Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp phát triển trong mối quan hệ kinh
tế đa dạng về hình thức sở hữu, về vốn và tài sản, về cơ chế tổ chức quản lý. Doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trờng không chỉ tồn tại đơn nhất trong khu vực kinh tế
quốc doanh (doanh nghiệp nhà nớc) nh trong nền kinh tế kế hoạch hoá mà còn tồn
tại dới nhiều hình thức sở hữu bao gồm các loại hình tổ chức doanh nghiệp khác
nhau nh: Doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công
ty liên doanh Nhng doanh nghiệp nhà nớc có vị trí đặc biệt quan trọng, nó là bộ
phận nòng cốt của thành phần kinh tế nhà nớc, thành phần kinh tế giữ vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế. Vai trò của doanh nghiệp nhà nớc đợc thể hiện qua những
chức năng cụ thể sau:
Thứ nhất, chức năng định hớng sự phát triển của nền kinh tế. Chức năng này thể
hiện ở chỗ doanh nghiệp nhà nớc phải đi tiên phong trong các lĩnh vực chiến lợc
theo đờng lối phát triển của nhà nớc tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác
tham gia; doanh nghiệp nhà nớc phải là mẫu mực về trình độ quản lý, về hiệu quả
kinh doanh để các doanh nghiệp khác noi theo;
Thứ hai, chức năng hỗ trợ và phục vụ. Sự khác biệt giữa doanh nghiệp nhà nớc và
các loại hình doanh nghiệp khác là sự phát triển của doanh nghiệp nhà nớc không
phải đơn thuần vì bản thân nó mà quan trọng hơn cả là tạo điều kiện cho sự phát
triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy, doanh nghiệp nhà nớc đợc bố trí
xây dựng ở những khu vực ngành nghề cần thiết tạo điều kiện cho nền kinh tế phát
triển đồng đều giữa các vùng của đất nớc;
Thứ ba, chức năng đảm bảo sức mạnh vật chất để nhà nớc điều tiết và hớng dẫn
nền kinh tế thị trờng. Chức năng này đợc hiểu là các doanh nghiệp nhà nớc phải có
đóng góp thích đáng cho sự phát triển kinh tế bằng việc kinh doanh có hiệu quả;
doanh nghiệp nhà nớc phải bảo đảm vai trò quyết định này để Chính phủ có đủ
nguồn lực chỉ đạo và hớng dẫn nền kinh tế phát triển theo mục tiêu đề ra.
1.1.2. Tính tất yếu của việc quản lý vốn nhà nớc tại doanh nghiệp nhà nớc
1.1.2.1. Vốn nhà nớc tại doanh nghiệp nhà nớc
Vốn Nhà nớc giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng là vốn đợc cấp từ ngân
sách, vốn có nguồn gốc ngân sách và vốn của doanh nghiệp nhà nớc tự tích luỹ.
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt nghiệp
Từ khái niệm trên có thể thấy vốn nhà nớc đợc cấu thành bởi ba bộ phận:
Một là, vốn đợc cấp từ ngân sách, là vốn doanh nghiệp nhà nớc đợc cấp phát lần
đầu khi mới hoạt động (xác định từ thời điểm giao nhận vốn), vốn đợc cấp bổ sung
trong quá trình hoạt động; vốn đợc tiếp quản từ chế độ cũ để lại.
Hai là, vốn có nguồn gốc ngân sách, là các khoản vốn tăng thêm do đợc miễn,
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc đợc cấp lại các khoản phải nộp ngân sách
theo quyết định của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền; chênh lệch giá tài sản cố định,
vật t, hàng hoá tồn kho qua các lần kiểm kê, điều chỉnh giá; các nguồn vốn viện trợ:
viện trợ nhân dân, viện trợ của các nớc và các tổ chức quốc tế, quà tặng theo qui
định phải ghi tăng vốn ngân sách cấp;
Ba là, vốn của doanh nghiệp nhà nớc tự tích luỹ, chính là phần thu nhập sau thuế
doanh nghiệp nhà nớc giữ lại để tái đầu t.
Hình thức thực hiện đầu t của Chính phủ vào các doanh nghiệp nhà nớc cụ thể
nh sau:
Một là, giá trị quyền sử dụng đất, Chính phủ giao đất cho doanh nghiệp nhà nớc
hay cho doanh nghiệp thuê đất, thực hiện những chính sách u đãi về đất đai đối với
doanh nghiệp nhà nớc;
Hai là, cấp vốn điều lệ và bổ sung vốn:
- Vốn điều lệ để san lấp mặt bằng, xây dựng nhà xởng, mua sắm máy móc thiết
bị đa vào sản xuất;
- Vốn bổ sung đợc cấp trong trờng hợp doanh nghiệp nhà nớc đợc giao thêm
nhiệm vụ;
Ba là, không thu khấu hao, miễn giảm thuế hay cấp tín dụng nhà nớc u đãi
Những khoản đó đợc doanh nghiệp nhà nớc sử dụng để tái đầu t, thay thế đổi mới tài
sản cố định và sử dụng cho các yêu cầu kinh doanh khác theo quy định của Chính
phủ.
1.1.2.2. Tính tất yếu của việc quản lý vốn nhà nớc tại doanh nghiệp nhà nớc
Nhà nớc phải quản lý vốn nhà nớc tại doanh nghiệp nhà nớc vì:
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nớc thuộc sở hữu nhà nớc nhng nhà nớc giao cho
một số cá nhân, đơn vị sử dụng. Nh vậy có sự tách biệt giữa ngời sở hữu vốn và ngời
sử dụng vốn, hai đối tợng này có thể có mục tiêu không phù hợp nhau. Các doanh
nghiệp nhà nớc không phải đơng đầu với nguy cơ bị đối thủ cạnh tranh mua lại nh
các doanh nghiệp trong khu vực t nhân. Do đó ngời sử dụng vốn có thể sử dụng vào
những động cơ cá nhân, những động cơ có thể làm cho những nhà lãnh đạo các
doanh nghiệp nhà nớc hành động không nhất quán với các mục tiêu của doanh
nghiệp. Khi những ngời này không nắm quyền sở hữu vốn của doanh nghiệp và cũng
không thể tăng thêm sự giàu có cho bản thân bằng cách tăng hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp thì chẳng có gì kích thích họ phải nhìn xa khi quyết định phơng án sản
xuất kinh doanh. Vì thế đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ của nhà nớc nhằm đảm
bảo vốn và tài sản của nhà nớc không bị xâm phạm trong quá trình kinh doanh cũng
nh doanh nghiệp hoạt động theo đúng mục tiêu nhà nớc đề ra.
Thứ hai, nhà nớc quản lý vốn nhà nớc tại các doanh nghiệp nhà nớc cũng là thực
hiện vai trò quản lý nhà nớc của mình. Nhà nớc ban hành các chế độ tài chính đối
với doanh nghiệp nhà nớc, theo dõi và kiểm tra việc chấp hành các chế độ đó. Việc
theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nớc giúp cơ quan
quản lý nắm bắt đợc tình hình thực tế tại các doanh nghiệp, theo dõi tiến trình thực
hiện các văn bản. Từ đó thu thập thông tin để chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện các
chính sách cho kịp thời, phù hợp với thực tế. Đồng thời thông qua công tác quản lý
vốn, nhà nớc mới có những thông tin chính xác để đánh giá đúng chất lợng kinh
doanh ở các doanh nghiệp nhà nớc. Trên cơ sở các thông tin đánh giá này, nhà nớc
có kế hoạch sắp xếp, bố trí lại các doanh nghiệp, vốn và lao động, hoàn thiện các
khâu quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh doanh và thực hiện các mục tiêu xã hội.
Thứ ba, đối với các doanh nghiệp nhà nớc hoạt động kinh doanh, phần lợi nhuận
sau thuế thuộc về nhà nớc. Nhà nớc sử dụng lợi nhuận đó để duy trì và tái sản xuất
mở rộng doanh nghiệp hoặc đáp ứng một lợi ích nào đó của nhà nớc. Do đó, để lợi
nhuận sau thuế đợc tối đa hoá, nhà nớc phải quản lý phần vốn đầu t của mình để nó
đợc sử dụng một cách có hiệu quả, trên cở sở đó tăng lợi ích nhà nớc.
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt nghiệp
Tóm lại, việc nhà nớc quản lý vốn nhà nớc tại doanh nghiệp nhà nớc là một đòi
hỏi khách quan để bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu trong việc bảo toàn vốn và tài sản
cũng nh để thực hiện vai trò quản lý của mình.
1.2. Nội dung công tác quản lý vốn nhà nớc tại doanh nghiệp nhà nớc
1.2.1. Thiết lập căn cứ về quản lý vốn nhà nớc tại doanh nghiệp nhà nớc
Thiết lập căn cứ về quản lý vốn nhà nớc tại doanh nghiệp nhà nớc là việc làm cần
thiết nhằm tạo cơ sở giúp các đơn vị đợc giao vốn thực hiện quản lý vốn đợc giao và
giúp các cơ quan kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ giám sát của mình.
Hình thức biểu hiện cụ thể của nội dung công tác này là việc xây dựng hệ thống văn
bản pháp luật về quản lý vốn nhà nớc tại doanh nghiệp. Khác với cách thức quản lý
doanh nghiệp trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, trong nền kinh tế thị trờng có sự
điều tiết, Nhà nớc quản lý doanh nghiệp một cách gián tiếp theo nguyên tắc: Nhà n-
ớc điều chỉnh thị trờng, thị trờng điều chỉnh doanh nghiệp. Nhà nớc ban hành chính
sách nhằm định hớng sự phát triển theo mục tiêu của Nhà nớc và giúp doanh nghiệp
tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh; Nhà nớc tạo hành lang pháp lý thông
thoáng, bình đẳng và môi trờng kinh doanh vừa thuận lợi, vừa đòi hỏi hiệu quả kinh
tế cao để các doanh nghiệp hoạt động. Chính sách quản lý vốn đợc ban hành hớng
vào việc khai thác, động viên và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của
doanh nghiệp nhằm khuyến khích phát triển kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nớc và nâng cao hiệu quả của nền tài
chính quốc gia.
Chính sách quản lý vốn nhà nớc tại các doanh nghiệp nhà nớc là một bộ phận
quan trọng trong chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nói riêng và hệ thống
các chính sách tài chính nói chung. Chính sách quản lý vốn đúng đắn sẽ kích thích
sự chuyển dịch các luồng giá trị trong nền kinh tế quốc dân theo hớng duy động mọi
nguồn vốn vào đầu t phát triển sản xuất, tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn ở
doanh nghiệp, nhờ đó tăng quy mô và tốc độ phát triển sản xuất kinh doanh, tăng
nguồn thu vào ngân sách nhà nớc. Nguồn thu vào ngân sách nhà nớc càng nhiều thì
Chính phủ càng có khả năng tài chính để tăng quy mô đầu t vốn, phát triển các quỹ
tài trợ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; kế đó, quy mô đầu t và tài trợ từ
ngân sách đối với doanh nghiệp càng lớn thì nó sẽ kích thích mạnh mẽ hơn tốc độ
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt nghiệp
tăng trởng kinh tế, và qua đó Chính phủ còn thực hiện đợc yêu cầu điều chỉnh vĩ mô
nền kinh tế theo định hớng đã đề ra.
Các Chính phủ thờng ban hành chính sách quản lý vốn và tài sản theo hớng:
Một là, tăng cờng quyền tự chủ về mặt tài chính của các doanh nghiệp nhà nớc
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý vốn
và tài sản;
Hai là, nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng
các nguồn lực nhà nớc giao. Thiết lập các cơ chế thích hợp để hớng sự quan tâm và
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn nh: cơ chế trích lập dự
phòng, cơ chế bù lỗ
Ba là, quy định các chính sách u đãi về mặt tài chính đối với các doanh nghiệp
nhà nớc hoạt động công ích nh: hỗ trợ vốn, bù chênh lệch khi thực hiện các nhiệm
vụ nhà nớc giao, bảo đảm thoả đáng lợi ích vật chất cho ngời lao động trong các
doanh nghiệp nhà nớc này Đồng thời thiết lập cơ chế quản lý hợp lý đối với doanh
nghiệp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các nguồn lực nhà nớc giao.
Chính sách quản lý vốn nhà nớc tại các doanh nghiệp nhà nớc bao trùm các nội
dung quản lý sau:
a, Quản lý việc hình thành vốn của doanh nghiệp nhà nớc:
Doanh nghiệp nhà nớc có thể đợc đầu t vốn khi mới thành lập hoặc đầu t bổ
sung trong quá trình hoạt động. Ngoại trừ các doanh nghiệp hình thành do kết quả
quốc hữu hoá, các doanh nghiệp nhà nớc đều đợc hình thành trên cơ sở nguồn vốn
cấp phát ban đầu của nhà nớc. Tuy nhiên căn cứ vào tình hình thực tế mà nhà nớc
quyết định cấp dới hình thức trực tiếp (cấp thẳng từ ngân sách nhà nớc) hay gián tiếp
(qua các hình thức ghi thu-ghi chi nh: chuyển vốn từ doanh nghiệp nhà nớc này sang
doanh nghiệp nhà nớc khác hoặc cho doanh nghiệp nhà nớc nhận trực tiếp các khoản
viện trợ để đầu t ). Đối với vốn lu động, nhà nớc có thể cấp theo định mức một
phần, phần còn lại doanh nghiệp phải huy động trên thị trờng vốn và chịu lãi suất thị
trờng. Đồng thời, tuỳ thuộc vào khả năng của ngân sách nhà nớc của mỗi nớc mà
chính sách đầu t vốn cho doanh nghiệp nhà nớc ở các nớc là khác nhau. ở Pháp,
những doanh nghiệp nhà nớc hoạt động theo yêu cầu của nhà nớc thì cấp vốn 100%,
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt nghiệp
các doanh nghiệp do nhà nớc quản lý nhng tự chọn chính sách phát triển, phải cạnh
tranh với doanh nghiệp khác thì nhà nớc không cấp vốn. ở Nhật, mức vốn đầu t cho
doanh nghiệp tăng nhng mức độ kiểm soát cũng chặt chẽ hơn. ở Malaysia, nguồn
vốn của các doanh nghiệp nhà nớc đợc hình thành nh sau: Vốn cố định ban đầu đợc
nhà nớc cấp 100% và hàng năm, doanh nghiệp phải trả lãi (theo lãi suất u đãi) trên
tổng số vốn đầu t của nhà nớc; vốn lu động thì các công ty phải vay theo lãi suất thị
trờng. Còn ở nớc ta, việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp nhà nớc
đợc hớng dẫn cụ thể trong Thông t số 62/1999/TT-BTC ngày7/6/1999, Nhà nớc đầu
t vốn cho các doanh nghiệp nhà nớc mới thành lập ở những ngành, những lĩnh vực
quan trọng. Các cơ quan có thẩm quyền khi quyết định thành lập doanh nghiệp mới
phải đảm bảo đủ vốn thực có tại thời điểm thành lập không thấp hơn mức vốn pháp
định nhà nớc quy định cho mỗi ngành nghề. Trong quá trình kinh doanh, căn cứ vào
hiệu quả sản xuất dinh doanh, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội mà nhà nớc giao
cho doanh nghiệp và khả năng của ngân sách nhà nớc, nhà nớc xem xét đầu t bổ
sung cho các doanh nghiệp trong những trờng hợp cần thiết. Doanh nghiệp nhà nớc
đợc nhà nớc giao vốn thuộc sở hữu nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp sau khi đã đợc
kiểm tra, thẩm định theo quy định hiện hành của nhà nớc.
Số vốn giao cho doanh nghiệp đợc xác định nh sau:
+ Đối với doanh nghiệp thành lập mới là số vốn nhà nớc ghi trong quyết toán vốn
đầu t xây dựng cơ bản bàn giao sang sản xuất kinh doanh, vốn điều lệ đợc nhà nớc
bổ sung và vốn khác thuộc sở hữu nhà nớc (nếu có).
+ Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động và thành lập lại (sáp nhập, chia tách)
là số vốn sở hữu hiện có tại doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp thành viên, sau khi
đã đợc kiểm tra, thẩm định theo quy định hiện hành của nhà nớc.
Trong khi khu vực kinh tế t nhân có thể đợc huy động một cách tự chủ và linh
động trong môi trờng kinh doanh, khu vực kinh tế nhà nớc thờng chỉ đợc phép huy
động vốn dới một số hình thức nhất định, các kênh huy động vốn đó là:
Thứ nhất, huy động vốn từ Ngân sách nhà nớc: Các doanh nghiệp khi có nhu cầu
về vốn có thể đề nghị nhà nớc xét duyệt cấp vốn cho doanh nghiệp mình. Đây là
nguồn vốn đặc biệt , chỉ các doanh nghiệp nhà nớc mới có đặc quyền đợc yêu cầu và
đây cũng là nguồn vốn chủ lực của các doanh nghiệp nhà nớc.
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ hai, huy động vốn thông qua hoạt động liên doanh, liên kết: Đây là việc góp
tiền hoặc tài sản với các doanh nghiệp khác để mở rộng sản xuất kinh doanh. Doanh
nghiệp có thể liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, tổ chức khác để huy động
vốn.
Thứ ba, huy động vốn bằng cách đi vay: Doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu
vốn của mình bằng cách đi vay những khoản tín dụng dài hạn, ngắn hạn, hoặc trung
hạn từ các ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng khác, các doanh nghiệp
khác, các cá nhân (kể cả các cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp), đợc phát
hành trái phiếu huy động vốn để đầu t phát triển.
Thứ t, huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, cổ phiếu thờng mới để bán
cho công nhân viên chức trong doanh nghiệp và ngoài xã hội.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể huy động vốn cho sản xuất kinh doanh từ chính
các quỹ của doanh nghiệp. Nhà nớc có quy định cụ thể về việc sử dụng các quỹ này.
b, Quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nớc
Quản lý sử dụng vốn và tài sản trong phạm vi doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trờng, doanh nghiệp nhà nớc là một đơn vị sản xuất kinh
doanh độc lập, đợc tự chủ trong hoạt động kinh tế và tự chịu trách nhiệm về kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nớc thực hiện việc giao quyền sử dụng vốn và
tài sản cho doanh nghiệp nhằm tạo ra sự độc lập tơng đối trong việc tổ chức sản xuất
kinh doanh. Mục tiêu cuối cùng của chính sách quản lý sử dụng vốn và tài sản là bảo
toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp. Vì thế, doanh nghiệp có nghĩa vụ theo dõi
chặt chẽ sự biến động của vốn và tài sản, đảm bảo theo đúng các nguyên tắc kế toán
hiện hành, tránh thất thoát tài sản, mất vốn của nhà nớc. Đồng thời doanh nghiệp
cũng phải đợc trao quyền lựa chọn cơ cấu tài sản và các loại vốn cho hợp lý nhằm
phát triển kinh doanh có hiệu quả.
Doanh nghiệp có trách nhiệm mở sổ và ghi sổ kế toán theo dõi chính xác toàn bộ
tài sản và vốn hiện có theo đúng chế độ hạch toán kế toán, thống kê hiện hành; phản
ánh trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của tài sản và vốn trong quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt nghiệp
Doanh nghiệp đợc quyền sử dụng vốn và qũy để kinh doanh theo nguyên tắc có
hiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn. Trờng hợp sử dụng các loại vốn và qũy khác
với mục đích sử dụng đã quy định cho các loại vốn và qũy đó thì phải theo nguyên
tắc hoàn trả, nh: dùng các qũy dự phòng, qũy khen thởng, qũy phúc lợi để kinh
doanh thì phải hoàn trả qũy đó khi có nhu cầu sử dụng. Doanh nghiệp đợc quyền
thay đổi cơ cấu tài sản và các loại vốn cho việc phát triển kinh doanh có hiệu qủa,
bảo toàn và phát triển vốn
Doanh nghiệp Nhà nớc phải xây dựng quy chế quản lý, bảo quản, sử dụng tài sản
của doanh nghiệp; quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân đối với các tr-
ờng hợp làm h hỏng, mất mát tài sản.
Định kỳ và khi kết thúc năm tài chính doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê toàn
bộ tài sản và vốn hiện có. Xác định chính xác số tài sản thừa, thiếu, tài sản ứ đọng,
mất phẩm chất, nguyên nhân và xử lý trách nhiệm; đồng thời để có căn cứ lập báo
cáo tài chính của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các khoản công nợ phải thu
trong và ngoài doanh nghiệp. Định kỳ (tháng, qúy) doanh nghiệp phải đối chiếu,
tổng hợp, phân tích tình hình công nợ phải thu; đặc biệt là các khoản nợ đến hạn,
qúa hạn và các khoản nợ khó đòi. Các khoản nợ không thu hồi đợc, cần xác định rõ
mức độ, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý.
Doanh nghiệp đợc quyền cho thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý và
sử dụng của mình, để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập nhng phải theo dõi,
thu hồi tài sản khi hết hạn cho thuê. Đối với tài sản cho thuê hoạt động, doanh
nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định. Doanh nghiệp đợc đem tài sản
thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo
lãnh tại các tổ chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp không đợc đem cầm cố, thế chấp, cho thuê các tài sản đi mợn, đi
thuê, nhận giữ hộ, nhận cầm cố, nhận thế chấp của doanh nghiệp khác nếu không
đợc sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản đó.
Doanh nghiệp đợc nhợng bán các tài sản không cần dùng, lạc hậu về kỹ thuật để
thu hồi vốn sử dụng cho mục đích kinh doanh có hiệu qủa hơn. Chênh lệch giữa số
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt nghiệp
tiền thu đợc do thanh lý, nhợng bán tài sản với giá trị còn lại trên sổ kế toán và chi
phí nhợng bán, thanh lý (nếu có) đợc hạch toán vào kết qủa kinh doanh của doanh
nghiệp.
Mọi tổn thất tài sản của doanh nghiệp phải lập biên bản xác định mức độ, nguyên
nhân và trách nhiệm đa ra biện pháp xử lý.
Doanh nghiệp đợc đánh giá lại tài sản và hạch toán tăng giảm vốn khoản chênh
lệch do đánh giá lại tài sản trong các trờng hợp sau: Kiểm kê đánh giá lại tài sản
theo quyết định của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền; Thực hiện cổ phần hóa, đa
dạng hóa hình thức sở hữu, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; Dùng tài sản để liên
doanh, góp vốn cổ phần (khi đem tài sản đi góp vốn và khi nhận tài sản về).
Quản lý vốn đầu t ra ngoài doanh nghiệp:
Doanh nghiệp đợc sử dụng vốn, tài sản để đầu t ra ngoài doanh nghiệp theo
nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và đảm bảo nhiệm
vụ thu nộp Ngân sách nhà nnớc; việc đầu t phải tuân theo các quy định hiện hành
của pháp luật Các hình thức đầu t ra ngoài doanh nghiệp gồm: mua cổ phiếu, góp
vốn liên doanh, góp cổ phần và các hình thức đầu t khác
Doanh nghiệp Nhà nớc đợc phép đa vốn và tài sản đầu t trực tiếp ra nớc ngoài
theo quy định của pháp luật.
Bảo toàn và phát triển vốn:
Bảo toàn vốn và phát triển vốn là nghĩa vụ của doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích của
Nhà nớc về vốn đã đầu t vào doanh nghiệp Nhà nớc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
ổn định và phát triển kinh doanh có hiệu quả, tăng thu nhập cho ngời lao động và
làm nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nớc. Các biện pháp bảo toàn vốn thờng đợc áp
dụng là:
Thứ nhất, thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng vốn, tài sản theo các qui định
của Nhà nớc;
Thứ hai, thực hiện việc mua bảo hiểm tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của
doanh nghiệp. Tiền mua bảo hiểm đợc hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh;
Nguyễn Hồng Thắng-TCC
41A
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ ba, doanh nghiệp Nhà nớc đợc hạch toán vào chi phí kinh doanh, chi phí
hoạt động khác một số khoản dự phòng theo quy định nh: Dự phòng giảm giá hàng
tồn kho, dự phòng các khoản nợ thu khó đòi, dự phòng giảm giá các loại chứng
khoán trong hoạt động tài chính
Việc lập và sử dụng các khoản dự phòng nói trên thực hiện theo quy định hiện
hành. Ngoài các biện pháp trên, doanh nghiệp đợc dùng lãi năm sau (trớc thuế hoặc
sau thuế) để bù lỗ các năm trớc, đợc hạch toán một số thiệt hại (thiên tai, dịch
bệnh ) vào chi phí hoặc kết qủa kinh doanh theo qui định của Nhà nớc.
1.2.2. Phân cấp trong quản lý
Để quản lý vốn nhà nớc tại doanh nghiệp nhà nớc, mỗi nớc đều tổ chức cho mình
một bộ máy quản lý khác nhau với cách thức quản lý khác nhau. Bộ máy này bao
gồm bản thân doanh nghiệp nhà nớc (với t cách là ngời trực tiếp quản lý, sử dụng
vốn nhà nớc giao) và các cơ quan quản lý cấp trên (giám sát việc thực hiện quản lý,
sử dụng vốn nhà nớc của doanh nghiệp nhà nớc và ra các quyết định quản lý). Mỗi
cấp quản lý đợc phân rõ chức năng nhiệm vụ trong việc thực hiện hoạt động quản lý
vốn nhà nớc tại doanh nghiệp nhà nớc.
ở Pháp và Malaysia, nhà nớc trực tiếp cử nhân viên của mình làm công tác kiểm
tra tại doanh nghiệp, nhân viên đó thuộc biên chế Bộ tài chính; ngoài ra mỗi doanh
nghiệp còn chịu sự điều tra của một nhân viên do toá án chỉ định, có chức năng kiểm
tra tài chính đối với doanh nghiệp nhà nớc. Bên cạnh đó, ở các doanh nghiệp còn có
Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng này là đại diện của nhà nớc, đại diện cho
doanh nghiệp và đại diện của công nhân.
ở một số nớc khác nh Trung Quốc thì việc quản lý vốn nhà nớc tại doanh nghiệp
nhà nớc lại do các Công ty đầu t tài chính nhà nớc đảm nhận. Hoạt động của Công
ty tài chính là hoạt động kinh doanh, khác với việc cử đại diện của Bộ tài chính làm
công việc kiểm tra trực tiếp tại doanh nghiệp. Đây là một tổ chức tài chính do Chính
phủ thành lập giúp Chính phủ thành lập chức năng kinh doanh các nguồn vốn nhà n-
ớc đầu t vào doanh nghiệp. Công ty đầu t tài chính nhà nớc có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ sở hữu công ty là Chính phủ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét