Chính sách tỉ giá hối đoái ở Việt Nam
1.1.2, Những nhân tố tác động đến tỉ giá hối đoái :
Sự hình thành TGHĐ là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủ
quan và khách quan. Nhưng nhìn chung, có ba yếu tố chính tác
động đến tỉ giá. Đó là mối quan hệ cung cầu về ngoại tệ, độ lệch về
lãi suất và lạm phát giữa các nước.
Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực
tiếp đến sự biến động của tỉ giá hối đoái. Cung cầu ngoại tệ lại chịu
sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong đó có cán cân
thanh toán quốc tế. Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa có thể
dẫn đến khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và ngược lại.
Sự cân bằng của cán cân thanh toán quốc tế lại phụ thuộc vào các
nguốn cung và cầu ngoại tệ cấu thành nên cán cân thanh toán quốc
tế. Khi nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định nhu cầu về hàng
hoá và dịch vụ nhập khẩu sẽ tăng do đó nhu cầu về ngoại tệ cho
thanh toán hàng nhập khẩu tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi
vào tình trạng suy thoái thì các hoạt động sản xuất kinh doanh và
xuất nhập khẩu bị đình trệ làm cho nguồn cung ngoại tệ giảm đi.
Trong khi nhu cầu nhập khẩu chưa kịp thời được điều chỉnh trong
ngắn hạn việc giảm cung ngoại tệ sẽ đẩy tỉ giá hối đoái lên cao.
Mức chênh lệch về lãi suất giữa các nước là yếu tố thứ hai ảnh
huờng đến TGHĐ. Nước nào có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao hơn
lãi suất tiền gửi của các nước khác thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào
nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cho cung
ngoại tệ tăng lên, TGHĐ sẽ giảm xuống.
Mức chênh lệch lạm phát của hai nước cũng ảnh hưởng đến sự
biến động của tỉ giá. Giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh,
năng suất lao động của hai nước tương đương như nhau, cơ chế
quản lý ngoại hối tự do, khi đó tỉ giá hối đoái biến động phụ thuộc
vào mức chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền. Nước nào có mức
độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so với
đồng tiền nước còn lại.
5
Chính sách tỉ giá hối đoái ở Việt Nam
Chênh lệch lạm phát dựa vào thuyết ngang giá sức mua của đồng
tiền PPP. Theo thuyết này, mức giá của một nước tăng lên tương đối
so với mức tăng giá của nước khác trong dài hạn sẽ làm cho đồng
tiền của nước đó giảm giá và ngược lại. Như vậy, yếu tố chênh lệch
lạm phát chỉ có ảnh hưởng đến biến động của tỉ giá hối đoái trong
dài hạn. Việc nghiên cứu yếu tố này để làm cơ sở dự đoán biến
động của tỉ giá hối đoái trong ngắn hạn sẽ đem lại kết quả không
đáng tin cậy.
Ngoài những yếu tố nêu trên TGHĐ còn chịu ảnh hưởng của các
yếu tố khác, chẳng hạn như yếu tố tâm lý, chính sách của chính
phủ, uy tín của đồng tiền…
1.1.3, Tác động của tỉ giá hối đoái đến nền kinh tế :
Nhìn chung, TGHĐ biến động tăng hoặc giảm là do tác động của
nhiều yếu tố khác nhau. Do đó, để có một mức tỉ giá hối đoái phù
hợp cho từng thời kỳ, chúng ta cần phải xác định được các yếu tố
chủ quan, khách quan; trực tiếp và gián tiếp tác động lên tỉ giá.
Trên cơ sở đó, mà đưa ra những quyết định chính sách đúng đắn
trong việc điều hành tỉ giá hối đoái nhằm đạt các mục tiêu kinh tế
cụ thể.
TGHĐ chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau nhưng đồng thời
nó cũng tác động tới nhiều mặt khác nhau của nền kinh tế trong đó
quan trọng nhất là tới hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, tín
dụng quốc tế.
Sự biến động của TGHĐ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại
thương thông qua kênh giá cả. Dựa trên TGHĐ, chúng ta có thể tính
được giá xuất nhập khẩu của một loại hàng hoá của một nước theo
tiền tệ của một nước khác. Vì vậy, tỉ giá hối đoái thay đổi kéo theo
sự thay đổi của giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu. Chúng ta hãy cùng
xem xét tình huống sau. Chẳng hạn khi TGHĐ tăng, đồng nội tệ mất
giá. Sự biến động này có lợi cho hoạt động xuất khẩu vì giá xuất
khẩu của hàng hoá và dịch vụ của nước đó sẽ giảm đi tương đối
trên thị trường nước ngoài, với điều kiện giá cả hàng hoá và dịch cụ
6
Chính sách tỉ giá hối đoái ở Việt Nam
đó giữ ở mức ổn định trên thị trường nội địa. Do đó, sẽ góp phần
làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của nước đó.
Khi TGHĐ tăng, giá cả hàng nhập khẩu sẽ đắt lên tương đối trên thị
trường nội địa với điều kiện giá nhập khẩu ổn định. Chính vì vậy mà
một số nước sử dụng chinh sách phá giá đồng nội tệ để hạn chế
nhập khẩu.
Ngoài ra, TGHĐ tăng hay giảm còn có ảnh hường không nhỏ tới
dòng vốn ngoại tệ lưu chuyển giữa các nước tức tới hoạt động đầu
tư và tín dụng quốc tế. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc
vào nhiều yếu tố khác nhau.
1.1.4, Các chế độ TGHĐ :
Các hệ thống tỉ giá hối đoái khác nhau đã và đang được các nước
sử dụng trong khi đang hội nhập với phần còn lại của thế giới, cụ
thể là chế độ tỉ giá thả nổi thuần túy, thả nổi có quản lý, tỉ giá cố
định, hay một chuẩn tiền tệ giống như Argentina.Mỗi hệ thống đều
có ảnh hưởng đối với tính hiệu quả của chính sách tiền tệ và chính
sách tài khoá. Trong một hệ thống tỉ giá thả nổi thuần túy, chính
sách tài khóa có hiệu quả ít hơn và chính sách tiền tệ có hiệu quả
cao hơn. Còn trong một hệ thống tỉ giá cố định các kết quả ngược
lại. Vì vậy, các lợi điểm hay bất lợi của từng hệ thống rất khác biệt
giữa các nước tùy theo tính chất danh nghĩa hay thực tế của các cú
sốc tác động đến từng nước và khả năng của chính phủ trong việc
điều hành một chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt.
Trong những năm gần đây, đã có nhiều quốc gia áp dụng các hệ
thống tỉ giá có quản lý một cách linh hoạt, vì các hệ thống này cho
họ sự lựa chọn sử dụng chính sách tiền tệ một cách hiệu quả. Mặc
dù vậy, với cái giá phải trả là uy tín của họ đối với các mục tiêu
chống lạm phát bị xói mòn. Một vài ngoại lệ là các nền kinh tế mà
uy tín của chính phủ cực kỳ thấp - như Hồng Kông (thập niên
1980), Argentina và Estonia (thập niên 1990) chẳng hạn - tất cả
đều áp dụng các chuẩn tiền tệ do nhu cầu tái lập niềm tin của thị
trường. Tuy nhiên, khó khăn chủ yếu mà các nước này phải đối phó
7
Chính sách tỉ giá hối đoái ở Việt Nam
là duy trì một chính sách tài khoá đủ linh hoạt và xây dựng các
khoản đệm, chẳng hạn như dự trữ một lượng lớn ngoại hối để cải
thiện tính đàn hồi của nền kinh tế trước các cú sốc.
Sau cuộc khủng hoảng Mexico, nhiều người nghĩ rằng thời của các
hệ thống tỉ giá có quản lý đã qua . Tuy nhiên, hầu hết các nước đều
có thể đi qua cuộc khủng hoảng mà không phải thay đổi hệ thống tỉ
giá của mình. Các thị trường vốn quốc tế đã có xu hướng chọn lọc
kể từ biến cố Mexico và cấu trúc nền kinh tế mới là yếu tố quan
trọng để dẫn đến sự ổn định. Như vậy, có các dấu hiệu cho thấy
rằng có thể quản lý thành công các tỉ giá hối đoái được ấn định
chính thức trong một khuôn khổ chính sách kinh tế vĩ mô nhất
quán. Cụ thể, thành công của các hệ thống quản lý linh hoạt tùy
thuộc vào hai vấn đề sau đây:
° Liệu các nhà hoạch định chính sách có thể thành công thực sự
trong việc xác định tỉ giá hối đoái thực tế cân bằng để có thể tránh
các cuộc tấn công có tính đầu cơ do các yếu tố cơ bản của thị
trường thúc đẩy hay không.
° Liệu các chính phủ có thể tạo được đủ uy tín để làm cho các dự
kiến của các nhà đầu tư trên thị trường xoay quanh một tỉ giá hối
đoái cân bằng “tốt” trong một tình huống mà các trạng thái cân
bằng của tỉ giá hối đoái liên tục thay đổi, nhờ đó tránh được các
cuộc tấn công có tính đầu cơ hay không.
Đây là hai nguồn gốc quan trọng nhất của tính dễ biến động gắn với
một thể chế tỉ giá hối đoái có quản lý.
1.2, Chính sách TGHĐ và những nhân tố ảnh hưởng :
Chính sách TGHĐ là một bộ phận của chính sách tiền tệ và nằm
trong mối quan hệ của hệ thống các chính sách kinh tế.
8
Chính sách tỉ giá hối đoái ở Việt Nam
Trong quá trình điều hành nhằm đạt được những mục tiêu của
mình, chính sách tỉ giá hối đoái luôn chịu tác động nhất định của
các chính sách khác trong hệ thống các chính sách kinh tế, đặc biệt
là chính sách tiền tệ.
Mục tiêu của chính sách tỉ giá hối đoái và các chính sách kinh tế
khác, trong đó phải tính đến mục tiêu của chính sách tiền tệ, trong
ngắn hạn thường có sự mâu thuẫn với nhau. Một sự phối hợp chặt
chẽ và linh hoạt trong điều hành các chính sách có thể đem lại hiệu
quả cao hơn cho chính sách tỉ giá hối đoái giảm thiểu được những
hậu quả rủi ro đối với nền kinh tế mà nó có thể gây ra.
Thời điểm và mức điều chỉnh tỉ giá hối đoái là những vấn đề có
tính chất quyết định đối với hiệu quả của chính sách tỉ giá.
Hàm lượng của các yếu tố thị trường (như: Quan hệ cung - cầu về
ngoại hối, sở thích, chính sách, lạm phát, lợi tức của các tài sản nội
ngoại tệ ) phản ánh trong tỉ giá hối đoái càng cao thì khả năng có
một chính sách tỉ giá hối đoái có hiệu quả cao và chống đỡ được với
các cú sốc đối với nền kinh tế càng lớn.
Chính sách tỉ giá hối đoái có khả năng dự kiến những diễn biến
của tỉ giá hối đoái cao sẽ tạo khả năng ổn định tương đối dài hạn
và giảm thiểu được những rủi ro hối đoái, đẩy mạnh thu hút đầu tư
nước ngoài - một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các
nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hoá.
Tính nhạy cảm và khả năng phản ứng của các nhà điều hành chính
sách luôn là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành bại của chính
sách tỉ giá hối đoái - một loại chính sách kinh tế phức tạp, chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố dự kiến và rủi ro trong quá trình biến động,
đặc biệt là sự liên quan chặt chẽ của nó với những yếu tốt rủi ro có
tính chất chính trị. Vì vậy, kinh nghiệm vẫn luôn luôn chỉ là kinh
nghiệm, nó chỉ thực sự có giá trị khi những người phân tích và khai
thác kinh nghiệm tìm được lối đi riêng trong điều kiện cụ thể của
mình.
Phần 2 - Chính sách TGHĐ ở VN :
9
Chính sách tỉ giá hối đoái ở Việt Nam
2.1, Đánh giá chung về chính sách TGHĐ ở VN :
Chính sách điều hành tỉ giá hối đoái của VN trong thời gian qua đã
được những thành tựu nhất định và đã được các tổ chức quốc tế
đánh giá rất cao. Trong các đánh giá mới nhất của tổ chức Heritage
Foundation về chỉ số tự do kinh tế của VN giai đoạn 1995 – 2005 thì
chính sách tiền tệ trong giai đoạn này đã đạt điểm rất cao là điểm 1
(điểm 1 là cao nhất và điểm 5 là thấp nhất). Mặc dù vậy chính sách
điều hành tỉ giá hối đoái vẫn còn một số tồn tại nhất định, chúng ta
sẽ bắt đầu với những cột mốc đầu tiên từ trước cuộc khủng hoảng
tài chính châu Á cho đến nay để có một cái nhìn toàn diện hơn về
những thành công cũng như những vấn đề cần phải khắc phục
trong chính sách điều hành tỉ giá.
Chế độ tỉ giá hối đoái cố định trước khủng hoảng tài chính
tiền tệ châu Á
Bên cạnh những thành công vượt bậc do chế độ tỉ giá hối đoái thả
nổi trong giai đoạn trước (1989-1992) mang lại thì cũng có những
điều khiến cho những nhà quản lý kinh tế VN phải suy nghĩ khi mà
việc tỉ giá hối đoái được quyết định theo thị trường với hoàn cảnh
như nền kinh tế VN đã tạo ra những mặt hạn chế như: nền kinh tế
hay xảy ra những cơn sốc định kỳ cuối quý hoặc cuối năm; lạm phát
thường tăng vọt bất thình lình; hiện tượng đôla hóa trong hệ thống
lưu thông thanh toán ngày càng tăng nhanh; sự mất cân đối giữa
các vùng, các lĩnh vực; sự quản lý lỏng lẻo đã dẫn đến hàng loạt vụ
đổ bể tín dụng vào cuối năm 1991 và đầu năm 1992; nguồn thu
ngoại tệ không được quản lý chặt chẽ mà còn bị buông lỏng làm cho
dự trữ ngoại tệ tăng chậm trong 3 năm 1989, 1990 và 1991 mức dự
trữ ngoại tệ tương ứng là 24 triệu USD, 24 triệu USD và 25 triệu
USD; và một vấn đề nổi cộm khác là vấn đề nợ nước ngoài và công
tác quản lý nợ, một cái giá phải trả cho việc thả nổi tỉ giá hối đoái
là gánh nặng nợ nước ngoài khi tính bằng đồng VN trong ngân sách
nhà nước đã tăng mạnh.
Trước những hạn chế nêu trên và để bảo vệ nền kinh tế khỏi lạm
phát đã thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách VN chuyển sang
lựa chọn chính sách tỉ giá hối đoái vì mục tiêu chống lạm phát,
10
Chính sách tỉ giá hối đoái ở Việt Nam
bằng cách duy trì sự ổn định của tỉ giá hối đoái danh nghĩa (cố định
tỉ giá). Mặt khác Chính phủ đã tăng cường công tác thông tin, cho
công khi hóa một cách nhanh chóng và chính xác các chỉ số kinh tế
quan trọng như tỉ giá hối đoái chính thức, tỉ giá hối đoái thị
trường, chỉ số giá. Đồng thời Chính phủ cũng cho thấy sự chú trọng
tăng cường thực lực kinh tế cho hoạt động can thiệp vào tỉ giá hối
đoái bằng cách gia tăng mạnh quỹ dự trữ ngoại tệ (hình 1), lập
quỹ bình ổn giá.
Nguồn: Tài liệu “Một số vấn đề về chính sách tỉ giá hối đoái cho
mục tiêu phát triển kinh tế VN” NXB Thống Kê (T.96)
Thực tế về những biến động của tỉ giá hối đoái danh nghĩa giai
đoạn từ 1992 cho đến trước cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ
khu vực đã chứng tỏ điều đó (Bảng 1)
Bảng 1: Tương quan giữa tỉ giá hối đoái danh nghĩa với tỉ giá hối
đoái thực tế tính theo ngang giá sức mua
Nguồn: Tạp chí Tài chính tháng 2.2004 (T.33)
Nguồn : Tạp chí tài chính tháng 2.2004
Số liệu trên cho thấy, từ năm 1992 cho đến trước khi xảy ra cuộc
khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực (1997), tỉ giá hối đoái danh
nghĩa nhìn chung là ổn định. Tuy nhiên, nếu so với tỉ giá hối đoái
tính theo phương pháp ngang giá sức mua thì tỉ giá hối đoái danh
nghĩa của năm 1997 thấp hơn tỉ giá hối đoái thực tới 28%, nghĩa là
đồng tiền VN đã tăng giá thực tế xấp xỉ 28,14%. Và vì vậy thâm hụt
trong cán cân thương mại tính tuyệt đối bằng tiền tệ thì có sự gia
tăng liên tục (Bảng 2)
11
Chính sách tỉ giá hối đoái ở Việt Nam
Mặc dù vậy, sự ổn định của tỉ giá hối đoái danh nghĩa những năm
này đã góp phần tích cực vào việc ổn định giá cả, ổn định lạm phát
và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy nền kinh tế tăng
trưởng với tốc độ tương đối cao. Song việc duy trì tỉ giá hối đoái
danh nghĩa gần như là cố định đã làm cho đồng VN có xu hướng
ngày càng bị đánh giá cao hơn thực tế và là một trong những
nguyên nhân khuyến khích việc đi vay ngoại tệ để đầu tư tràn lan
vào những dự án không hiệu quả do giá của ngoại tệ được đánh giá
rẻ. Điều này đã tạo ra và tích luỹ những nhân tố gây mất ổn định và
phát triển không bền vững của nền kinh tế.
Bảng 2 : Tình hình cán cân thương mại giai đoạn (1993 – 1997)
Đơn vị tính: Tỉ USD
Nguồn: “Exchange rate arrangement in Vietnam: Information
content and policy option(Prepared by Vo Tri Thanh (principle
researcher) 12/2000 (Table II.1)
Nhìn chung tốc độ lạm phát và động thái của tỉ giá hối đoái danh
nghĩa thời kỳ 1993–1997 cho thấy: giá của VND trên thị trường
ngoại hối tương đối ổn định và có xu hướng lên giá. Đây không phải
là kết quả đáng mừng, mà ẩn chứa nhiều vấn đề bất lợi cho nền
kinh tế VN. VND bị đánh giá cao dần ngày càng gây những tổn hại
đến năng lực cạnh tranh trong thương mại quốc tế của hàng hóa–
dịch vụ VN. Nó không chỉ kìm hãm xuất khẩu, khuyến khích nhập
khẩu mà còn gây sức ép rất lớn đối với các ngành sản xuất trong
12
Chính sách tỉ giá hối đoái ở Việt Nam
nước, nhất là các ngành công nghiệp, nông nghiệp sản xuất xuất
khẩu và sản xuất thay thế hàng nhập khẩu. Mặc dù sức ép giảm giá
VND cũng ngày càng lớn, nhưng chúng ta không nhận thấy hết tính
nghiêm trọng của nó vì sức ép không bộc lộ rõ trong điều kiện hệ
thống tài chính tiền tệ của VN đang ở trong quá trình chuyển đổi,
Nhà nước kiểm soát chặt chẽ và vẫn còn đóng cửa. Đồng thời,
những thành công của công cuộc đổi mới và nền kinh tế đang đà
tăng trưởng cũng phần nào che khuất những vấn đề bất ổn mà quá
trình tăng trưởng nhanh tạo ra, trong đó có vấn đề về cơ chế điều
hành tỉ giá hối đoái (Bảng 3).
Bảng 3 : Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn (1993 – 1997)
Nguồn: “Exchange rate arrangement in Vietnam: Information
content and policy options”Prepared by Vo Tri Thanh (principle
researcher) 12/2000 (Table II.1)
Chế độ tỉ giá hối đoái cố định với biên độ dao động trong
giai đoạn (7.1997 – 26.02.1999)
Đây là giai đoạn cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ diễn ra ở khu
vực Đông Nam Á, điểm xuất phát là Thái Lan, sau đó lan nhanh
khắp khu vực và có tầm ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi thế
giới. VN cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng. Xét trên góc độ vĩ mô, nền kinh tế VN phải đối đầu với
những cơn sốc rộng khắp trong các lĩnh vực như: tài chính – ngân
hàng; ngoại thương; đầu tư; thu chi ngân sách nhà nước; tăng
trưởng kinh tế, dự trữ quốc gia và nợ nước ngoài. Mặt khác, những
hạn chế của chính sách TGHĐ thời kỳ từ năm 1993-1997 đã trở
13
Chính sách tỉ giá hối đoái ở Việt Nam
nên trầm trọng khi cuộc khủng hoảng xảy ra và đặt VN trước những
vấn đề nan giải cấp bách trong việc lựa chọn, đều chỉnh chính sách
tỉ giá hối đoái. Cuộc khủng hoảng đã làm cho một loạt đồng tiền
của các nước trong khu vực như: đồng won (Hàn Quốc), đồng baht
(Thái Lan), đồng rupiah (Inđônêxia), đồng ringgit (Malaysia) giảm
giá mạnh so với đồng USD (hình 2), mốc xuất phát bắt đầu từ năm
1996 trở đi tỉ giá hối đoái giữa các đồng tiền trên và đông đôla Mỹ
biến động rất mạnh – tăng đột biến. Điều đó cũng có nghĩa là đã
đẩy giá trị của đồng VN đang bị đánh giá cao hơn thực tế so với các
đồng tiền của các nước trong khu vực.
Nếu trong giai đoạn từ cuối năm 1992 đến tháng 7.1997 chỉ có
một lần duy nhất điều chỉnh biên độ giao dịch từ 1% lên 5% vào
ngày 27.02.1997, thì từ tháng 7.1997 đến đầu năm 1999 có nhiều
lần thay đổi với các mốc chính (Bảng 4)
Bảng 4 : Những lần điều chỉnh tỉ giá hối đoái và biên độ giao dịch
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét