Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam

THIỆN 52
I. Về những quy định chung 52
1. Về một số khái niệm 52
1.1. Khái niệm “Phim” 52
1.2. Khái niệm “Tác phẩm điện ảnh” 54
2. Về tính chất của hoạt động điện ảnh 55
3. Về mối quan hệ giữa các cơ sở điện ảnh 56
3.1. Mối quan hệ giữa các cơ sở điện ảnh với nhau 56
3.2. Mối quan hệ giữa các cơ sở điện ảnh với Đài truyền hình 58
II. Về những quy định cụ thể 59
1. Về điều kiện thành lập của cơ sở điện ảnh 59
1.1. Điều kiện thành lập cơ sở phổ biến phim và xuất khẩu phim 59
1.2. Điều kiện của cơ sở nhập khẩu khi đăng ký nhập khẩu phim 60
2. Về một số thủ tục 61
2.1. Thủ tục trình duyệt kịch bản phim 61
2.2. Về thủ tục xuất khẩu phim 62
3. Về hợp tác làm phim với nước ngoài 63
4. Về một số chính sách 64
4.1. Chính sách tài trợ 64
4.2. Chính sách đầu tư 65
4.3. Chính sách đào tạo 66
4.4. Chính sách tiền lương 67
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Đề tài: “Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam”

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận văn Cử nhân Luật
Đề tài: “Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam”

9
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT
VỀ ĐIỆN ẢNH VÀ HOẠT ĐỘNG ĐIỆN ẢNH
I. LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐIỆN
ẢNH
1. Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật điện ảnh Việt Nam
Chỉ sau một vài năm ngày điện ảnh thế giới chính thức được ra đời tại Pháp
ngày 28/12/1895, thông qua chính sách nô dịch trong lĩnh vực văn hóa tinh thần
của thực dân Pháp, điện ảnh đã sớm du nhập vào Việt Nam qua chiêu bài “khai
hóa văn minh” cho người bản xứ. Quá trình du nhập này diễn ra một cách ráo riết
trong thời kỳ Paul Doumer đảm nhiệm chức toàn quyền Đông Dương và có hiệu
quả cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ Pháp trong công cuộc khai
thác thuộc địa Việt Nam lần thứ nhất (1897 - 1913) mà chủ yếu là thông qua hoạt
động chiếu phim.
Trong những năm xảy ra chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918),
hoạt động chiếu phim ở Việt Nam được nhà cầm quyền Pháp hướng vào nội dung
tuyên truyền về “mẫu quốc” văn minh hùng mạnh và truyền bá với thế giới về
hình ảnh Việt Nam thuộc địa
1
. Tính đến năm 1927, toàn Việt Nam có 33 rạp chiếu
bóng (theo Niên giám thống kê kinh tế Đông Dương). Hoạt động kinh doanh điện
ảnh dưới sự thao túng của thực dân Pháp ngày càng phát triển2
chứng tỏ thủ đoạn
của chúng trong việc dùng phim ảnh phục vụ cho chính sách ngu dân, nhằm củng
cố và mở rộng cho ý niệm của người dân bản xứ về bảo hộ, hỗ trợ cho việc áp đặt
từng bước chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam và Đông Dương. Sau này, một số người
Việt Nam cũng quan tâm đến lĩnh vực chiếu bóng3
nhưng dưới ách thống trị của
thực dân Pháp, các hoạt động điện ảnh của người Việt đều không thể tồn tại lâu
dài.

1
Về những bộ phim thời sự, tài liệu người Pháp làm về đề tài Việt Nam theo cách nhìn
của bọn thực dân
đối với dân ta thời đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét khái quát: “Hồi đó chỉ có chiếu
bóng câm, bọn
thực dân Pháp dùng chiếu bóng để bôi nhọ dân tộc ta. Thí dụ như trong hội chợ Marseille,
ngoài những
tranh vẽ kể công khanh Việt Nam lúc nhúc quỳ lạy trước vua bù nhìn cùng chó ngao, toàn
quyền, khâm sứ,
ngoài những công nhân trần trụi kéo xe thuê còn có chiếu bóng mà trong phim có những
bà già ăn trầu
răng đen, những người nông dân gầy gò rách rưới, những người đóng khố đang trèo dừa
Chúng gọi đó là
hình ảnh An Nam” - Lời kể của Hồ Chủ tịch trong Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 3
(Trích hồi ức của
Ông Phan Trọng Quang - Thế giới điện ảnh số 3/2003)
2
Đến năm 1939, số lượng rạp chiếu bóng của thực dân Pháp ở Việt Nam đã lên đến khoảng
70 rạp, gấp 07
lần số lượng rạp ở Campuchia, gấp 10 lần số lượng rạp ở Lào. (Xem Điện ảnh qua những
chặng đường -
BÙI PHÚ - NXB Văn hóa, Hà Nội 1981, tr.134)
3
Người Việt Nam đầu tiên tự mình đứng ra tổ chức việc sản xuất phim và trực tiếp viết lấy
kịch bản, quay
phim, dựng phim và được mời đi làm phim ở nước ngoài là ông Nguyễn Lan Hương (từ
năm 1924).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận văn Cử nhân Luật
Đề tài: “Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam”

10
Những năm 30 của thế kỷ XX, diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng tạo
thời cơ thuận lợi cho Cách mạng Việt Nam, nhiều báo và tạp chí quốc ngữ, sân
khấu lần lượt ra đời và phát triển nhanh. Theo đó, điện ảnh cũng được hình thành
và phát triển mà khởi đầu là sự ra đời của Hội An Nam nghệ sĩ đoàn tại Hà Nội vào
năm 1936. Hội được thành lập và nhanh chóng đi vào hoạt động với sản phẩm đầu
tiên của Việt Nam hợp tác với nước ngoài là bộ phim “Cánh đồng ma” - hợp tác
với Công ty Điện ảnh Nam Trung Hoa cuối tháng 11/1937. Tiếp theo sự ra đời của
An Nam nghệ sĩ đoàn, các hãng phim khác cũng lần lượt xuất hiện như Hãng phim
Á Châu (ra đời tại Phú Lâm - Sài Gòn năm 1937, chủ sở hữu là Nguyễn Văn
Đinh), Hãng Việt Nam phim (ra đời năm 1937, chủ sở hữu là Nguyễn Tấn Giàu).
Nhìn chung, những phim của các hãng phim người Việt trong giai đoạn này đều
mang tính nghiệp dư và không có điều kiện phát huy.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai xảy ra (1939 - 1945), điện ảnh Việt Nam
không có điều kiện tiếp tục phát triển.
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, bội ước Hiệp định sơ bộ 6/3/1945 và
Thỏa ước 19/4/1945, thực dân Pháp tìm mọi cách thực hiện dã tâm xâm chiếm
nước ta một lần nữa. Trước tình hình đó, ngày 17 và 18/12/1946, Hội nghị mở
rộng bất thường Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở Vạn Phúc (Hà Đông)
quyết định cả nước kháng chiến. Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “ Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm,
không có gươm thì dùng cuốc thuổng gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân
Pháp cứu nước ”. Xuất phát từ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ,
Bộ Tư lệnh Khu 8 đã thấy được điện ảnh là một vũ khí sắc bén có thể góp sức đắc
lực cùng toàn dân trong sự nghiệp chống ngoại xâm. Ngày 15/10/1947, từ những
mầm mống ban đầu ở trong nước, Bộ Tư lệnh Khu 8 ra quyết định Tổ Nhiếp ảnh
phát triển thêm bộ môn điện ảnh lấy tên là “Tổ Nhiếp - Điện ảnh” trực thuộc Ban
Tuyên truyền Phòng Chính trị Khu 8. Đây là cột mốc pháp lý đầu tiên cho điện ảnh
Cách mạng trong cả nước.
Tổ Nhiếp - Điện ảnh Khu 8 ra đời cùng với hoạt động của nó đã thúc đẩy
cho sự ra đời của điện ảnh Khu 9 (với tên gọi “Tổ Ciné K9” tháng 4/1949) và điện
ảnh Khu 7 (tháng 11/1949). Tháng 10/1951, điện ảnh ba khu nhập làm một với tên
gọi Điện ảnh Nam Bộ.
Lúc này, tại Việt Bắc, nơi cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến cả nước,
là nơi Trung ương Đảng và Chính phủ đóng, việc làm phim cũng vượt qua bao khó
khăn để đạt được những thành quả quý báu như những thước phim về Hồ Chủ tịch
tại chiến khu Việt Bắc hay bộ phim tài liệu Chiến thắng Tây Bắc (1952) và một số
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận văn Cử nhân Luật
Đề tài: “Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam”

11
phim tư liệu khác cũng đã được trao tặng giải Bông sen Vàng tại Liên hoan phim
Việt Nam lần 2 năm 1973.
Trong những năm đầu mới thành lập cơ sở điện ảnh Cách mạng, điện ảnh
đã góp phần to lớn trong việc cỗ vũ toàn dân giết giặc cứu nước, động viên tinh
thần hăng say chiến đấu lập công, truyền bá hình ảnh cao đẹp bất khuất của người
chiến sĩ Cách mạng, củng cố lòng tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến Suốt
thời kỳ kháng chiến chống Pháp, mỗi khi có cuộc tập họp quần chúng có chiếu
phim thì sức huy động quần chúng tăng lên rất lớn.
Nhận thấy ở điện ảnh một sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến bảo vệ
và xây dựng tổ quốc, ngày 15/3/1953, tại chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký Sắc lệnh 147/SL quyết định thay đổi Phòng Điện - Nhiếp ảnh trong Nha
tuyên truyền và Văn nghệ thành doanh nghiệp quốc gia với tên gọi “Doanh nghiệp
quốc gia Chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam”. Nội dung Sắc lệnh 147/SL quy
định cho Điện ảnh và Nhiếp ảnh Việt Nam bốn nhiệm vụ:
1) Tuyên truyền chính sách, chủ trương của Chính phủ
2) Nêu cao những thành tích, những gương đấu tranh anh dũng của quân và
dân Việt Nam.
3) Giới thiệu đời sống và thành tích đấu tranh kiên quyết của nhân dân các
nước bạn
4) Giáo dục văn hóa và chính trị cho nhân dân.
Các nhiệm vụ này được luôn được kế thừa quán triệt thực hiện xuyên suốt
trong các giai đoạn sau này và vẫn được triệt để tôn trọng thực hiện cho tới ngày
nay.
Tính chất lịch sử của Sắc lệnh 147/SL do Hồ Chủ tịch ký ngày 15/3/1953
đánh dấu cột mốc của ngành điện ảnh Việt Nam, là sự xác nhận chính thức đầu
tiên về mặt pháp lý cho sự hình thành một tổ chức điện ảnh Nhà nước của Chính
quyền Trung ương, từ đó tạo ra những điều kiện cơ bản để đưa những hoạt động
điện ảnh còn mang tính chất tự phát, địa phương, nghiệp dư vào một tổ chức có
tính chất chuyên nghiệp, thống nhất cả nước bằng một sự chỉ đạo tập trung với
những trách nhiệm thống nhất, tạo điều kiện để tập hợp, đào tạo, bổ sung, hoàn
chỉnh đội ngũ cán bộ của điện ảnh, thúc đẩy việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho sự nghiệp điện ảnh của dân tộc.
Sắc lệnh 147/SL là cơ sở pháp lý để hoạt động điện ảnh được thực hiện lúc
bấy giờ. Nhiều phim được sản xuất trong giai đoạn này là những dấu tích thuyết
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận văn Cử nhân Luật
Đề tài: “Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam”

12
phục chứng minh sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của điện ảnh trong lúc này. Tiêu
biểu với các phim: Giữ làng giữ nước (1954), Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954)
là hai trong số những bộ phim tài liệu sau này được trao giải Bông sen Vàng tại
Liên hoan phim Việt Nam 1973.
Sau khi ngành điện ảnh Việt Nam chính thức được thành lập ngày
15/3/1953, hàng loạt văn bản pháp quy được ban hành bước đầu tạo cơ sở pháp lý
cho hoạt động của ngành điện ảnh. Năm 1956, tổ chức điện ảnh được tách ra làm
hai bộ phận: Xưởng phim Việt Nam và Quốc doanh phát hành phim và chiếu bóng
Việt Nam. Cũng trong thời gian này, Cục Điện ảnh được thành lập để chỉ đạo hoạt
động thống nhất chung của toàn ngành. Năm 1957, báo Điện ảnh ra đời là cơ quan
ngôn luận của ngành. Năm 1959, Trường Điện ảnh Việt Nam, Nhà máy cơ khí điện
ảnh, Xưởng phim Hoạt họa và búp bê Việt Nam, Xưởng phim Thời sự Tài liệu
Trung ương lần lượt ra đời. Thành tựu về điện ảnh đầu tiên có tầm vóc quốc tế là
bộ phim tài liệu Nước về Bắc Hưng Hải (1959) đã được tặng Huy chương Vàng tại
Liên hoan phim Quốc tế Moscow lần thứ nhất năm 1959. Đây là giải thưởng chính
thức đầu tiên tại một Liên hoan phim quốc tế lớn mà điện ảnh Việt Nam nhận
được. Cũng trong năm này, bộ phim truyện đầu tiên Chung một dòng sông chính
thức ra mắt người xem và cho đến nay vẫn giữ được vị thế là một tác phẩm kinh
điển của điện ảnh Việt Nam.
Trong 10 năm từ ngày thành lập đến đầu những năm 1960, nền điện ảnh
non trẻ của chúng ta đã sản xuất được đủ các thể loại phim truyện, thời sự, tài liệu,
phim khoa học và hoạt hình. Mạng lưới phát hành phim và chiếu bóng cũng được
xây dựng tương đối hoàn chỉnh từ Trung ương đến địa phương và lưu động đến
cấp xã
4
. Những tác phẩm nổi tiếng tiêu biểu trong giai đoạn này là Chung một
dòng sông (1959), Lửa trung tuyến (1961), Vợ chồng A Phủ (1961), Chim vành
khuyên (1962), Chị Tư Hậu (1963), Kim Đồng (1964), đến ngày nay vẫn thường
được nhắc tới như những dấu son của ngành điện ảnh. Trong giai đoạn chống Mỹ
cứu nước, dưới chế độ bù nhìn phụ thuộc Mỹ, ở miền Nam tiếp tục chiếu những
phim của Mỹ, Pháp, Nhật Năm 1961, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam thành lập Xưởng phim Giải phóng; năm 1962, thành lập Xưởng phim
Quân đội giải phóng và bắt đầu hoạt động dưới sự đàn áp của Mỹ - ngụy. Trong
thời gian này, điện ảnh của ta ở miền Bắc tiếp tục sản xuất rất nhiều phim và đã có
sức đóng góp to lớn cho sự nghiệp Cách mạng như Nổi gió (1966), Vĩ tuyến 17
ngày và đêm (1972), Đến hẹn lại lên (1974), Em bé Hà Nội (1974), phim về đề tài
sản xuất như Vợ chồng anh Lực (1971), Người về đồng cói (1973), Hoa Thiên lý

4
Chỉ một năm sau khi tiếp quản Thủ đô năm 1954, cộng với 49 rạp tư nhân, chúng ta đã có
trên 70 đơn vị.
Đến năm 1964, mạng lưới chiếu bóng đã vươn lên một đỉnh cao mới gồm khoảng 360
đơn vị cùng với
khoảng 200 đội của Tổng Công đoàn, Quân đội và Công an vũ trang.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận văn Cử nhân Luật
Đề tài: “Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam”

13
(1973), Trong đó hầu hết các phim đều được trao giải tại Liên hoan phim trong
nước và có rất nhiều phim đoạt các giải quốc tế như phim Chim vành khuyên đạt
Giải đặc biệt tại Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary 1962 và bộ phim này đã
được nước Bỉ đã phát trên mạng lưới vô tuyến truyền hình Tây âu, phim Chị Tư
Hậu đoạt Huy chương Bạc tại Liên hoan phim quốc tế Moscow 1963, phim Đến
hẹn lại lên đạt giải chính tại Liên hoan phim quốc tế Karlovy 1976 và còn rất
nhiều những giải quốc tế khác.
Sau ngày đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam thoát khỏi sự đô hộ của
đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước. Nhằm xây dựng một ngành điện ảnh Việt Nam
thống nhất mang đậm màu sắc dân tộc đồng thời xóa bỏ những chế độ pháp lý do
đế quốc Mỹ dựng nên, hàng loạt phim ảnh và văn bản về hoạt động điện ảnh miền
Nam dưới thời tư bản chủ nghĩa bị bãi bỏ5
(sau sự cải tổ ngành điện ảnh này đặc
biệt là trong hai lĩnh vực sản xuất phim và phát hành phim, ở Việt Nam đã có gần
1500 cơ sở điện ảnh và có 13 xưởng phim). Đồng thời, Nhà nước ta đã ban hành
một số văn bản chỉ đạo hoạt động điện ảnh ở miền Nam, xây dựng một chế độ
pháp lý hoàn thiện hơn về hoạt động điện ảnh6
. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng ban
hành các quy định, chính sách về tổ chức, quản lý hoạt động điện ảnh trên phạm vi
cả nước như quản lý chiếu bóng và chiếu bóng lưu động, về quản lý video, về
khung giá xem phim thống nhất trong cả nước, về thành lập cơ sở sản xuất phim
video, về nhập khẩu phim nhựa, về phổ biến phim điện ảnh, các chính sách chăm
lo đời sống của cán bộ, nghệ sĩ hoạt động điện ảnh
7
. Những thay đổi căn bản
quan trọng này đã tạo nên một thời kỳ mới trong điện ảnh, thường được nhắc tới
như một thời hoàng kim của nền điện ảnh nước nhà qua những tác phẩm Về nơi
gió cát, Trời xanh qua kẽ lá (1985) Hay với Mùa gió chướng (1978) và Cánh
đồng hoang (1979) là hai phim đã đạt giải Vàng Liên hoan phim Moscow 1981,
cùng với phim Mẹ vắng nhà (1979) cho đến nay vẫn luôn được coi là những đỉnh
cao của sáng tạo.
Sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986, xã hội Việt
Nam bước vào thời kỳ đổi mới. Cuối những năm 80, đầu năm 90, theo sự thay đổi

5
Công văn số 1794/VH-VP ngày 30/09/1986 Bộ VH CV về việc đình chỉ chiếu băng hình
tư bản chủ nghĩa
và phim tư liệu, Công văn số 1317/TTTC ngày 02/05/1992 Bộ VHTT-TTCV về việc cấm
lưu hành những
phim băng hình sản xuất ở miền Nam trước 1975
6
Chỉ thị số 133/VH-CT ngày 03/10/1976 Bộ Văn hóa chỉ thị về việc đăng ký kinh doanh
ngành điện ảnh tư
nhân ở miền Nam, Quyết định số 235/VH-QĐ ngày 13/3/1976 quyết định nhiệm vụ, chức
năng Liên hiệp
điện ảnh, Quyết định số 1007/VH-QĐ ngày 20/7/1989Bộ Văn hóa quyết định ban hành
“Quy chế hoạt động
video trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Quyết định số 585/QĐ-
ĐA ngày 15/8/1990
BVHTT-TT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Vụ Điện
ảnh, Quyết định số
471/TC-QĐ ngày 8/4/1992 của BVHTT-TT quyết định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
tổ chức bộ máy
Cục Điện ảnh,
7
Thông tư số 148/BVHTT tháng 4/1979, Thông tư số 43/VHTT-TT ngày 11/4/1981,
Công văn số
2612/VH-VP ngày 12/10/1984, Quyết định số 672/QĐ-LB ngày 25/6/1988, Quyết
định số 01/VH ngày
15/01/1990, Quyết định 1388/QĐ-ĐA ngày 8/10/1992, Quyết định số 524/QĐ-ĐA ngày
9/9/1994
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận văn Cử nhân Luật
Đề tài: “Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam”

14
của cơ chế thị trường, hoạt động điện ảnh cũng có sự thay đổi lớn về diện mạo mà
đại biểu của nó là dòng phim thương mại thường được gọi là dòng phim “mì ăn
liền”. Dòng phim này cực thịnh trong những năm 1992 - 1994 nhưng rồi cũng
nhanh chóng biến mất trên trường điện ảnh. Bên cạnh dòng phim thương mại này
cũng có một số phim có giá trị như Tướng về hưu (1998), Canh bạc (1991), Xương
rồng đen (1992) nhưng hầu hết đều phân tán và chưa đủ để đánh bật dòng phim
thương mại mì ăn liền lúc bấy giờ.
Chính sách tài trợ làm phim ra đời năm 1992. Điện ảnh Việt Nam lại có
những dấu hiệu khởi sắc với một Đất nước đứng lên, một Hoa Ban đỏ, một Bông
hoa rừng Sác, hay một Người con gái Đất Đỏ Bên cạnh những bộ phim gợi lại
những nỗi đau chiến tranh đó cũng có những phim giá trị về cuộc sống đương đại
như Thương nhớ đồng quê, Nước mắt thời mở cửa
Nhìn chung, do đặc điểm về chiến tranh kéo dài, do công cuộc cải tạo và
xây dựng đất nước thời kỳ hậu chiến các văn bản pháp luật từ khi có Sắc lệnh
147/SL về thành lập ngành điện ảnh cho tới những năm 90 không có điều kiện
hoàn thiện nên đều tản mạn, chồng chéo lên nhau và thay đổi theo từng thời kỳ lịch
sử. Điều đó làm cho hoạt động điện ảnh gặp phải không ít khó khăn.
Trước tình hình đó, yêu cầu phải có một hệ thống văn bản pháp luật thống
nhất về hoạt động điện ảnh thay thế những văn bản pháp luật cũ đã không còn phù
hợp được đặt ra nhằm tạo nên một hành lang pháp lý cơ bản trong hoạt động điện
ảnh đồng thời để củng cố và xây dựng một nền điện ảnh Việt Nam mang đậm bản
sắc dân tộc, hiện đại và nhân văn, mở rộng giao lưu quốc tế về điện ảnh, đáp ứng
nhu cầu giao lưu sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân, ngày 17/7/1995, Chính
phủ ban hành Nghị định số 48/CP về tổ chức và hoạt động điện ảnh. Theo đó, các
thông tư, quyết định khác cũng lần lượt ra đời nhằm hướng dẫn thực hiện Nghị
định này8
.
Hiện nay, Nghị định số 48/CP ngày 17/7/1995 của Chính
phủ về tổ chức và hoạt động điện ảnh này là văn bản pháp quy
cơ bản điều chỉnh lĩnh vực hoạt động điện ảnh ở Việt Nam.
2. Vai trò của hoạt động điện ảnh trong bối cảnh hiện nay

8
Thông tư số 61/TT-ĐA ngày 01/10/1996 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị
định 48/CP về tổ
chức và hoạt động điện ảnh, Thông tư số 25/TTLB ngày 19/4/1997 hướng dẫn thực hiện
Nghị định 48/CP,
Quyết định số 2455/QĐ-ĐA ngày 9/8/1997 về việc ban hành Quy chế duyệt phim,
Thông tư số
06/1998/TT-BVHTT ngày 11/11/1998 hướng dẫn thực hiện Nghị định 48/CP về việc lưu
chiểu và lưu trữ
phim điện ảnh, Quyết định số 171/QĐ-BTC ngày 27/10/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
ban hành mức
thu lệ phí duyệt kịch bản phim, phim và giấy phép hành nghề điện ảnh, v.v
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận văn Cử nhân Luật
Đề tài: “Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam”

15
¨ Trong nước
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, cả nước
ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp theo đó, Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã
quyết định đưa đất nước ta tiến vào nến kinh tế theo cơ chế thị trường. Trong công
cuộc xây dựng và phát triển xã hội đó, bên cạnh những hình ảnh đẹp về con người
và đất nước Việt Nam đã và đang được chúng ta tôn tạo cùng với những thành tích
khả quan về kinh tế - xã hội mà chúng ta đã đạt được thì sự tồn tại tất yếu của thời
kỳ này là những nhân tố của xã hội mới và những tàn tích của xã hội cũ đan xen
lẫn nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa Song
song đó, trong sự tác động đa chiều và hết sức mạnh mẽ của cơ chế thị trường mà
trước hết là dưới thế lực của đồng tiền, các hiện tượng tiêu cực của xã hội như
tham nhũng, hối lộ xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống ảnh hưởng
đến sự phát triển chung.
Trước tình hình đó, điện ảnh thông qua hoạt động của mình, một mặt cần
tiếp tục ca ngợi lòng yêu nước, về truyền thống Cách mạng, tuyên truyền đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao trình độ văn hóa, lý luận chính trị,
kiến thức khoa học xã hội cho cộng đồng, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi mặt
của cuộc sống, góp phần phát triển văn hóa nhận thức, nêu cao tinh thần gương
mẫu về tư tưởng, đạo đức, lối sống, góp phần xã hội hóa các hoạt động sáng tạo,
cung cấp và phổ biến văn hóa, tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa phát triển
mạnh mẽ, rộng khắp, nâng cao dần mức hưởng thụ của nhân dân, tạo ra các giá trị
vật chất tinh thần ngày càng cao để vươn tới sự hoàn thiện, thúc đẩy sự tiến bộ
không ngừng của đời sống xã hội trên cơ sở tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và
công tác quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực điện ảnh Mặt khác, với vai trò là
một thứ vũ khí sắc bén trong thời đại mới, điện ảnh càng có ý nghĩa to lớn trong
việc tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân kiên định mục tiêu xây
dựng xã hội chủ nghĩa, tăng cường phổ biến pháp luật, chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước, góp phần điều chỉnh và lên tiếng chống lại các khuynh hướng
chống phá tiêu cực đi chệch hướng đạo đức và trật tự xã hội.
Tóm lại, bằng hoạt động của mình, điện ảnh góp phần vào việc phát huy các
tiềm năng văn hóa, phát triển sâu rộng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa”, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
¨ Quốc tế
Từ khi nước ta thực hiện chính sách mở cửa để đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì cũng đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa
quốc tế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đa dạng hóa các lĩnh vực và đa phương
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận văn Cử nhân Luật
Đề tài: “Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam”

16
hóa các mối quan hệ để mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật
trong đó, văn hóa là một lĩnh vực nhạy cảm và hết sức quan trọng có ảnh hưởng
đến mọi mặt của cuộc sống.
Trong lĩnh vực điện ảnh, cùng với xu hướng toàn cầu hóa tất yếu hiện nay
và sau này, sự phát triển của điện ảnh mỗi quốc gia đều gắn liền với giao lưu quốc
tế. Riêng đối với Việt Nam, điện ảnh chúng ta đang đi chậm khá xa so với nhiều
nước khác trên thế giới thì việc giao lưu quốc tế lại càng rất cần thiết. Hiện nay,
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Việc áp
dụng công kỹ nghệ hiện đại vào hoạt động điện ảnh là một đòi hỏi tất yếu khách
quan mà việc giao lưu quốc tế đóng một vai trò quan trọng trong khi điện ảnh
trong nước chưa đáp ứng được.
Hơn nữa, việc giao lưu văn hóa quốc tế, một mặt nhằm giới thiệu vào trong
nước nền văn hóa năm châu và truyền bá với thế giới về đất nước và con người
Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc và giàu tính nhân bản, một mặt còn để giao lưu
học hỏi, rút kinh nghiệm, cập nhật hóa hiểu biết về các phong cách, các trào lưu,
khuynh hướng nghệ thuật, tìm kiếm thị trường, tìm nguồn đầu tư hợp tác với nước
ngoài để tăng cường vốn đầu tư cho hoạt động điện ảnh, có cơ hội tiếp xúc với các
phương tiện khoa học kỹ thuật tiên tiến Từ đó, có điều kiện nâng cao chất lượng
điện ảnh Việt Nam đồng thời quảng bá nền văn hóa Việt Nam với thế giới.
Ngày nay, khi nhu cầu về văn hóa, giải trí, tinh thần của con người ở Việt
Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung ngày càng được chú trọng thì giá trị
kinh tế - thương mại của điện ảnh cũng được quan tâm và phát huy. Việc phát triển
nền điện ảnh đậm đà bản sắc dân tộc theo xu hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
không tách rời giá trị kinh tế của điện ảnh là một điều tất yếu đòi hỏi phải có sự
quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước.

II. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐIỆN ẢNH VÀ HOẠT ĐỘNG ĐIỆN ẢNH
1. Đặc điểm của điện ảnh
Theo Điều 1 Nghị định số 48/CP ngày 17/7/1995 của Chính phủ về tổ chức
và hoạt động điện ảnh thì điện ảnh có hai đặc điểm cơ bản sau:
1) Điện ảnh là một loại hình nghệ thuật tổng hợp
2) Điện ảnh gắn liền với phương thức sản xuất công nghiệp
Như vậy, đặc điểm của điện ảnh theo pháp luật Việt Nam cũng thống nhất
và xuất phát từ đặc điểm của điện ảnh theo pháp luật quốc tế.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận văn Cử nhân Luật
Đề tài: “Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam”

17
1.1. Điện ảnh là loại hình nghệ thuật tổng hợp
Lịch sử nền văn minh nhân loại đã cho thấy từ buổi sơ khai đã hình thành
các loại hình nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, kiến trúc (thuộc nhóm nghệ thuật
tạo hình hoặc không gian) và thơ ca, vũ điệu, âm nhạc (thuộc nhóm nghệ thuật
nhịp điệu hoặc thời gian). Nền văn hóa Hy Lạp cổ cách đây nhiều thế kỷ đã từng
quan niệm nghệ thuật gồm có sáu loại hình kể trên. Các loại hình nghệ thuật này
tùy theo từng giai đoạn lịch sử, từng giai tầng xã hội mà có những vai trò khác
nhau như sự thể hiện của quyền lực thống trị (với kiến trúc Kim tự tháp Ai Cập),
phục vụ cho tín ngưỡng tôn giáo (kiến trúc chùa, các vũ điệu tôn thờ thần linh ),
phục vụ cho việc nghiên cứu, giải trí và ngày càng mang tính thương mại. Mặc
dù từng thể loại nghệ thuật có nhiều vai trò và đặc điểm riêng nhưng đặc điểm
chung nhất của bất kỳ loại hình nghệ thuật nào trước đây và sau này cũng là đặc
điểm về tính thẩm mỹ và tính sáng tạo.
Nói cách khác, tính sáng tạo và tính thẩm mỹ là những dấu hiệu đặc trưng
của một tác phẩm nghệ thuật nói riêng và của một ngành nghệ thuật nói chung.
Cùng với sự tiến hóa của con người trong lao động mà cụ thể là sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, nhiều loại hình nghệ thuật khác cũng lần lượt ra đời
mà đỉnh cao của nó là điện ảnh. Điện ảnh, với sự thể hiện ưu việt về tính sáng tạo
và tính thẩm mỹ, ngay từ khi mới ra đời đã nhanh chóng được xem là một ngành
nghệ thuật tiên tiến - thường được gọi là nghệ thuật thứ bảy.
Thực chất, điện ảnh không phải là nghệ thuật thứ bảy mà điện ảnh là một
loại hình nghệ thuật tổng hợp của các loại hình nghệ thuật
9
. Sự tổng hợp này thể
hiện ở chỗ: một tác phẩm điện ảnh ra đời bản thân nó đã là một tác phẩm nghệ
thuật (kết quả của sự sáng tạo), hơn nữa, bên trong nó còn phản ánh, bao hàm
nhiều thể loại nghệ thuật khác. Thí dụ: Thể loại phim hoạt hình là sự phối hợp giữa
điện ảnh và hội họa. Đặc biệt, với những bộ phim hoạt hình nổi tiếng Tom và Jerry
của hãng MGM hay những bộ phim của hãng Walt Disney (Mỹ) là sự kết hợp
tuyệt vời giữa điện ảnh, hội họa âm nhạc và vũ điệu10
. Hay với bộ phim kinh điển
Cuốn theo chiều gió (1939) của đạo diễn Victor Fléming (Mỹ) là kết quả của sự
chuyển thể sáng tạo từ tác phẩm văn học cùng tên của nữ văn sĩ Mageret (Anh) lên
thành hình ảnh. Ngoài ra, sự tham gia của các thành phần sản xuất vào hoạt động
sản xuất phim như nhà văn với vai trò nhà biên kịch, họa sĩ với vai trò là người

9
Bởi vì sau sự xuất hiện của hội họa, điêu khắc, kiến trúc, ca kịch, vũ điệu và âm nhạc đã
xuất hiện nhiều
loại hình nghệ thuật khác như thời trang, nhiếp ảnh, bonsai Các loại hình nghệ thuật
này đã xuất hiện
trước điện ảnh hàng thế kỷ và đều được xem là những hoạt động nghệ thuật.
10
Phim hoạt hình Tom và Jerry trước đây thường là phim không có lời thoại mà dùng âm
nhạc để miêu tả
tình huống, thường là nhạc giao hưởng; phim hoạt hình của hãng Walt Disney nổi tiếng với
những bài hát
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận văn Cử nhân Luật
Đề tài: “Chế độ pháp lý đối với hoạt động điện ảnh Việt Nam”

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét