Chuyên đề thực tập Trường ĐH KTQD
Các loại doanh thu: Doanh thu theo từng loại hình SXKD và bao gồm:
Doanh thu bán hàng
Doanh thu cung cấp dịch vụ
Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi tức được chia.
Ngoài ra còn các khoản thu nhập khác.
Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền thu được hoặc số thu được phải
thu tính theo giá bán của số sản phẩm, hàng hoá được xác định là đã bán hay
đã tiêu thụ. Hay nói cách khác đó chính là toàn bộ số tiền bán hàng.
Đối với mỗi một đối tượng nộp thuế khác nhau thì nội dung của doanh
thu bán hàng cũng khác nhau.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế
thì doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán hàng( chưa có thuế GTGT) bao
gồm cả phụ thu và phí thu bên ngoài giá bán( nếu có) mà doanh nghiệp được
hưởng.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, đối
với những sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng nộp thuế
GTGT thì doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán hàng thu được( bao gồm
cả thuế) phụ thu và phí thu bên ngoài( nếu có) mà doanh nghiệp được hưởng.
Ngoài việc hạch toán doanh thu bán hàng, kế toán còn phải theo dõi tình
hình thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước thông qua các khoản thuế tiêu
thụ như: thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu.
Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, để đẩy mạnh việc bán ra thu hồi
tiền nhanh chóng tiền hàng, doanh nghiệp cần có chế độ khuyến khích đối với
khách hàng. Nếu khách hàng mua với khối lượng hàng hoá lớn sẽ được doanh
nghiệp giảm giá, nếu khách hàng thanh toán sớm tiền hàng sẽ được doanh
nghiệp chiết khấu thanh toán, còn nếu hàng hoá của doanh nghiệp kém phẩm
chất thì khách hàng có thể không chấp nhận thanh toán và trả lại hàng hoặc
yêu cầu doanh nghiệp giảm giá.Do vậy kế toán hạch toán cả các khoản giảm
trừ doanh thu như: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả
lại. Các khoản này sẽ không được hạch toán vào doanh thu. Chỉ có các khoản
thoả mãn các điều kiện ghi nhận doanh thu mới được ghi nhận là doanh thu
bán hàng. Theo chuẩn mực số 14 - Doanh thu và thu nhâp khác thì điều kiện
ghi nhận doanh thu là:
5
Chuyên đề thực tập Trường ĐH KTQD
(1) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
(2) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người
sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
(3) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
(4) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao
dịch bán hàng.
(5) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
1.2.2 Các phương thức bán hàng
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, việc lựa chọn áp dụng
các phương thức bán hàng và các chính sách khuyến khích tiêu thu góp phần
quan trọng vào việc thực hiện kế hoạch tiêu thụ hàng hoá, đồng thời giúp cho
doanh nghiệp có cơ sở mở rộng, chiếm lĩnh thị trường, Phương thức bán
hàngcó ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng các tài khoản kế toán phản ánh
tình hình xuất kho hàng hoá. Đồng thời nó có tính quyết định đối với việc xác
định thời điểm bán hàng, hình thành doanh thu bán hàng và tiết kiệm chi phí
bán hàng để tăng lợi nhuận.
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất thường sử dụng các phương thức
bán hàng sau:
• Bán hàng theo phương thức gửi hàng :
Theo phương này, định kỳ doanh nghiệp gửi hàng cho khách hàngcơ sở
của thoả thuận trong hợp đồng mua bán giữa hai bên và giao hàng tại địa
điểm đã quy ước trong hợp đồng. Khi xuất kho gửi hàng đi, hàng vẫn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp nên chưa xác định là đã tiêu thụ do đó chưa
được hạch toán ngay vào doanh thu, chỉ hạch toán váo doanh thu khi:
+ Doanh nghiệp đã nhận được tiền hàng của khách hàng trả( tiền mặt,
giấy báo có của ngân hàng, séc thanh toán ).
+ Khách hàng đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán.
+ Khách hàng đã ứng trước tiền mua hàng về số hàng gửi đi bán.
+ Số hàng gửi đi bán áp dụng phương thức thanh toán theo kế haọch
thông qua ngân hàng.
• Bán hàng theo phương thức giao hàng trực tiếp :
6
Chuyên đề thực tập Trường ĐH KTQD
Theo phưong thức này bên khách hàng uỷ quyền cho cán bộ nghiệp vụ
đến nhận hàng tại kho của doanh nghiệp. Khi nhận hàng xong, Người nhận ký
vào hoá đơn bán hàng Khi đó hàng mới được daonh nghiệp coi là tiêu thụ
và hạch toán vào doanh thu ngay.
• Bán hàng giao thẳng không qua nhập kho :
Theo phương thức bán hàng này, doanh nghiệp mua hàng của người
cung cấp bán thẳng cho khách hàng không qua kho của daonh nghiệp. Như
vậy, nghiệp vụ mua bán diễn ra đồng thời. Phương thức này được chia làm
hai trường hợp :
Mua hàng giao bán thẳng cho người mua.
Bán hàng giao tay ba - bên cung cấp, doanh nghiệp và người mua cùng
giao nhận hàng. Trường hợp này khi bên mua nhận hàng và xác nhận vào hoá
đơn bán hàng thì hàng đó được xác nhận là tiêu thụ. Phương thức này chủ yếu
áp dụng trong các doanh nghiệp thương mại.
• Bán hàng trả góp, trả chậm :
Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì số hàng đó
được coi là tiêu thụ và doanh nghiệp mất quyền sở hữu về số hàng đó. Người
mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua, số tiền còn lại người mua
chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi nhất định.
Thông thường thì số tiền trả ở các kỳ sau phải bằng nhau bao gồm một phần
tiền gốcvà một phần lãi trả chậm.
• Phương thức bán hàng trao đổi hàng :
Theo phương thức này, doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng và đổi
lại khách hàng giao cho doanh nghiệp vật tư, hàng hoá tương đương. Phương
thức này có thể chia làm ba trường hợp :
Xuất kho lấy hàng ngay.
Xuất hàng trước lấy vật tư, hàng hoá sau .
Nhận hàng trước, xuất hàng trả sau.
Tuy nhiên trong các doanh nghiệp thương mại thì phương thức bán hàng
có khác đôi chút, Bán hàng trong doanh nghiệp thương mại chỉ bao gồm hai
khâu : khâu bán buôn và khâu bán lẻ.
1.2.2.1. Bán buôn hàng hoá
7
Chuyên đề thực tập Trường ĐH KTQD
Bán buôn hàng hoá thường được hiểu là bán với khối lượng lớn. Và trong bán
buôn hàng hoá thường sử dụng các phương thức bán hàng sau:
Bán buôn qua kho :
Theo phương thức này, hàng hoá xuất từ kho của doanh nghiệp thương
mại để bán cho người mua. Phương thức này lại phân biệt thành hai hình thức
là : Bán hàng trực tiếp qua kho và bán qua kho theo hình thức chuyển hàng.
+ Bán trực tiếp qua kho:
Theo hình thức này, doanh nghiệp xuất hàng từ kho giao bán trực tiếp
cho người mua do bên mua uỷ nhiệm đến nhận hàng trực tiếp. Chứng từ bán
hàngtring trường hợp này là hoá đơn hoặc phiếu suất kho do doanh nghiệp
lập. Hàng hó được coi là bán khi người mua đã ký nhận hàng và ký xác nhận
trên chứng từ bán hàng, còn việc thanh toán tiền hàng với bên mua tuỳ thuộc
vào hợp đồng đã ký giữa hai bên.
+ Bán hàng qua kho theo hình thức chuyển hàng :
Theo hình thức này, doanh nghiệp xuất hàng từ kho chuyển đi cho người
mua theo hợp đồng bằng phương tiện vận tải tự có hoặc thuê ngoài. Hàng hoá
gửi đi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, khi nào bên mua đã nhận
được hàng và chấp nhận thanh toán thì mới chuyển quyền sở hữu và doanh
nghiệp coi đó là thời điểm hàng gửi đi được coi là đã bán. Chi phí vận chuyển
do doanh nghiệp chịu hoặc do bên mua phải trả tuỳ theo điều kiện quy định
trong hợp đồng đã ký. Chứng từ trong hình thức này là hoá đơn GTGT hoặc
hoá đơn kiêm phiếu xuất kho do doanh nghiệp lập.
Bán buôn vận chuyển thẳng:
Đây là trường hợp tiêu thụ hàng hoá bán cho khách hàng không qua
nhập kho của doanh nghiệp. Doanh nghiệp mua hàng hoá của bên cung cấp để
bán thẳng cho người mua.Phương thức này bao gồm : Bán vận chuyển thẳng
trực tiếp và bán vận chuyển theo hình thức chuyển hàng.
1.2.2.2. Bán lẻ hàng hoá
Trong khâu bán lẻ,chủ yếu là bán hàng thu bằng tiền mặt, và thường thì
hàng hoá xuất giao trực tiếp cho khách hàng và thu tiền trong cùng một thời
điểm. Vì vậy thời điểm tiêu thụ đối với khâu bán lẻ được xác định ngay khi
giao hàng hoá cho khách hàng.
8
Chuyên đề thực tập Trường ĐH KTQD
Bán lẻ cũng có nhiều hình thức khác nhau. Nhưng chủ yếu bao gồm hai
hình thức sau:
Bán lẻ thu tiền trực tiếp :
Theo phương thức bán hàng này, nhân viên bán hàng hoàn toàn chịu
trách nhiệm vật chất về số hàng đã nhận để bán ở quầy hàng, trực tiếp thu tiền
và hàng cho khách hàng mua đồng thời ghi chép vào thẻ quầy hàng. Nghiệp
vụ bán hàng hoàn thành trực diện với người mua hàng và thường không lập
chúng từ cho từng nghiệp vụ bán hàng.
Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý bán lẻ của từng quầy hàng, thì cuối ca,
cuối ngày hoặc định kỳ ngắn, nhân viên bán hàng kiểm kê lượng hàng hoá
hiện còn ở quầy hàng và dựa vào quan hệ cân đối hàng luân chuyển trong ca,
trong ngày để xác định số lượng hàng bán ra của từng mặt hàng,lập báo cáo
bán hàng trong ca, trong ngày. Tiền bán hàng hàng ngày nhân viên bán hàng
kê vào giấy nộp tiền để nộp cho thủ quỹ của doanh nghiệp.
Phương thức bán hàng giúp cho việc bán hàng được nhanh chóng hơn
tuy nhiên nó lại bộc lộ nhược điểm :
+ Nếu quản lý không chặt chẽ thì sẽ xảy ra hiện tượng lạm dụng tiền bán
hàng.
+ Do người bán hàng vừa thu tiền vừa bán hàng nên trong những giờ cao
điểm dễ gây nhầm lẫn, mất mát.
Phương thức bán lẻ thu tiền tập trung :
Theo phương thức này, nghiệp vụ thu tiền của khách hàng và giao hàng
trả khách là tách rời nhau. Mỗi quầy hoặc liên quầy bố trí nhân viên thu ngân
làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết hoá đơn hoặc giao tích kê cho khách
hàng để khách hàng ra nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán hàng giao.
Cuối ca, cuối ngày nhân viên thu ngân làm giấy nộp tiền bán hàng, nhân viên
bán hàng căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng trả khách hoặc kiểm kê
hàng còn lại cuối ca, cuối ngày để xác định lượng hàng đã trả khách hàng, lập
báo cáo bán hàng trong ca, trong ngày. Báo cáo bán hàng được coi là căn cứ
để hạch toán doanh thu và đối chiếu với số tiền đã nộp tiền trên giấy nộp tiền.
Phương pháp này tách rời giữa người bán hàng và người thu tiền do đó
tránh được những nhầm lẫn, sai sót, mất mát. Tuy nhiên phương thức này có
9
Chuyên đề thực tập Trường ĐH KTQD
nhược điểm là gây phiền hà cho khách hàng. Do vậy hiện nay phương pháp
này ít được áp dụng, chủ yếu là áp dung cho những mặt hàng có giá trị lớn.
Ngoài hai phương thức trên trong bán lẻ còn có các hình thức khác như
bán lẻ tự phục vụ, bán hàng tự động
1.2.3. Kế toán doanh thu bán hàng, thuế và các khoản giảm trừ doanh
thu
1.2.3.1. Kế toán doanh thu bán hàng
1.2.3.1.1. Chứng từ và tài khoản sử dụng
Chứng từ kế toán thường sử dụng để hạch toán doanh thu bán hàng
- Hoá đơn GTGT MS 01/GTKT-3LL áp dụng cho các doanh nghiệp
thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
Hoá đơn bán hàng thông thường MS 01/GTTT-3LL áp dụng cho doanh
nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
Phiếu xuất kho MS 02-VT.
Bảng kê hàng gửi bán đã tiêu thụ.
Các chứng từ thanh toán : Phiếu thu, Giấy báo ngân hàng
Thẻ quầy hàng ( mẫu 15 - BH)
Tờ khai thuế GTGT ( mẫu 07A/GTGT) và các chứng từ liên quan khác
như phiếu nhập kho hàng bán bị trả lại.
Tuỳ theo từng doanh nghiệp có đặc thù thì các nghiệp vụ phát sinh như
điều chuyển hàng hoá tiêu thụ có thể sử dụng phiếu xuất kho kiêm vận
chuyển nội bộ( MS 03 PXK-3LL), bảng kê bán lẻ hàng hoá dịch vụ
Tài khoản sử dụng :
- Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán của hoạt động sản xuất
kinh doanh.
TK 511 không có số cuối kỳ, có 4 TK cấp 2:
+ TK 5111 : Doanh thu bán hàng hoá
+ TK 5112 : Doanh thu bán thành phẩm
+ TK 5113 : Doanh thu cung cấp dịch vụ
+ TK 5114 : Doanh thu trợ cấp, trợ giá.
Tài khoản 512 - Doanh thu nội bộ
10
Chuyên đề thực tập Trường ĐH KTQD
Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của số sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ, lao vụ tiêu thụ trong nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc
trong cùng một công ty, tổng công ty hạch toán toàn ngành.
TK 512 có 3 TK cấp 2 :
+ TK 5121 : Doanh thu bán hàng hoá
+ TK 5122 : Doanh thu bán thành phẩm
+ TK 5123 : Doanh thu cung cấp dịch vụ.
Tài khoản 3331 - Thuế GTGT chi tiết 33311 - Thuế GTGT đầu ra
Nội dung : Tài khoản này phản ánh số thuế GTGT mà doanh nghiệp phải
nộp cho hàng hoá bán ra.
Tài khoản này áp dụng chung cho đối tượng nộp thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ thuế và đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp
trực tiếp.
Tài khoản 3387 - Doanh thu chưa thực hiện
Nội dung : Tài khoản này phản ánh các khoản doanh thu sau :
+ Số tiền nhận trước nhiều năm về cho thuê tài sản( cho thuê hoạt động)
+ Khoản chênh lệch giữa bán hàng trả chậm, trả góp theo cam kết với giá
bán trả ngay.
+ Khoản lãi nhận trước khi cho vay vốn hoặc mua các công cụ nợ (trái
phiếu, tín phiếu )
Ngoài ra còn sử dụng một số tài khoản khác như : TK 111, TK112,
TK131
1.2.3.1.2 Phương pháp hạch toán
Trường hợp bán hàng trực tiếp cho khách hàng và bán hàng qua đại lý,
ký gửi hàng : Căn cứ vào hoá đơn GTGT phản ánh doanh thu bán hàng:
TK 911 TK 511 TK 111,112,131
(4) ( 1a & 1b )
TK 521,531,532
(3)
TK 641
TK3331
11
Chuyên đề thực tập Trường ĐH KTQD
( 2 )
Giải thích :
1a. Doanh thu bán hàng phát sinh ( giá chưa thuế) của trường hợp bán
hàng trực tiếp.
1b. Doanh thu bán hàng của trường hợp bán cho các đại lý, ký gửi
hàng.Bên đại lý thanh toán tiền hàng cho chủ hàng sau khi trừ chiết
khấu được hưởng.
2. Phát sinh các khoản làm giảm trừ doanh thu như hàng bán bị trả lại,
giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại
3. Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu
4. Kết chuyển doanh thu để xác định kết quả.
Trong trường hợp bán hàng qua các đại lý, kí gửi hàng, tại bên giao
hàng( chủ hàng) khi phản ánh trị giá vốn hực tế xuất kho kí gửi, kế toán ghi
sổ:
Nợ TK 157 - Hàng gửi đi bán
Có TK 156 - Hàng hoá
Trường hợp bán hàng trả góp, trả chậm:
a) Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
TK 911 TK 511 TK111,112
(1)
(4)
TK 131
TK 3331 (2)
TK 515 TK3387
(3)
12
Chuyên đề thực tập Trường ĐH KTQD
Giải thích:
1. Phản ánh ghi nhận doanh thu, số tiền đã thu được và số chưa thu được
và khoản lãi do bán trả góp.
2. Khi thu được tiền các kỳ tiếp theo.
3. Từng kỳ, tính toán và xác định doanh thu hoạt động tài chính do bán
hàng trả chậm, trả góp.
4. Kết chuyển doanh thu để xác định kết quả.
b) Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:
Trong trường hợp này chỉ khác trương hợp trên là doanh thu được ghi
nhận bao gồm cả thuế GTGT trong tổng giá thanh toán trả ngay một lần, đến
cuối kỳ, xác định thuế GTGT phải nộp cho số hành đã bán trả góp, trả
chậm.Cụ thể:
Phản ánh ghi nhận doanh thu, số tiền đã thu và sẽ phải thu lãi do bán trả
chậm, trả góp, kế toán ghi sổ :
Nợ TK 111,112 ( Số tiền đã thu được)
Nợ TK 131 (Số tiền còn phải thu)
Có TK 511 ( Tổng giá thanh toán theo số tiền trả ngay một lần
bao gồm cả thuế GTGT)
Có TK 3387 ( Chênh lệch giữa tổng số tiền bán theo giá trả góp với
tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế GTGT theo số tiền trả một
lần)
Cuối kỳ, xác định thuế GTGT phải nộp cho số hàng đã bán trả góp trả
chậm, kế toán ghi sổ:
Nợ TK 511
Có TK 3331 - Thuế GTGT đầu ra.
Các bút toán phản ánh thu tiền ở kỳ tiếp theo và xác định doanh thu hoạt
động tài chính cũng như bút toán ở mục a.
1.2.3.2. Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu
Chiết khấu thương mại
- Chiết khấu thương mại là khoản tiền mà DN đã giảm trừ, hoặc đã thanh
toán cho người mua hàng do người mua hàng đã mua hàng hoá với khối
13
Chuyên đề thực tập Trường ĐH KTQD
lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh
tế mua bán hoặc các cam kết mua bán hàng.
- Kế toán chiết khấu thương mại sử dụng TK 521 - Chiết khấu thương
mại.
Nội dung tài khoản này : Phản ánh khoản tiền mà người mua được
hưởng theo đúng chính sách chiết khấu của doanh nghiệp.
- Tài khoản này có 3 tài khoản cấp 2:
TK 5211 - Chiết khấu hàng hoá
TK 5212 - Chiết khấu thành phẩm
TK 5213 - Chiết khấu dịch vụ.
Kế toán giảm giá hàng bán :
- Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ được doanh nghiệp( bên bán)
chấp thuận một cách đặc biệt trên giá đã thoả thuận trong hoá đơn, vì lí do
hàng bán bị kém phẩm chất, không đúng quy cách, hoặc không đúng thời hạn
ghi trên hợp đồng.
- Tài khoản sử dụng: TK 532 - Giảm giá hàng bán
Nội dung: Tài khoản này phản ánh các khoản giảm trừ do việc chấp
thuận giảm giá ngoài hoá đơn do lỗi của doanh nghiệp ( bên bán).
Kế toán hàng bán bị trả lại:
Hàng bán bị trả lại là số sản phẩm, hàng hoá doanh nghiệp đẫ xác định là
tiêu thụ, nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết
trong hợp đồngkinh tế như: hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại:
Doanh thu hàng bị = Số lượng hàng bị x Đơn giá bán đã
trả lại trả lại ghi trên hoá đơn
Chứng từ sử dụng: văn bản đề nghị trả lại hàng của người mua ghi rõ lý
do kèm theo hoá đơn( nếu trả lại toàn bộ) hoặc bản sao hoá đơn( nếu trả lai
một phần) và chứng từ nhập lại kho của doanh nghiệp số hàng trên.
1.2.3.3. Kế toán các khoản thuế phải nộp nhà nước
Thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu là các khoản thuế
gián thu, tính trên doanh thu bán hàng. Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu
được tính trừ vào tổng doanh thu bán hàngđã thực hiện. Còn thuế GTGT thì
tuỳ thuộc vào doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp nào để tính giảm trừ
vào doanh thu bán hàng hay là không. Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét