Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Đề tài kim loại nặng

Tương tự như Pb, hàm lượng As cũng đã được xác định ở nhiều vùng cửa sông,
vùng ven biển trên thế giới. Hàm lượng As trong trầm tích cửa sông đã được xác
định từ 5 µg.g
-1
ở cửa sông Axe đến lớn hơn 1000 µg.g
-1
trong các cửa sông
Restronguet Creek, Cornwall nơi nhận nước thải từ các khu vực khai thác quặng
mỏ kim loại (Langstone, 1985 trích trong Bryan & Langston, 1992).
Hàm lượng Cd cũng được xác định ở Anh tại các cửa sông không bị ô nhiễm với
hàm lượng 0.2 µg.g
-1
, tại các cửa sông bị ô nhiễm nặng hàm lượng này có thể lên
đến 10 µg.g
-1
(Bryan & Langston, 1992). Sông Deule ở Pháp là một trong những
con sông bị ô nhiễm rất nặng do hứng chịu chất thải từ nhà máy luyện kim. Hàm
lượng kim loại trong trầm tích sông này rất cao (480 mg.kg
-1
) (Neda et al., 2006).
Hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích tại vùng cửa sông, vùng ven biển trên thế
giới nơi có rừng ngập mặn cũng đã được xác định từ ít bị ô nhiễm cho đến ô nhiễm
nặng. Tam & Wong (1995) đã xác định hàm Pb trong trầm tích rừng ngập mặn Sai
Keng, Hong Kong với hàm lượng 58,2 µg.g
-1
. Zheng & Lin (1996) đã xác định
hàm lượng Pb và Cd trong trầm tích rừng ngập mặn Avicennia marina, vịnh
Shenzhen với hàm lượng tương ứng 28,7 µg.g
-1
và 0,136 µg.g
-1
tương ứng.
1.2.2 Tại vùng đất phèn
Theo Breemen (1993), Astrom & Bjorklund (1995), Sundstrom et al. (2002), Hoa
et al. (2004) đã chỉ ra rằng đất phèn là nguồn phóng thích kim loại nặng gây ô
nhiễm nguồn nước. Khi đất phèn tiềm tàng tiếp xúc với ôxy do hiện tượng tự nhiên
hoặc do thoát nước nhân tạo, pyrite bị ôxy hóa tạo ra acid sulfuric làm hạ thấp pH.
Khi pH <4 các proton được phóng thích tấn công các khoáng sét, hòa tan một số
kim loại mà nồng độ của chúng có thể vượt xa nồng độ trong các loại đất không
phèn (Trần Kim Tính, 1999).
1.3
ẢNH HƯỞNG CỦA KIM LOẠI NẶNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC
KHỎE CON NGƯỜI
Ô nhiễm môi trường do tính độc hại của kim loại nặng gây mất cân bằng sinh thái
làm suy giảm nhiều quần thể sinh vật đã được tìm thấy ở nhiều quốc gia trên thế
giới. The Severn Estuary là một trong những con sông lớn nhất ở Anh là nơi ở và
sinh sản của nhiều loài cá. Nhiều thập kỉ qua, sông này đã phải hứ
ng chịu nhiều ô
nhiễm kim loại nặng như chì, cadmium và nhiều nguyên tố khác từ nhiều nguồn
khác nhau (Owens, 1984 trích trong WHO, 1992). Những ảnh hưởng của ô nhiễm
này có thể là một trong những nguyên nhân gây suy giảm quần thể cá. Quần thể cá
ở sông Severn Estuary đã gia tăng trở lại khi mức độ ô nhiễm môi trường nước
giảm (Potter et al., 2001). Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng ô nhiễm kim loại trong
vùng phụ cận của nơi tinh luy
ện chì lớn nhất thế giới tại Port Pirie nước Úc đã cho
thấy rằng 20 loài cá và giáp xác đã bị biến mất hoặc giảm số lượng (Ward &
Young, 1982 trích trong Bryan & Langston, 1992).

5
Khi sinh vật sống trong môi trường bị ô nhiễm, khả năng tích tụ các chất ô nhiễm
trong cơ thể chúng là rất cao nhất là ô nhiễm kim loại, gây nguy cơ cho sức khỏe
của người tiêu thụ chúng thông qua chuỗi thức ăn. Ohi et al. (1974) trích trong
WHO (1985) đã xác định mức độ chì trong máu, trong xương đùi và trong thận
của chim bồ câu được thu thập từ những vùng nông thôn và những vùng đô thị ở
Nhật. Kết quả cho thấy rằ
ng mức độ chì cao nhất trong xương đùi của chim bồ câu
với giá trị trung bình biến động từ 16,5 đến 31,6 mg.kg
-1
ở vùng đô thị. Trong khi
đó giá trị trung bình 2,0 và 3,2 mg.kg
-1
ở vùng nông thôn. Trong máu mức độ chì
cũng có xu hướng tương tự từ 0,15 – 0,33 mg.L
-1
ở vùng đô thị, và từ 0,054 –
0,029 mg.L
-1
.
Những năm gần đây, ảnh hưởng nghiêm trọng của As đối với sức khỏe con người
cũng đã được báo cáo ở Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh. Ước tính có đến hàng
triệu người có nguy cơ bị ngộ độc do ngộ độc As. Việt Nam có khoảng 10 triệu
người ở đồng bằng sông Hồng, 500 ngàn đến 1 triệu người ở ĐBSCL bị ngộ độc
mãn tính do uống nướ
c giếng khoang có chứa arsen (Berg et al., 2007). Tương tự,
sự tích tụ Cd trong gan và thận của động vật chăn thả ăn cỏ ở Úc và New Zealand
gây ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm thịt trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài
(Robert et al., 1994, McLaughlin et al., 2000).
1.4 ĐẶC TÍNH VÀ TÁC HẠI CỦA MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG
1.4.1 Asen (As)
Asen phân bố nhiều nơi trong môi trường, chúng được xếp thứ 20 trong những
nguyên tố hiệ
n diện nhiều trong lớp vỏ của trái đất, hiện diện ít hơn Cu, Sn nhưng
nhiều hơn Hg, Cd, Au, Ag, Sb, Se (Bissen & Frimmel, 2003). Nguồn asen khổng
lồ phóng thích vào khí quyển bởi quá trình tự nhiên là sự hoạt động của núi lửa.
Khi núi lửa hoạt động, một lượng lớn arsenic khoảng 17150 tấn phóng thích vào
khí quyển (Matschullat, 2000). Trong môi trường tự nhiên, asen chủ yếu liên kết
với các khoáng mỏ sunfide. Hàm lượng arsenic tự nhiên trong đất nói chung biến
động từ 0,1 - 40 mg.kg
-1
(Tamaki & Frankenberger, 1992). Theo Murray (1994)
hàm lượng asen trong đất trung bình 2,2-25 ppm.
Nguồn gây ô nhiễm do hoạt động của con người
- Khai thác quặng mỏ (Cu, Ni, Pb, Zn), luyện kim đưa vào môi trường một
lượng lớn arsenic. Khoảng 62000 tấn arsenic phóng thích vào môi trường
hàng năm từ các hoạt động này (Bissen & Frimmel, 2003).
- Đốt các nhiên liệu hóa thạch từ các hộ gia đình, từ các nhà máy điện.
- Sử dụng thuốc diệt nấm, thuốc trừ cỏ, thuốc diệt côn trùng và công nghiệp
-
Từ khi đưa vào sử dụng DDT năm 1947 và các loại thuốc trừ sâu hữu cơ
khác có chứa các hợp chất arsenic hữu cơ (Bissen & Frimmel, 2003).
Tác hại của asen đối với sức khỏe con người:

6
Tính độc của asen phụ thuộc rất nhiều vào bản chất của các hợp chất mà nó hình
thành, đặc biệt là hoá trị. Asen hoá trị 3 độc hơn rất nhiều so với asen hoá trị 5.
Tính độc của asen vô cơ (tri ôxit asen) đối với con người đã được biết từ lâu. Liều
lượng gây chết người khoảng 50-300 mg nhưng phụ thuộc vào từng cá thể (Clark
et al.,1997). Những biểu hiện của ngộ độc asen mãn tính bao gồ
m: yếu ớt, mất
phản xạ, mệt mỏi, viêm dạ dày, viêm ruột kết, chán ăn, giảm cân, rụng tóc, Con
người bị nhiễm độc asen lâu dài qua thức ăn hoặc không khí dẫn đến bệnh tim
mạch, rối loạn hệ thần kinh, rối loạn tuần hoàn máu, móng giòn dễ gãy với những
vạch trắng ngang móng, rối loạn chức năng gan, thận (Bissen & Frimmel, 2003).
Ngộ độc asen cấp tính có thể gây buồn nôn, khô miệng, khô họ
ng, rút cơ, đau
bụng, ngứa tay, ngứa chân, rối loạn tuần hoàn máu, suy nhược thần kinh,…
1.4.2 Cadmium (Cd)
Cd hiện diện khắp nơi trong lớp vỏ của trái đất với hàm lượng trung bình khoảng
0,1 mg.kg
-1
. Tuy nhiên hàm lượng cao hơn có thể tìm thấy trong các loại đá trầm
tích như đá trầm tích phosphate biển thường chứa khoảng 15 mg.kg
-1
. Hàng năm
sông ngòi vận chuyển một lượng lớn Cd khoảng 15000 tấn đổ vào các đại dương
(GESAMP, 1984 trích trong WHO, 1992). Hàm lượng Cd đã được báo cáo có thể
lên đến 5 mg.kg
-1
trong các trầm tích sông và hồ, từ 0,03 đến 1 mg.kg
-1
trong các
trầm tích biển (Korte, 1983 trích trong WHO, 1992). Hàm lượng Cadmium trung
bình trong đất ở những vùng không có sự hoạt động của núi lửa biến động từ 0,01
đến 1 mg.kg
-1
, ở những vùng có sự hoạt động của núi lửa hàm lượng này có thể lên
đến 4,5 mg.kg
-1

(Korte, 1983 trích trong WHO, 1992). Tuy nhiên theo Murray
(1994) hàm lượng Cd trong đất hiện diện trung bình 0,06 -1,1 ppm.
Nguồn do hoạt động của con người:
- Các ứng dụng chủ yếu của Cd trong trong công nghiệp như: lớp mạ bảo vệ
thép, chất ổn định trong PVC, chất tạo màu trong plastic và thủy tinh, và
trong hợp phần của nhiều hợp kim là một trong những nguyên nhân phóng
thích Cd vào môi trường.
- Hàm lượng của Cd trong phân lân biến động khác nhau tùy thuộc vào
nguồn gốc của đá phosphate. Phân lân có nguồn g
ốc từ đá phốt phát Bắc
Carolina chứa Cd 0,054 g.kg
-1
, phân lân có nguồn gốc từ đá Sechura chứa
hàm lượng Cd 0,012 g.kg
-1
, trong khi đó phân lân có nguồn gốc từ đá
phosphate Gafsa chứa 0,07 g.kg
-1
(Bolan et al
.
, 2003).
Tác hại của Cd đối với sức khỏe con người:
Cadmium được biết gây tổn hại đối thận và xương ở liều lượng cao. Nghiên cứu
1021 người đàn ông và phụ nữ bị nhiễm độc Cd ở Thụy Điển cho thấy nhiễm độc
kim loại này có liên quan đến gia tăng nguy cơ gãy xương ở độ tuổi trên 50
(Tobias Alfvén, 2004). Bệnh itai-itai là bệnh do sự ngộ độc Cd trầm trọ
ng. Tất cả

7
những bệnh nhân với bệnh này điều bị tổn hại thận, xương đau nhức trở nên giòn
và dễ gãy (Nogawa et al., 1999).
1.4.3 Chì (Pb)
Hàm lượng chì trung bình trong thạch quyển ước khoảng 1,6x10
-3
phần trăm
trọng lượng, trong khi đó trong đất trung bình là 10
-3
phần trăm và khoảng biến
động thông thường là từ 0,2x10
-3
đến 20x10
-3
phần trăm (Voitkevits et al., 1985).
Chì hiện diện tự nhiên trong đất với hàm lượng trung bình 10-84 ppm (Murray,
1994).
Nguồn do hoạt động của con người:
- Chì được sử dụng trong pin, trong bình ăcqui, trong một số dụng cụ dẫn
điện. Một số hợp chất chì được thêm vào trong sơn, thủy tinh, đồ gốm như
chất tạo màu, chất ổn định, chất kết gắn.
- Các sản phẩm th
ải từ ứng dụng của chì nếu không được tái chế hợp lý thải
vào môi trường làm gia tăng lượng kim loại độc hại này trong môi trường.
Ngoài ra một số hợp chất chì hữu cơ như tetraetyl hoặc tetrametyl chì được
thêm vào trong xăng đặc biệt ở những quốc gia đang phát triển.
Tác hại của chì đối với sức khỏe con người:
Trong cơ thể người, chì trong máu liên kết với hồng cầu, và tích t
ụ trong xương.
Khả năng loại bỏ chì ra khỏi cơ thể rất chậm chủ yếu qua nước tiểu. Chu kì bán rã
của chì trong máu khoảng một tháng, trong xương từ 20-30 năm (WHO,1995 trích
trong Lars Jarup, 2003). Các hợp chất chì hữu cơ rất bền vững độc hại đối với con
người, có thể dẫn đến chết người (Peter Castro & Michael, 2003).
Những biểu hiện của ngộ độc chì cấp tính như nhức đầu, tính d
ễ cáu, dễ bị kích
thích, và nhiều biểu hiện khác nhau liên quan đến hệ thần kinh. Con người bị
nhiễm độc lâu dài đối với chì có thể bị giảm trí nhớ, giảm khả năng hiểu, giảm chỉ
số IQ, xáo trộn khả năng tổng hợp hemoglobin có thể dẫn đến bệnh thiếu máu
(Lars Jarup, 2003). Chì cũng được biết là tác nhân gây ung thư phổi, dạ dày và u
thần kinh đệm (Steenland et al., 2000). Nhiễm độc chì có thể gây tác h
ại đối với
khả năng sinh sản, gây sẩy thai, làm suy thoái nòi giống (Ernest & Patricia, 2000).
1.4.4 Kẽm (Zn)
Hàm lượng kẽm trung bình trong đất và đá thông thường gia tăng theo thứ tự: cát
(10-30 mg.kg
-1
), đá granic (50 mg.kg
-1
), sét (95 mg.kg
-1
), và bazan (100 mg.kg
-1
)
(Adriano, 1986 trích trong WHO, 2001). Theo Murray (1994) hàm lượng kẽm hiện
diện tự nhiên trong đất 17-125 ppm. Cháy rừng phóng thích một lượng lớn kẽm
vào không khí. Khoảng 7600 tấn kẽm mỗi năm ở mức độ toàn cầu phóng thích vào
không khí do cháy rừng. Sự phong hoá địa chất là một trong những nguyên nhân
phóng thích kẽm vào môi trường.
Nguồn do hoạt động của con người:

8
- Khai thác quặng mỏ, luyện kim, mỗi năm trên thế giới có khoảng 1-3 triệu
tấn kẽm từ các hoạt động này đi vào môi trường đất.
- Sử dụng phân bón hoá học cũng là một trong những nguyên nhân làm gia
tăng hàm lượng kẽm trong môi trường (Alloway, 1990 trích trong Green-
Ruiz và Páez-Osuna, 2003). Lượng kẽm đi vào môi trường đất hàng năm từ
việc sử dụng phân bón trên thế giới khoảng 260–1100 tấn.
- Ngoài ra nguồn đáng kể
kẽm đi vào môi trường đất hàng năm trên thế giới
khoảng 640–1914 × 10
3
tấn từ những chất thải có chứa kẽm như chất thải
động vật, chất thải nông nghiệp, phân bón, bùn thải cống rãnh, bụi than,
nông dược (Nriagu & Pacyna, 1988 trích trong WHO, 2001).
Tác hại của Zn đối với sức khỏe con người:
Hấp thụ nhiều kẽm có thể gây nôn, tổn hại thận, lách làm giảm khả năng hấp thu
đồng và gây bệnh thiếu máu liên quan đến sự thiếu hụt đồng. Hấp thụ
kẽm trong
khẩu phần ăn hàng ngày > 1000 mg gây nôn, sốt, tổn hại thận và lách, từ 200-500
mg/ngày gây xáo trộn dạ dày, buồn nôn, hoa mắt. Hấp thụ kẽm > 100 mg/ngày gây
giảm sự hấp thụ đồng (Ivor E Dreosti, 1996).
1.4.5 Đồng (Cu)
Đồng được tìm thấy tự nhiên trong các khoáng như cuprite (Cu
2
O), malachite
(Cu
2
CO
3
.Cu(OH)
2
), azurite (2CuCO
3
.Cu(OH)
2
), chalcopyrite (CuFeS
2
), chalcocite
(Cu
2
S), và bornite (Cu
5
FeS
4
) và trong nhiều hợp chất hữu cơ. Ion đồng (II) gắng
kết qua ôxy đối với các tác nhân vô cơ như H
2
O, OH
-
, CO
3
2-
, SO
4
2-
, đối với các
tác nhân hữu cơ qua các nhóm như phenolic và carboxylic (Cotton & Wilkinson,
1989 trích trong WHO, 1998). Vì vậy hầu hết đồng trong tự nhiên phức hợp với
các hợp chất hữu cơ (Allen & Hansen, 1996 trích trong WHO, 1998).
- Trong đá nham thạch đồng biến động từ 4-200 mg.kg
-1
, trong đá trầm tích
2-90 mg.kg
-1
(Cannon et al.,1978 trích trong WHO, 1998).
- Sự khuếch tán đồng từ các nguồn tự nhiên trung bình trên khắp thế giới
hàng năm từ bụi được mang từ gió 0,9-15 × 10
3
tấn, cháy rừng 0,1-7,5 × 10
3

tấn, hoạt động núi lửa 0,9-18 × 10
3
tấn (Nriagu, 1989 trích trong WHO,
1998).
- Đồng hiện diện tự nhiên trong lớp vỏ trái đất với hàm lượng trung bình
khoảng 60 mg.kg
-1
(Lide & Frederikse, 1993 trích trong WHO, 1998), tuy
nhiên theo (Murray, 1994) trong đất biến động từ 6-80 ppm.
Tác hại của đồng đối với sức khoẻ của con người:
Đồng được xem là một trong những nguyên tố cần thiết đối với sự phát triển của
con người, tuy nhiên sự tích tụ đồng với hàm lượng cao có thể gây độc cho cơ thể.
Cumings (1948) trích trong WHO (1998) phát hiện đồng thực sự là tác nhân độc

9
hại đối với các bệnh nhân Wilson và khám phá rằng gan và não của những bệnh
nhân này có chứa hàm lượng kim loại này rất cao.
1.4.6 Thủy ngân (Hg)
Thủy ngân hiện diện và tồn tại trong tự nhiên ở nhiều dạng khác nhau: kim loại, vô
cơ và hữu cơ (metyl và etyl thủy ngân). Tất cả những dạng này có tính độc khác
nhau và có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Trong môi trường đất, dạng
cation Hg
2+
hiện diện là phổ biến nhất. Sự tích tụ thủy ngân trong đất có khuynh
hướng tương quan với hàm lượng vật chất hữu cơ. Hàm lượng thủy ngân trong tự
nhiên cao nhất đã được báo cáo trong đất ngập nước và đất than bùn. Hàm lượng
thủy ngân trong đất trên thế giới trung bình 0,02-0,41 ppm (Murray, 1994). Nồng
độ thủy ngân trong nước đại dương trung bình 0,001-0,004 µ.L
-1
(Olafsson, 1983
trích trong Bryan & Langston, 1992) và nồng độ Hg gia tăng gần các cửa sông
chịu ảnh hưởng từ công nghiệp (Baker, 1977 trích trong Bryan & Langston, 1992).
Thủy ngân đến từ các nguồn tự nhiên và nguồn do hoạt động của con người:
- Nguồn tự nhiên: hoạt động của núi lửa, sự phong hoá nhiều loại đá có chứa
thủy ngân.
- Nguồn do hoạt động của con người: đến từ các nhà máy điện đốt than; các
lò đốt rác thả
i; những nơi khai thác thủy ngân, vàng, đồng, kẽm, bạc; các
hoạt động luyện kim; thải bỏ các nhiệt kế và từ đốt rác thải y tế. Riêng chất
thải từ các thiết bị y tế có thể phóng thích chiếm khoảng 5% thủy ngân
trong nước thải (WHO, 2007).
Ảnh hưởng của thủy ngân đối với sức khỏe con người:
Khi thủy ngân kết hợp với các hợp chất hữu cơ và bị biến
đổi bởi các vi khuẩn và
vi sinh vật trong nước và trầm tích hình thành các hợp chất khác nhất là metyl thủy
ngân rất độc, bền và tích tụ trong chuỗi thức ăn (Peter & Michael, 2003). Trong
môi trường biển, hệ vi sinh vật có thể chuyển nhiều hợp chất thủy ngân vô cơ
thành metyl thủy ngân và hợp chất này dễ dàng phóng thích từ trầm tích vào nước,
sau đó có thể tích tụ trong các sinh vật sống (Clark et al., 1997). Metyl thủy ngân
độc hại đối với hệ thần kinh trung
ương và ngoại vi. Hít thở hơi thủy ngân có thể
ảnh hưởng tổn hại đến hệ thần kinh, tiêu hóa và miễm nhiễm, phổi, thận và có thể
tử vong. Các muối vô cơ của thủy ngân có thể phá hủy da, mắt, đường tiêu hóa, và
có thể gây ra sự tổn hại thận nếu hấp thụ (WHO, 2007). Thảm họa ngộ độc metyl
thủy ngân (bệnh Minamata) năm 1956 có hơn 2000 người bi ngộ độc trong số này
có 43 người chế
t, hơn 700 người với tàn tật nghiêm trọng suốt đời (Clark et al.,
1997).
1.5 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU
1.5.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Cà Mau được tái lập từ cuối năm 1996, là mảnh đất tận cùng của tổ quốc

10
với 3 mặt tiếp giáp với biển: phía Đông giáp với biển Đông, phía Tây và phía Nam
giáp với vịnh Thái Lan. Tỉnh Cà Mau có các huyện nằm giáp với biển: huyện Năm
Căn, Đầm Dơi, và huyện Ngọc Hiển, trong đó huyện Ngọc Hiển là một bán
đảo, phía Bắc tiếp giáp với huyện Năm Căn, còn lại có 3 mặt tiếp giáp biển với
chiều dài bờ biển 98 km (Hình 2).

Nguồn: Sở tài nguyên Cà Mau
Hình 2: Bản đồ huyện Ngọc Hiển
1.5.2 Điều kiện tự nhiên
a. Điều kiện địa hình- đất đai
Bán đảo Cà Mau là vùng đất thấp, thường xuyên bị ngập nước, có 5 nhóm đất
chính gồm: đất phèn, đất than bùn, đất bãi bồi, đất mặn và đất kênh rạch. Nhóm
đất mặn với diện tích 150.278 ha tập trung chủ yếu ở ven Biển Ðông, phía Nam
thành phố Cà Mau, và các huyện Ðầm Dơi, Cái Nước, Ngọc Hiển và Trần Văn
Thời. Sự hình thành các bãi bồ
i ở bán đảo Cà Mau chịu ảnh hưởng bồi đắp phù sa
rất nhiều từ hệ thống sông Mê Kông. Trong mùa khô, lưu lượng chảy của sông và
sự vận chuyển trầm tích từ nội địa không mạnh như vào mùa mưa (Lap et al.,
2000). Huyện Ngọc Hiển có địa hình bằng phẳng, nhưng địa hình bị chia cắt mạnh
bởi hệ thống sông rạch tự nhiên và kênh mương chằng chịt, có nhiều con sông rất

11
rộng (sông Cửa Lớn có chiều rộng từ 400 – 1000 m). Cao trình trung bình từ 0,5-
0,7 m, thường xuyên ngập triều biển, riêng vùng ven biển Đông có địa hình cao
hơn từ 1,2-1,5m. Đất đai của huyện Ngọc Hiển có thể chia làm 4 nhóm đất chính:
đất phèn tiềm tàng mặn, đất mặn, đất bãi bồi và nhóm đất cát
(http://www.camau.gov.vn/index.php?o=modules&n=info&f=intro_detail&id=156
7&idmenu=118, đọc ngày 26/06/2006)
b. Điều kiện khí hậu
Khí hậu thời tiết của huyện mang đặc trưng khí hậu gió mùa cậ
n xích đạo, khu vực
huyện Ngọc Hiển là nơi có lượng mưa cao nhất trong tỉnh Cà Mau cũng như trong
khu vực đồng bằng sông Cửu Long, với lượng mưa trung bình nhiều năm là 2.300
mm, lượng mưa giảm dần về phía Đông Bắc của huyện, tại khu vực tiếp giáp với
huyện Năm Căn có lượng mưa trung bình 2.200 mm.
c. Chế độ thuỷ văn
Hệ thống sông rạch trong tỉnh r
ất dày đặc và có chế độ dòng chảy phức tạp chịu
ảnh hưởng của cơ chế thuỷ triều biển Đông (theo chế độ bán nhật triều không đều)
và theo chế độ nhật triều của biển Tây. Biên độ triều lớn, mức triều lên cao nhất
vào tháng 12, mức triều xuống thấp nhất vào tháng 6. Chế độ thuỷ văn huyện Ngọc
Hiển chịu ảnh hưởng c
ủa chế độ bán nhật triều biển Đông, và chế độ nhật triều
Vịnh Thái Lan (Đặng Trung Tấn, 2003).

1.5.3 Tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Cà Mau
a. Tiềm năng kinh tế-xã hội của tỉnh Cà Mau
Đặc trưng kinh tế xã hội ở Cà Mau là việc khai thác tiềm năng kinh tế đất ngập
nước, nông, lâm, ngư, nghiệp và chế biến các sản phẩm đất ngập nước. Thực tế
diện tích nuôi thủy sản ngày càng được mở rộng, càng đa dạng và thực sự trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Việc quy hoạch chuyển đổi một số diện
tích trồng lúa nhiễm phèn mặn không có hiệu quả sang nuôi tôm kết hợp trồng lúa,
vì thế dịch vụ cung ứng tôm giống; công nghiệp chế biến thuỷ sản cũng có
tốc độ tăng nhanh
(http://www.most.gov.vn/a_gioithieu/c_so_khcn/mldocument.2006-07-
05.2716090641/view, đọc ngày 26/08/2006).

b. Sơ lược về huyện Ngọc Hiển
- Kinh tế xã hội
Hiện nay, trên địa bàn huyện Ngọc Hiển có 22.413 hộ, trong đó sống bằng nghề
sản xuất nông-lâm-ngư khoảng 15.235 hộ. Theo Trần Phú Cường (1999) mỗi hộ ở
rừng ngập mặn được giao đất khoán rừng bình quân là 4,69 ha. Việc giao đất rừng
cho dân sản xuất đã cải thiện đáng kể cuộc sống của nhân dân trong vùng, nh
ưng
điều này cũng gây không ít những tác hại đối với môi trường.


12
- Phân bố rừng ngập mặn
RNM Cà Mau được xem là nơi có sự đa dạng sinh học khá cao so với cả nước với
27 loài cây RNM chính thức. Hai loài mắm trắng (Avicenia alba) và đước
(Rhizophora apiculata) là 2 loài chiếm ưu thế hầu hết tại các khu rừng tự nhiên
mới lấn chiếm. Đối với rừng trồng, đước là loài được trồng thuần loài gần như duy
nhất trên nền rừng, với diện tích 35.222 ha chiếm 73,4% tổ
ng diện tích RNM của
huyện Ngọc Hiển, các loài khác được trồng nhưng không đáng kể.
- Vai trò rừng ngập mặn
Tác dụng của các dải RNM cửa sông, vùng ven biển Cà Mau đóng một vai trò
quan trọng trong bảo vệ và phát triển đất bồi tụ, hạn chế xói lở bờ, làm giảm tốc độ
gió, sóng và dòng triều vùng có đê ven biển và trong cửa sông. Khi RNM chưa bị
tàn phá nhiều thì quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và phạm vi hẹp. Do b
ởi
hầu hết RNM đã được chuyển sang đầm tôm quảng canh làm hạn chế sự phân bố
của nước triều ở ven biển, cửa sông. Do đó mực nước mặn theo dòng triều lên,
được gió mùa hỗ trợ đã lấn theo các dòng sông vào sâu trong đất liền với tốc độ
lớn. Tình trạng thiếu nước ngọt ảnh hưởng đến sản xuất và sử dụng trong sinh hoạt
(Phan Nguyên Hồng và Vũ Đ
oàn Thái, 2007). RNM là nơi sinh sản, nuôi dưỡng,
và cung cấp thức ăn cho nhiều loài tôm cá có giá trị thương phẩm cao (Lee, 1995;
Rasolofo, 1997; Slim et al., 1997; Athithan & Ramadhas, 2000). Vật rụng RNM
còn cung cấp chất hữu cơ và dinh dưỡng như chất đạm và lân cho vùng ven biển từ
đây hình thành chuỗi thức ăn từ những mảnh vỡ vụn của vật rụng, và chuỗi thức ăn
này là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho các loài thuỷ sản ven biển (Alongi, 1990;
Alongi et al., 1989; Bùi Thị Nga et al., 2006). RNM có kh
ả năng loại bỏ khá hiệu
quả các vật chất rắn và chất dinh dưỡng từ cống rãnh và từ quá trình nuôi thuỷ sản
(Paez-Osuna et al., 1998; Bùi Thị Nga et al., 2006).












13
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Đề tài tiến hành thu mẫu vào tháng 8 năm 2006 (mùa mưa) và tháng 3 năm 2007
(mùa nắng).
- Các mẫu trầm tích, đất và nước được thu tại sông rạch thuộc thành phố Cà Mau
bao gồm: kênh Phụng Hiệp, kênh Tắc Vân, sông Gành Hào, cửa Gành Hào và tại
vùng ven biển huyện Ngọc Hiển bao gồm: cửa Bảy Háp, bãi bồi không có rừng,
rừng mắm và rừng đước.


Kênh Phụng Hiệp
Kênh Tắc Vân
Cửa Bảy Háp
Cửa Gành Hào
Sôn
g Gành Hào
Bãi bồi
Rừng mắm
Huyện Ngọc Hiển
Rừn
g đước

Nguồn: bản đồ du lich sinh thái
Hình 3: Sơ đồ thu mẫu tại vùng nghiên cứu

Ghi chú:
Điểm thu mẫu






14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét