại ấn tượng với năm bài bút kí của Bùi Hiển, đó là Bám
biển, Về Đại Phong, Nhật kí Vĩnh Linh, Trong gió cát, Chúng ta chiến đấu và chiến thắng,
ông viết “Năm bài bút kí đã giúp tôi hiểu thêm những con người Việt Nam mới, dũng cảm,
đầy khí phách anh hùng, đầy tinh thần chiến đấu và chiến thắng; biết rõ thêm cuộc sống mới,
cuộc sống mỗi ngày mỗi phát triển vô cùng nhanh chóng và diệu kì.”[60].
3.2.6. Tùy bút, bút kí Chế Lan Viên.
Các bài viết của Phan Hồng Giang, Hoàng Như Mai đều ca ngợi giá trị của tập bút kí
Những ngày nổi giận. Đọc xong cuốn sách, Hoàng Như Mai có cảm giác “Tôi thấy lòng
mình bình tĩnh, và tôi chắc rằng đó cũng là cảm tưởng của nhiều người” và khẳng định “tập
bút kí của Chế Lan viên những điều anh nói, cái cách anh nói đều toát lên điều đó – đánh
giặc Mĩ, đánh thắng”[39].
Phan Hồng Giang thì lại suy nghĩ “Đọc xong Những ngày nổi giận, ấn tượng sâu sắc
để lại trong lòng người đọc là những trang sách của Chế Lan Viên đã bám sát được thời sự
và cuộc sống của chúng ta”[20/47].
Bên cạnh đó, trong bài viết của mình, hai tác giả này cũng đã chỉ ra những tồn tại mà
tập bút kí này mắc phải, chủ yếu là ở mặt ngôn ngữ, cách tạo dựng hình ảnh. “Nhưng sao rải
rác trong một số trang viết của anh, người đọc vẫn thường bắt gặp một số ý nghĩ chung
chung, một số hình ảnh, một số từ đã bị lắp lại hơi nhiều làm cho từng đoạn văn chìm đi, ít
khêu gợi”[39] và “Anh vận dụng những kĩ xảo về mặt ngôn ngữ hơi nhiều và nghĩ rằng giá
được đọc anh giản dị hơn, tự nhiên hơn còn có cảm tưởng sâu sắc hơn về sức sống anh dồn
lên ngòi bút…”[39]. Tương tự như thế, Phan Hồng Giang cho rằng một số bài trong tập bút
kí có cái ấn tượng “khách quan lạnh lùng” và “cầu kì kiểu cách”. Tác giả bài viết cho rằng
Chế Lan Viên “đã nhìn hiện thực có phần nào lạnh lùng”; hay “có khi Chế Lan Viên lạm
dụng những biểu tượng ngôn ngữ, kết quả là những biện pháp tu từ đã che lấp mất cảm xúc
thực”[20/65].
Về tập bút kí Thăm Trung Quốc, Nguyễn Xuân Nam trong bài viết Chất thơ và chất
suy nghĩ của tập bút kí Thăm Trung Quốc nhận xét “Nhìn chung đây là tập bút kí viết khá
đều tay, mang nhiều chất thơ và chất suy nghĩ”[53]. Tác giả bài viết đã phân tích những biểu
hiện của chất thơ và chất suy nghĩ đó ở các mặt như hình ảnh, bố cục, lời văn ….
3.2.7. Bút kí Thép Mới
Thép Mới là nhà văn chuyên viết tùy bút, bút kí, ông viết bút kí từ những năm kháng
chiến chống Pháp, trong thời kì chống Mĩ, bút lực của Thép Mới vẫn dồi dào và để lại được
ấn tượng đẹp.
Vũ Đức Phúc trong bài viết Bàn về các thể kí trong văn học từ cách mạng tháng Tám
đến nay có bàn về bút kí của Thép Mới “Thép Mới xuất phát từ những chi tiết nhỏ, đi sâu
vào bản chất của các sự kiện; anh cũng nghiên cứu toàn diện vấn đề trình bày những khía
cạnh chủ yếu của nó, với một lối văn đanh thép hùng hồn, giàu tính chất trữ tình khỏe
mạnh”[66] nhưng bên cạnh đó bút kí cũng có những nhược điểm cơ bản, theo tác giả này là
“chỉ mới phác họa được qua loa những nhân vật làm anh chú ý”[66].
Riêng Lê Thị Đức Hạnh thì có một bài riêng nghiên cứu về bút kí Thép Mới, đó là bài
Bút kí Thép Mới. Tác giả nhận xét “Sở dĩ những bút kí của Thép Mới có sức truyển cảm khá
mạnh là do tác giả có tình cảm cách mạng phong phú, sôi nổi và những tình cảm đó được thể
hiện trong mỗi suy nghĩ, mỗi hình tượng mà anh xây dựng”[24]. Cũng như tác giả Vũ Đức
Phúc, Lê Thị Đức Hạnh cũng nói đến nhược điểm trong bút kí Thép Mới “Thép Mới viết
chưa đều tay, hãy còn những đoạn văn hơi khô, thiếu những hình tượng thật cụ thể, sinh
động và có lúc lại quá thiên về triết lí. Đó đây còn nhắc đi nhắc lại một số hình ảnh quá quen.
Một ít bài còn ở mức tường thuật.”[24].
3.2.8. Tùy bút Nguyễn Tuân
Có thể nói đây là tác giả mà tác phẩm của ông được giới nghiên cứu quan tâm nhiều
nhất. Tuy nhiên tùy bút Nguyễn Tuân trong giai đoạn chống Mĩ thì nổi bật ở một số ý kiến
của các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn, Hà Văn Đức…
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài “Con đường Nguyễn Tuân đi đến bút kí chống Mĩ” đã lí
giải, phân tích những đổi thay trong quan niệm nghệ thuật cũng như trong tác phẩm tùy bút
trước và sau cách mạng. “Đến bút kí chống Mĩ, quả thực cuộc sống xã hội đi vào Nguyễn
Tuân có tấp nập hơn, sôi nổi hơn và điều đáng chú ý là những con người trong đó phần nhiều
được anh mô tả một cách khách quan hơn.”[43].
Quan tâm đến đặc điểm thể loại, Hà Văn Đức có bài viết “Tùy bút Nguyễn Tuân sau
cách mạng tháng Tám”, ông nhận thấy tùy bút giai đoạn chống Mĩ của Nguyễn Tuân “Chất
trữ tình đậm đà được kết hợp với chất trí tuệ sắc sảo, với những liên tưởng phong phú, táo
bạo bất ngờ đã làm nên nét độc đáo riêng biệt của Nguyễn Tuân” hay “đặc sắc trong tùy bút
của Nguyễn Tuân còn ở cái tài kể chuyện rất vui, rất hóm và có duyên của ông.”[18].
Gần đây, năm 2004, Nguyễn Thị Hồng Hà trong luận án tiến sĩ Ngữ Văn Trường Đại
học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, với đề tài Đặc
trưng tùy bút Nguyễn Tuân, đã nêu lên toàn bộ đặc trưng tùy bút Nguyễn Tuân cả về nội
dung và nghệ thuật, trong đó những tác phẩm tùy bút giai đoạn 1954 – 1975 của Nguyễn
Tuân cũng được quan tâm rất nhiều. Đặc biệt về hai tập tùy bút nổi tiếng Sông Đà và Hà Nội
ta đánh Mĩ giỏi, tác giả luận án đã cho rằng: “Nếu Sông Đà là một bộ tranh liên hoàn hoành
tráng diễn tả vẻ đẹp độc đáo cùng khí thế mở mang lao động đất nước, với chất men lãng
mạn đầy chất thơ; thì Hà nội ta đánh Mĩ giỏi là thiên anh hùng ca của tọa độ lửa kiên cường,
do chính một nhà văn gốc Hà Nội viết. Nó thể hiện được bản lĩnh văn hóa cao đẹp của thủ đô
nghìn năm văn hiến”[22/33]…
4. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài Đặc điểm tùy bút, bút kí trong văn học cách mạng Việt Nam giai
đoạn 1954 – 1975, chúng tôi đã sử dụng kết hợp những phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp khảo sát các tác phẩm tùy bút, bút kí của các tác giả đã nêu trong
mục 2, trên cơ sở đó chọn lọc những tác phẩm tiêu biểu để phục vụ những yêu cầu cụ thể của
từng chương.
4.2. Phương pháp so sánh, chúng tôi sử dụng so sánh lịch đại – so sánh những tác
phẩm thời kì trước, so sánh đồng đại – so sánh những tác phẩm của các tác giả cùng thời với
nhau từ đó rút ra những đặc trưng chung nhất của tùy bút, bút kí giai đoạn này cũng như
nhận ra được nét khác biệt của mỗi tác giả.
4.3. Phương pháp phân tích, người viết sử dụng phương pháp này nhằm đi sâu vào các
tác phẩm về mặt nội dung và nghệ thuật.
4.4. Phương pháp nghiên cứu lịch sử nhằm tái hiện những giai đoạn lịch sử dân tộc và
những chặng đường phát triển của hai thể loại.
5. Đóng góp của luận văn
Với đề tài Đặc điểm của tùy bút, bút kí trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn
1954 – 1975, luận văn kì vọng sẽ có những đóng góp khoa học nhất định.
Luận văn khảo sát và xác định những đặc điểm về nội dung và đặc sắc nghệ thuật của
tùy bút, bút kí trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975.
Trên cơ sở đó, Luận văn ghi nhận những thành công, những đóng góp cũng như những
hạn chế của tùy bút, bút kí giai đoạn 1954 – 1975 đối với văn học cách mạng Việt Nam.
Từ việc nghiên cứu những thành tựu chung, Luận văn bước đầu tìm hiểu những nét
độc đáo riêng trong phong cách tùy bút, bút kí của một số tác giả tiêu biểu của giai đoạn văn
học này.
6. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 139 trang, ngoài phần Dẫn nhập 11 trang, phần Kết luận 4 trang, phần
Tài liệu tham khảo 8 trang, Luận văn trình bày thành 3 chương
Chương 1. Diện mạo và vị trí của tùy bút, bút kí văn học trong văn học cách mạng Việt Nam
giai đoạn 1954 – 1975.
Chương 2. Bức tranh hiện thực sinh động, phong phú.(đặc trưng về nội dung)
Chương 3. Bút pháp đa dạng, linh hoạt.(đặc trưng về nghệ thuật)
Chương 1
DIỆN MẠO VÀ VỊ TRÍ CỦA TÙY BÚT, BÚT KÍ VĂN HỌC TRONG
VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1954 – 1975
Kí là một thể loại văn học “áp sát” đời sống. Thể loại tùy bút, bút kí giai đoạn này đã
bám sát, phản ánh kịp thời hiện thực đời sống. Để tìm hiểu thành tựu của hai thể loại này,
Luận văn xin trình bày khái quát về bối cảnh lịch sử giai đoạn 1954 – 1975. Trên cơ sở đó
phác họa diện mạo của hai thể loại và tìm hiểu vị trí của nó trong bức tranh chung của văn
học cách mạng giai đoạn này.
1.1. Bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975
Giai đoạn lịch sử 1954 – 1975 xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi quan trọng, nhiều sự
kiện liên tiếp nổ ra đã tác động lớn đối với vận mệnh dân tộc. Có thể thấy những biến động
đó trong những chặng đường lịch sử sau:
1.1.1. Từ năm 1954 đến năm 1964
Chiến thắng Đông – xuân 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ
(ngày 7-5-1954) đã buộc thực dân Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ, rút quân về nước lập lại
hoà bình trên cơ sở thừa nhận chủ quyền dân tộc của ba nước Đông Dương, kết thúc thắng
lợi cuộc kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên do tình hình chính trị thế giới phức tạp, Việt
Nam tạm thời bị chia làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau: miền Bắc đã hoàn
toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mĩ và các lực
lượng tay sai thống trị. Vì thế sự nghiệp cách mạng vẫn chưa hoàn thành. Hai yêu cầu đặt ra
là xây dựng miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Đối với miền Bắc, từ năm 1954 đến 1960, cách mạng đặt ra nhiệm vụ hết sức cấp bách
là khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Công cuộc khôi phục kinh tế diễn ra trong
trong điều kiện hết sức khó khăn vì đất nước vốn là một nước thuộc địa, lại vừa trải qua
chiến tranh, cơ sở vật chất cũng như các yếu tố tinh thần bị tàn phá nặng nề. Trước tình hình
đó, tháng 9 – 1954, Bộ chính trị đã ra nghị quyết và vạch rõ nhiệm vụ trước mắt là ổn định
trật tự xã hội, ổn định vật giá, ổn định thị trường. Trọng tâm ở cả thành phố và nông thôn là
phục hồi và nâng cao sản xuất, phục hồi kinh tế quốc dân mà then chốt là phát triển sản xuất
nông nghiệp. Với quyết tâm cao, cuối năm 1957 kế hoạch khôi phục kinh tế đã căn bản hoàn
thành và nhiều chỉ tiêu đã hoàn thành vượt mức. Nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận
tải đã có bộ mặt mới, đặc biệt các ngành văn hóa, giáo dục, y tế đã phát triển nhanh chóng.
Sau ba năm khôi phục kinh tế với nhiều thành quả quan trọng, miền Bắc sôi nổi bước
vào thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế. Không khí này diễn ra ở tất cả các
vùng từ đồng bằng tới miền núi, ở tất cả các ngành từ công nghiệp, nông nghiệp, thương
nghiệp, giáo dục, y tế. Với những chương trình như hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển
thành phần kinh tế quốc doanh…. “Kết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa đã có tác động tích cực
trong việc xoá bỏ cơ bản về chế độ người bóc lột người, góp phần thúc đẩy sản xuất phát
triển, nhất là trong điều kiện có chiến tranh”[23/148]. Thắng lợi của kế hoạch ba năm (1958
-1960) và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những chuyển biến to lớn trên miền Bắc nước
ta.
Ở miền Nam, trước khi hiệp định Giơnevơ được kí kết, Mĩ đã đưa Ngô Đình Diệm lên
làm thủ tướng bù nhìn ở miền Nam Việt Nam. Sau khi lên nắm chính quyền, Ngô Đình Diệm
đã xây dựng miền Nam thành “quốc gia mạnh”, do đó chúng triệt để thi hành những chính
sách độc ác, dã man, nguy hiểm nhất là chúng đưa “lối sống Mĩ” tràn vào miền Nam để đầu
độc nhân dân ta, nhất là tầng lớp thanh – thiếu niên. Chúng vừa mua chuộc, vừa mị vừa đàn
áp trắng trợn, cưỡng bức nhân dân trong các chiến dịch tố cộng, vu khống tố cáo cộng sản,
đề cao Ngô Đình Diệm. Tình hình đó khiến cho cách mạng bị tổn thất nặng nề. Nhiều phong
trào đấu tranh đã nổ ra, đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị kéo dài cho đến năm 1960.
Tiêu biểu trong các phong trào đó là phong trào “đồng khởi”. Xuất phát từ yêu cầu của nghị
quyết 15 của hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng vào tháng 1 – 1959, ngọn lửa đồng
khởi đã cháy lên trên nhiều vùng rộng lớn ở miền Nam, từ Ninh Thuận, Bình Thuận, Quãng
Ngãi cho đến các vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long – đặc biệt là ở tỉnh Bến
Tre. Thắng lợi của phong trào đồng khởi đã đánh dấu bước phát triển của cách mạng miền
Nam và sự suy yếu của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Từ năm 1961 đến năm 1964, bối cảnh lịch sử xã hội giai đoạn này có một sự biến
chuyển tích cực rõ nét, miền Bắc đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội – đây được coi nhiệm
vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp cách mạng của cả nước. Còn miền Nam tiếp tục thực
hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân – cuộc cách mạng này có ý nghĩa quyết định trực
tiếp để đánh đổ đế quốc và tay sai, thực hiện hoà bình và thống nhất đất nước.
Miền Bắc, từ năm 1961 Đảng đã xác định lấy xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng
tâm. Một phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội được dấy lên sôi nổi khắp nơi. Nếu
giai đoạn trước, Đảng chú ý phát triển nông nghiệp thì sang giai đoạn này đã bước đầu chú ý
công nghiệp hoá nước nhà – điều này được thể hiện rất rõ trong kế hoạch năm năm lần thứ
nhất(1961 – 1965). Trong công nghiệp, các ngành công nghiệp chủ yếu như điện, cơ khí,
luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng, đã được hình thành và phát triển rất nhanh, nhất là
ngành điện và cơ khí. Đây được coi là điều kiện thuận lợi cho các ngành công nghiệp nói
chung phát triển với tốc độ nhanh hơn nữa. Nông nghiệp cũng được ưu tiên đầu tư đúng
mức, đặc biệt đã chú ý phát triển hợp tác xã nông nghiệp và nông trường quốc doanh để làm
cơ sở cho sự phát triển nông nghiệp. Văn hoá, giáo dục ngày càng ổn định, đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Trong năm năm này, đời sống của
nhân dân miền Bắc ổn định, với tinh thần tất cả cho chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã thực hiện
thắng lợi kế hoạch năm năm lần thứ nhất, tạo ra được sự chuyển biến mạnh mẽ và khơi gợi
nhiều phong trào thi đua giữa các tỉnh với nhau. “Thắng lợi đó đã tạo cho miền Bắc cơ sở
chính trị tinh thần và vật chất để tự bảo vệ, liên tiếp đánh thắng các cuộc chiến tranh phá
hoại của Mĩ sau này, đồng thời làm trọn nhiệm vụ cơ sở của cách mạng giải phóng miền
Nam, hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam và là hậu phương lớn của cả cách mạng
ba nước Đông Dương”[23/179].
Trong khi đó, ở miền Nam, tình hình xã hội đã có nhiều biến động. Sau khi Kennơđi
lên làm tổng thống, Mĩ đã điên cuồng chống phá cách mạng Việt nam dưới nhiều hình thức –
tiêu biểu là thực hiện kiểu chiến tranh đặc biệt. Chúng đã dồn nhân dân vào ấp chiến lược để
dễ dàng cho chúng trong việc thực hiện âm mưu của mình. Chúng dùng sức mạnh của bộ
máy quân sự và chính trị để cưỡng bức, càn quét, chúng còn tiến hành những cuộc hành quân
càn quét dài ngày vào những vùng Bến Cát, Tây Ninh, Bình Định, Phú Yên…, đời sống của
nhân dân vô cùng cực khổ, đau thương, qua những trận càn đó, cách mạng đã có rất nhiều
mất mát, hi sinh. Tháng 1 – 1961, Bộ chính trị họp, quyết định về những nhiệm vụ công tác
trước mắt của cách mạng miền Nam, theo đó phong trào cách mạng đã có nhiều sự thay đổi.
Đấu tranh vũ trang được phát huy với quy mô ngày càng lớn, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh
chính trị. Phong trào này bước đầu đã phá vỡ từng mảng chính quyền địch ở nông thôn, tiêu
diệt và làm tan rã hàng vạn tề ngụy, phá huỷ gần hết các “khu dinh điền”, “khu trù mật” của
địch… đưa khí thế cách mạng ngày càng dâng cao. Đã có những sự kiện điển hình, tiêu biểu
cho phong trào chống Mĩ trong giai đoạn này như chiến thắng ấp Bắc – Mĩ Tho vào tháng 1
– 1963, hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối Mĩ (11-6-1963)… đã làm thất bại
kế hoạch Xtalây – Taylo mà Mĩ đưa ra đồng thời những sự kiện đó đã gây được xúc động
mạnh trong nhân dân, từ đó làm cho khí thế cách mạng ngày càng trào dâng mãnh liệt. Sự
phá sản của chiến tranh đặc biệt đã đánh dấu một bước phát triển mới của cách mạng miền
Nam, minh chứng cho sự đúng đắn, kịp thời trong đường lối lãnh đạo của Đảng.
1.1.2. Từ năm 1965 đến năm 1975
Trong ba năm (1965 – 1968), miền Nam chiến đấu chống chiến lược chiến tranh cục
bộ của Mĩ. Ỷ vào ưu thế quân đội đông, vũ khí hiện đại, hỏa lực mạnh, cơ động nhanh,
chúng đã tiếp tục, thường xuyên mở những cuộc càn quét lớn như cuộc hành quân Áttơnborơ
đánh vào khu Dương Minh Châu vào tháng 11 – 1966, cuộc hành quân Xêđaphôn vào Trảng
Bàng – Bến Súc – Củ Chi vào tháng 1 – 1967, cuộc hành quân Gianxơn Xiti đánh vào Bắc
Tây Ninh từ tháng 2 đến tháng 4 – 1967. Tuy nhiên, Mĩ tăng cường và mở rộng chiến tranh
trong thế thua, bị động và một tinh thần chiến đấu bệ rạc nên không bao lâu trước sự tấn
công ồ ạt và sự kiên cường đánh trả, thế chủ động “tìm Mĩ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” đang
dâng cao của nhân dân ta thì chiến tranh cục bộ của Mĩ cũng bị phá sản một cách nhanh
chóng. Đỉnh cao cho phong trào cách mạng những năm 1965 – 1968 là cuộc tổng tiến công
và nổi dậy vào Tết Mậu Thân năm 1968 đã làm cho địch choáng váng. Với cuộc tập kích
này, tuy còn nhiều hạn chế nhưng đã tạo ra bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước, làm lung lay ý chí xâm lược của quân viễn chinh Mĩ, buộc chúng phải
xuống thang chiến tranh.
Không từ bỏ âm mưu xâm lược của mình, Mĩ dựng lên “sự kiện vịnh Bắc bộ” và chính
thức mở rộng cuộc chiến tranh không quân và hải quân lần thứ nhất phá hoại miền Bắc vào
ngày 7 – 2 – 1965. Trước tình hình đó, miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại,
vừa phối hợp với miền Nam chống chiến tranh cục bộ, lại vừa tiếp tục xây dựng chủ nghĩa
xã hội trong điều kiện chiến tranh và làm nghĩa vụ hậu phương lớn.
Từ năm 1969 đến năm 1973, sau khi trúng cử tổng thống, chính thức bước vào Nhà
Trắng, đầu năm 1969 Nich xơn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh Việt Nam với chiến lược Việt
Nam hoá chiến tranh, “dùng người Việt đánh người Việt”. Ních xơn đưa ra cùng lúc ba loại
chiến tranh là Chiến tranh giành dân, Chiến tranh hủy diệt và Chiến tranh bóp nghẹt, trên cơ
sở huy động sức mạnh tối đa về quân sự của nước Mĩ kết hợp với thủ đoạn chính trị và ngoại
giao xảo quyệt. Tất cả những chính sách đó đã khiến cho nhân dân miền Nam rơi vào đời
sống vật chất và tinh thần vô cùng cực khổ, mất mát hi sinh ngày càng nhiều.
Đáp lại lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, nhiều phong trào quần chúng đã nổ ra ở hầu
khắp các vùng nông thôn Trung Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long với quyết tâm
chống ác ôn, phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ. Ở thành thị, công nhân, học sinh sinh viên,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét