Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Công tác tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp sản xuất


Phần I
Lý luận chung về công tác tiêu thụ sản phẩm ở
doanh nghiệp sản xuất
I. Tiêu thụ sản phẩm và vai trò của nó trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1. Quan niệm về tiêu thụ sản phẩm
Đã là nhà buôn, ai cũng cần bán. Vấn đề sống chết của nhà buôn là ở chỗ:
bán và bán thật nhiều hàng - Phạm Cao Tùng, bởi lẽ : Suy cho đến cùng con
ngời ta đều sống nhờ bán một cái gì đó - Robert Louis Stevenson. Kinh doanh
trong nền kinh tế thị trờng hiện đại, bán hàng ngày càng trở nên khó khăn hơn do
khả năng cung ứng sản phẩm ra thị trờng của các doanh nghiệp ngày càng đa dạng
và phong phú, chất lợng đòi hỏi để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao, cũng nh mức
độ cạnh tranh để giành giật lấy khách hàng ngày càng khốc liệt.
Kinh doanh trong điều kiện thị trờng có cạnh tranh, khả năng không tiêu thụ /
bán đợc hàng luôn luôn xảy ra thông thờng là rất lớn,theo C.Mác : Bán hàng là
một bớc nhảy nguy hiểm chết ngời . Vì vậy tác giả Phạm Cao Tùng đã phân tích :
Nếu bán hàng chỉ là công việc nói giá và bán món hàng cho ngời khách đã quyết
định mua thì không nói đến nghệ thuật bán hàng và nh thế chẳng cần đến ngời bán
hàng, một cái máy cũng có thể làm đợc công việc ấy . Rồi tác giả lại phân tích:
Chỉ có thể nói đến nghệ thuật bán hàng, khi ngời bán biết tạo ra sự đòi hỏi, biết
làm cho khách hàng ham mua, muốn mua, thích mua và khi cần bênh vực cho lý lẽ
của mình về giá cả, phẩm chất thì phải biết nói khéo để làm cho khách hàng xiêu
lòng, nghe theo mình và bỏ tiền ra mua để Khách hàng ra đi với một gói hàng
trên tay và sẽ trở lại mà không mang gói hàng theo tay - Edward Filéne. Vì vậy,
bán bán hàng cần phải đợc quan tâm đúng mức và thực hiện một cách khoa học.
5

Trong điều kiện thị trờng có cạnh tranh, bán hàng đợc đặt ở vị trí trung tâm,
quyết định đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cùng với
nó, các quan điểm kinh doanh hiện đại, công nghệ tổ chức và quản lý kinh doanh
tiên tiến đã đợc nghiên cứu và áp dụng để thúc đẩy và hỗ trợ cho hoạt động bán
hàng của doanh nghiệp. Marketing với t cách là một t tởng kinh doanh hiện đại và
là một công cụ hỗ trợ cho hoạt động bán hàng đã đợc phát triển và ứng dụng một
cách phổ biến trong kinh doanh.
Vì vậy, để hiểu đúng và đầy đủ khái niệm tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp cần
phải xem xét nó trên hai phơng diện.
Theo nghĩa hẹp: Tiêu thụ sản phẩm là hoạt động gắn liền với sự thanh toán
giữa ngời mua với ngời bán và sự chuyển quyền sở hữu.
Đúng nh C.Mác nhận định : Một nền sản xuất nhất định sẽ quyết định đến
một chế độ tiêu dùng nhất định, quyết định một chế độ lu thông nhất định . Trong
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nớc quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng
mệnh lệnh, các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp rất sâu vào nghiệp vụ sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhng lại không chịu trách nhiệm về các
quyết định của mình. Quan hệ giữa các ngành là quan hệ dọc, đợc kế hoạch hoá
bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm hiện vật, Cung, cầu gặp gỡ và cân
bằng trớc khi quá trình trao đổi diễn ra trên thị trờng . Hay nói một cách khác,
trong nền kinh tế chỉ huy 3 vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái gì ?, sản xuất nh
thế nào ?, sản xuất cho ai ?, đều do Nhà nớc quy định.
Nhng trong cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, quyền chủ động và
tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp đợc đề cao. Mỗi doanh nghiệp thực sự
trở thành một chủ thể kinh tế độc lập của quá trình tái sản xuất xã hội. Doanh
nghiệp phải vận động trên thị trờng để tìm mua các yếu tố vật chất cần thiết cho
sản xuất và tìm khách hàng để tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra. Còn các cơ quan
hành chính kinh tế không can thiệp sâu vào các nghiệp vụ sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp mà chỉ đóng vai trò định hớng và điều phối các hoạt động sản xuất
kinh doanh theo mục tiêu chiến lợc nhằm hạn chế những hậu quả xấu, sự phá sản
của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp căn cứ vào các định hớng đó để tổ chức
6

các hoạt động quản lý và kinh doanh một cách thích ứng. Do đó, khái niệm tiêu
thụ sản phẩm cần phải đợc hiểu theo nghĩa rộng hơn.
Theo nghĩa rộng : Tiêu thụ sản phẩm là quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu
từ việc nghiên cứu thị trờng, xác định nhu cầu, tổ chức sản xuất, xúc tiến bán
hàng nhằm mục đích đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
2.Vai trò của tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là
yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp.Tiêu thụ sản phẩm
nhằm thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá là sản phẩm sản xuất ra là để
bán / tiêu thụ trên thị trờng và thu lợi nhuận.
Qua tiêu thụ, hàng hoá đợc chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị
và đồng thời vòng chu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp đợc hoàn thành.
Tiêu thụ giúp cho quá trình tái sản xuất đợc giữ vững và có điều kiện phát triển.
Sản phẩm làm ra đợc tiêu thụ thì tính chất hữu ích của sản phẩm mới đợc xác
định, khi đó giá trị và giá trị sử dụng mới đợc thực hiện, lao động của ngời sản
xuất hàng hoá nói riêng và của toàn bộ xã hội nói chung mới đợc thừa nhận.
Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối giữa ngời sản xuất với ngời tiêu dùng, tiêu thụ
giúp cho ngời tiêu dùng có đợc giá trị sử dụng mà mình mong muốn và ngời sản
xuất đạt đợc đạt đợc mục đích của mình trong kinh doanh.
Tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng quyết định đến hoạt động sản xuất kinh
doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp, quyết định sự mở rộng hay thu hẹp sản xuất
của doanh nghiệp và là cơ sở để xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị trờng.
Tiêu thụ sản phẩm là khâu có quan hệ mật thiết với khách hàng, là khâu ngời
bán tiếp xúc trực tiếp với ngời mua nên ảnh hởng đến niềm tin, uy tín và sự tái tạo
nhu cầu. Do vậy, nó cũng là vũ khí cạnh tranh mạnh mẽ của doanh nghiệp so với
đối thủ cạnh tranh.
Kết quả hoạt động tiêu thụ phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
phản ánh sự đúng đắn của mục tiêu và định hớng chiến lợc kinh doanh, phản ánh
sự nỗ lực cố gắng của doanh nghiệp trên thị trờng, đồng thời thể hiện trình độ tổ
chức, năng lực điều hành, tỏ rõ thế và lực của doanh nghiệp trên thơng trờng.
7

Về phơng diện xã hội, tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trong việc cân
đối giữa cung và cầu đối với từng mặt hàng cụ thể, góp phần bình ổn giá cả thị tr-
ờng, giúp các doanh nghiệp xác định phơng hớng và bớc đi của mình trong kế
hoạch sản xuất kinh doanh cho giai đoạn tiếp theo.
Nhà sản xuất, thông qua tiêu thụ có thể nắm bắt thị hiếu, xu hớng tiêu dùng,
yêu cầu về sản phẩm của xã hội nói chung và của từng khu vực nói riêng. Để từ
đó có hớng mở rộng kinh doanh, tạo ra những sản phẩm mới, tìm kiếm khả năng
và biện pháp thu hút khách hàng
II. Nội dung công tác tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp
1. Xây dựng chiến lợc và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trờng, mỗi một doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc
lập, để tồn tại và phát triển lâu dài trên thơng trờng, mỗi doanh nghiệp cần phải có
chiến lợc kinh doanh của riêng mình. Chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp bao
gồm nhiều chiến lợc khác nhau liên quan đến đầu vào , đầu ra và tổ chức
sản xuất nh : chiến lợc tiêu thụ sản phẩm, chiến lợc vốn, chiến lợc nhân lực, chiến
lợc công nghệ
Chiến lợc tiêu thụ là định hớng hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp sản xuất
cho một thời kỳ dài với những giải pháp nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra.
Mục tiêu của chiến lợc tiêu thụ thờng bao gồm : Mặt hàng tiêu thụ, tăng doanh số
và lợi nhuận, mở rộng thị trờng, kể cả thị trờng trong và ngoài nớc.
Chiến lợc tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng, quyết định đến sự thành
công / thất bại của chiến lợc kinh doanh. Chiến lợc tiêu thụ sản phẩm giúp cho
doanh nghiệp nắm bắt đợc nhu cầu của khách hàng, mở rộng thị trờng mới, kế
hoạch hoá đợc khối lợng hàng hoá tiêu thụ, từ đó chủ động ứng phó với mọi diễn
biến của thị trờng
Trong chiến lợc tiêu thụ sản phẩm thì chiến lợc thị trờng là yếu tố quan trọng
hàng đầu bởi vì, xuất phát từ chiến lợc thị trờng các doanh nghiệp mới xây dựng
nên chiến lợc sản phẩm và chính sách giá cả. Chiến lợc thị trờng đúng đắn sẽ giúp
cho sản phẩm của doanh nghiệp đợc tiêu thụ thông suốt, tránh đợc những rủi ro
trong kinh doanh. Vì vậy khi xây dựng chiến lợc thị trờng, doanh nghiệp phải xác
định rõ định hớng thị trờng, nghĩa là thị trờng nào, thị hiếu nào mà doanh nghiệp
8

cần đặc biệt quan tâm. Chiến lợc phải xác định rõ thị trờng trọng điểm của doanh
nghiệp. Những giải pháp lớn để thâm nhập, mở rộng thị trờng. Đồng thời cũng
phải xác định thị trờng mục tiêu và chiến lợc phân đoạn thị trờng.
Trong chiến lợc sản phẩm, bên cạnh chiến lợc sản phẩm xơng sống doanh
nghiệp cần phải xây dựng cho đợc chiến lợc đa dạng hoá sản phẩm, chiến lợc sản
phẩm kế tiếp, chiến lợc tối đa hoá qui mô sản phẩm.
Sau khi xác lập đợc chiến lợc tiêu thụ, doanh nghiệp cần tiến hành xây dựng
các kế hoạch tiêu thụ sản phẩm nhằm cụ thể hoá chiến lợc. Bằng hệ thống các chỉ
tiêu, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm khi xây dựng phải phản ánh đợc những nội dung
cơ bản : khối lợng sản phẩm tiêu thụ về hiện vật và giá trị có phân theo hình thức
tiêu thụ, cơ cấu thị trờng, cơ cấu sản phẩm và giá cả tiêu thụ Các chỉ tiêu kế
hoạch tiêu thụ có thể tính theo đơn vị hiện vật và giá trị hoặc chỉ tiêu tuyệt đối và
tơng đối.
2. Lựa chọn kênh tiêu thụ
Trong nền kinh tế thị trờng, tiêu thụ sản phẩm đợc thực hiện bằng nhiều kênh
khác nhau, theo đó sản phẩm đợc vận động từ ngời sản xuất đến tận tay ngời tiêu
thụ cuối cùng.
Về nguyên tắc, doanh nghiệp có thể tuỳ ý lựa chọn các dạng kênh tiêu thụ mà
doanh nghiệp mong muốn. Nhng điều đó có thể hạn chế đến khả năng bán hàng và
hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy, khi lựa chọn kênh tiêu thụ
doan nghiệp phải nắm đợc : Thứ nhất, đặc điểm tính chất của từng loại sản phẩm,
mục đích sử dụng của chúng, khối lợng sản phẩm mua bán, điều kiện giao nhận và
vận chuyển giữa ngời bán với ngời mua ; Thứ hai: Yêu cầu cần đợc đáp ứng từ
phía khách hàng; Thứ ba : u và nhợc điểm của từng loại kênh tiêu thụ để từ đó
có thể lựa chọn đợc kênh tiêu thụ một cách khách quan, khoa học và phù hợp với
tình hình thực tế của doanh nghiệp.
3. Tổ chức giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng tiêu thụ
Thế giới hiện thực mà chúng ta đang sống là một bàn đàm phán khổng lồ, ở đó
mỗi ngời chúng ta là một thành viên của bàn đàm phán khổng lồ đó. Trên thơng tr-
ờng các doanh nhân vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau. Sự xung đột lớn nhất
9

giữa họ là xung đột về lợi ích vật chất. Giao dịch và đàm phán là con đờng tốt nhất
để điều hoà lợi ích vật chất và giải quyết mâu thuẫn giữa các bên. Tuỳ từng thơng
vụ kinh doanh cụ thể mà doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức cũng nh những
bớc đi thích hợp cho cuộc giao dịch và đàm phán.
Nội dung cơ bản của tổ chức giao dịch và đàm phán gồm : Lựa chọn nhân sự
cho cuộc đàm phán, thực hiện mở đầu đàm phán, truyền đạt thông tin, phân tích
các tình huống, và kết thúc đàm phán. Trong quá trình giao dịch và đàm phán các
bên thờng phải thoả thuận với nhau các điều khoản chủ yếu sau:
+ Tên sản phẩm : Đây là một điều khoản quan trọng bậc nhất trong việc xác
lập chính xác đối tợng mua bán. Nó nói lên chính xác đối tợng cần mua bán trao
đổi.
+ Phẩm chất của sản phẩm : Điều khoản này nói lên mặt chất của sản phẩm
mua bán, nghĩa là tính năng, tác dụng, quy cách, của sản phẩm đó.
+ Số lợng sản phẩm : Điều khoản này quy định khối lợng ( trọng lợng ) sản
phẩm cần trao đổi, đơn vị tính và phơng pháp xác định trọng lợng / số lợng.
+ Giá cả : Điều khoản này phải xác định rõ mức giá, đồng tiền tính giá, phơng
pháp qui định và xác định mức giá, cơ sở của giá và việc giảm giá.
+ Thời hạn, địa điểm, và phơng thức giao hàng.
+ Đồng tiền, thời hạn và phơng thức thanh toán.
Kết quả của cuộc giao dịch đàm phán đợc thể hiện là hợp đồng tiêu thụ đợc ký
kết. Đây sẽ là căn cứ để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia.
Theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, thì hợp đồng kinh tế đợc ký kết giữa các bên
phải đợc thể hiện bằng văn bản, các bên trong quá trình tham gia ký kết có thể sử
dụng một trong hai cách sau:
+ Ký kết trực tiếp : Là hình thức ký kết mà đại diện hợp pháp của các bên trực
tiếp gặp gỡ, bàn bạc, thoả thuận các điều khoản và cùng ký vào một văn bản. Hợp
đồng này có giá trị pháp lý từ thời điểm hai bên ký vào văn bản.
+ Ký kết gián tiếp : Là hình thức ký kết mà trong đó, các bên tiến hành gửi cho
nhau các tài liệu giao dịch (công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng )
chứa nội dung công việc giao dịch.
4. Chuẩn bị hàng hóa để xuất bán
10

Chuẩn bị hàng hoá để xuất bán cho khách hàng là hoạt động tiếp tục quá trình
sản xuất trong khâu lu thông, đây là khâu cuối cùng quyết định sản phẩm có đợc
đem bán ra thị trờng hay không? Nếu có thì khi nào với khối lợng là bao nhiêu.Để
quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp đợc diễn ra liên tục, bình thờng và
không bị gián đoạn thì doanh nghiệp phải chú trọng đến các nghiệp vụ sản xuất ở
kho nh : Tiếp nhận đầy đủ về mặt chất lợng và số lợng từ các phân xởng, tổ đội
sản xuất của doanh nghiệp theo đúng mặt hàng, quy cách chủng loại, sắp xếp hàng
hoá ở kho, bảo quản và lắp ghép đồng bộ sản phẩm để xuất bán cho khách hàng
Nhằm cung ứng cho khách hàng những sản phẩm có chất lợng tốt nhất, đủ về số l-
ợng đúng về thời gian.
5. Tổ chức thực hiện tiêu thụ sản phẩm
Tổ chức thực hiện hoạt động tiêu thụ ở doanh nghiệp là quá trình thực hiện hợp
đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng đại lý với các khách hàng hoặc là đáp ứng tức
thời yêu cầu của ngời mua ở các cửa hàng, quầy hàng giới thiệu sản phẩm của
doanh nghiệp.
Đối với hình thức bán buôn, mua bán theo hợp đồng, thì tuỳ theo số lợng mua
bán, phơng thức giao nhận và phơng thức thanh toán mà doanh nghiệp phân công
số nhân viên bán hàng phù hợp để đáp ứng yêu cầu giao dịch mua bán của khách
hàng ở những địa điểm thuận tiện cho cả hai bên.
Đối với hình thức bán lẻ thờng diễn ra ở cửa hàng, quầy hàng giới thiệu sản
phẩm, xe lu động cần căn cứ vào lợng hàng hoá tiêu thụ bình quân một ngày
đêm để chuẩn bị lực lợng hàng hoá, thiết bị, phơng tiện và nhân viên bán hàng để
đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu của các loại khách hàng trong ngày.
6. Tổ chức các hoạt động xúc tiến và yểm trợ bán hàng
Hoạt động xúc tiến bán hàng là toàn bộ các hoạt động nhằm tìm kiếm và thúc
đẩy cơ hội bán hàng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm Xúc tiến bán hàng có ý
nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnh thị trờng và nâng cao sức cạnh tranh của
hàng hoá trên thơng trờng, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cả về số
lợng và thời gian. Yểm trợ là các hoạt động nhằm hỗ trợ, thúc đẩy và tạo điều kiện
thuận lợi để thực hiện tốt các hoạt động tiêu thụ ở doanh nghiệp.
11

Xúc tiến và yểm trợ là các hoạt động rất quan trọng có tác dụng hỗ trợ và thúc
đẩy công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có điều
kiện mở rộng các mối quan hệ với khách hàng, củng cố và phát triển thị trờng.
Những nội dung chủ yếu của hoạt động xúc tiến và yểm trợ bán hàng phải kể đến
là : Quảng cáo, khuyến mại, tham gia hội chợ, triển lãm
III. Các chỉ tiêu và phơng pháp đánh giá kết quả tiêu thụ sản
phẩm.
Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, doanh nghiệp cần phải phân tích và đánh giá kết
quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm nhằm xem xét khả năng mở rộng / thu hẹp thị tr-
ờng tiêu thụ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các
nguyên nhân ảnh hởng đến kết quả tiêu thụ nhằm kịp thời có các biện pháp thích
hợp để thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm. Để đánh giá kết quả tiêu thụ doanh
nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Doanh thu bán hàng theo đơn vị hiện vật / giá trị.
+ Lợi nhuận sau thuế.
+ Số khách hàng mới.
+ Số khách hàng mất đi.
+ Số đơn đặt hàng.
+ Thị phần của doanh nghiệp.
T =
+ Tỉ lệ hoàn thành chỉ tiêu bán
C=
+ Tỉ lệ chiếm lĩnh khách hàng
K=
+ Vòng quay vốn
V
1
=
+Vòng quay của vốn lu động
V
2
=
Kết quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm sẽ là căn cứ để doanh nghiệp có biện
pháp thúc đẩy tiêu thụ và hoàn thiện quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trên
mọi phơng diện.
12

IV. Những nhân tố cơ bản ảnh hởng đến công tác tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng nh tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp không thể ở trong một thể khép kín mà nó phải có các mối quan hệ xung
quanh và phải hoạt động trong một môi trờng kinh doanh nhất định luôn chịu ảnh
hởng bởi những nhân tố của môi trờng đó.
1. Nhóm nhân tố ảnh hởng thuộc môi trờng kinh doanh.
1.1 Nhân tố thuộc về ngời tiêu dùng.
Quy mô, cơ cấu tiêu dùng ảnh hởng mạnh mẽ đến mức bán ra của doanh
nghiệp. Nói chung, thu nhập của nhời tiêu dùng càng cao, họ sẽ tiêu dùng ngày
càng nhiều sản phẩm của doanh nghiệp. Có thể nói doanh nghiệp muốn tồn tại,
phát triển thì phải có chỗ đứng, sản phẩm của doanh nghiệp làm ra phải đợc ngời
tiêu dùng chấp nhận. Ngời tiêu dùng là nhân vật trung tâm của mọi loại hình
doanh nghiệp. Vì vậy, vần đề mấu chốt đối với doanh nghiệp là cần có các biện
pháp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, thoả mãn tâm lý khách hàng, có biện pháp
khuyến khích ngời tiêu dùng mua hàng hoá của doanh nghiệp.
1.2 Tình hình cạnh tranh trên thị trờng.
Cạnh tranh là quy luật tất yếu của thị trờng, cạnh tranh lành mạnh hợp pháp có
thể làm thay đổi hẳn tình hình của doanh nghiệp có thể làm doanh nghiệp từ yếu
kém trở lên hùng mạnh và ngợc lại. Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào cấu trúc của
ngành, mức độ tăng trởng của ngành và đa dạnh hoá sản phẩm. Các tổ chức cạnh
tranh một mặt là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, mặt khác, lại là các đồng
nhgiệp của doanh nghiệp, cùng với doanh nghiệp tạo ra sự hấp dân lôi cuốn
khách hàng để mua hàng của doanh nghiệp. Chính vì vậy, doanh nghiệp phải có
cách nhìn nhận chính xác về đối thủ cạnh tranh để có một cách ứng xử có hiêụ quả
và phù hợp với thế giới hiện đại.
1.3 Môi trờng chính trị - luật pháp
13

Quan điểm, mục tiêu định hớng phát triển xã hội và nền kinh tế của Đảng cầm
quyền ; mức độ ổn định chính trị - xã hội; thái độ và phản ứng của các tổ chức, các
nhà phê bình xã hội và dân chúng; hệ thống luật pháp với mức độ hoàn thiện và
hiệu lực thực thi luật pháp trong đời sống kinh tế - xã hội hình thành cơ hội cũng
nh thách thức cho thực hiện mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào. Vì vậy, sự ổn
định của các yếu tố này đợc xác định là một trong những điều kiện tiền đề quan
trọng đối với các doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh trên thơng trờng.
1.4 Môi trờng kinh tế và công nghệ
ảnh hởng của các yếu tố này đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp là rất lớn. Xu hớng vận động và bất cứ sự thay đổi nào của các yếu tố thuộc
môi trờng này đều mở rộng hoặc thu hẹp cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Các
yếu tố quan trọng của môi trờng này và tác động của nó đến cơ hội kinh doanh của
doanh nghiệp:
Tiềm năng của nền kinh tế : Phản ánh của nguồn lực có thể đợc huy động và
chất lợng của nó: tài nguyên, con ngời, vị trí địa lý, dự trữ quốc gia Liên quan
đến các định hớng và tính bền vững của chiến lợc kinh doanh.
Các thay đổi về cấu trúc, cơ hội kinh tế của nền kinh tế quốc dân : Tác động
đến sự thay đổi vị trí, vai trò và xu hớng phát triển của các ngành / nền kinh tế
quốc dân, kéo theo sự thay đổi chiều hớng phát triển của doanh nghiệp.
Tốc độ tăng trởng kinh tế : Liên quan trực tiếp / gián tiếp đến khả năng tăng
trởng / giảm thiểu, hoặc mở rộng / thu hẹp qui mô sản xuất kinh doanh của từng
doanh nghiệp.
Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát : ảnh hởng đến hiệu quả thực của
thu nhập, tích luỹ; kích thích hoặc kìm hãm tăng trởng, xu hớng đầu t, xu hớng
tiêu dùng
Hoạt động ngoại thơng, xu hớng mở /đóng của nền kinh tế
: Tác động mạnh đến các
cơ hội phát triển của doanh nghiệp, các điều kiện cạnh tranh, khả năng sử dụng u
thế quốc gia và thế giới về công nghệ, nguồn vốn
Tỷ giá hối đoái và khả năng chuyển đổi của đồng nội tệ : có ảnh hởng lớn đến
hoạt động kinh doanh của các công ty xuất nhập khẩu.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét