công chuyên môn hoá là hết sức chặt chẽ để phục vụ cho mục tiêu chung. Mối
quan hệ giữa những con người đều mang tính chính thức. Mỗi người, mỗi vị
trí, mỗi hành động đều được chuẩn hoá. Nếu một người nào đó, do sự cố
không tham dự vào Doanh nghiệp nữa, thì người đứng đầu Doanh nghiệp có
thể thay thế anh ta bằng bất kỳ ai đạt đủ các tiêu chuẩn tương đương, giống
như một người đi xe gắn máy thay chiếc xích bị rão bằng một chiếc xích khác
của bất cứ nước nào, do bất cứ doanh nghiệp nào sản xuất, miễn là xích đó có
cùng chủng loại và kích cỡ.
Doanh nghiệp là một cỗ máy, cho nên mục tiêu của Doanh nghiệp phải
cố định và hiệu quả của việc sản xuất phải rất cao. Kế hoạch đặt ra cho Doanh
nghiệp là chuẩn xác, việc kiểm tra thực hiện kế hoạch cũng thuận tiện rõ ràng.
Một người trong Doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả thì cả Doanh nghiệp
chịu ảnh hưởng theo, do đó đòi hỏi mọi người trong Doanh nghiệp phải làm
tốt nhiệm vụ mà mình đảm nhận.
Doanh nghiệp là một cỗ máy nên vị trí của các chi tiết không thể lắp
đặt tuỳ tiện. Việc của người nào trong tổ chức phải do người đó thực hiện
theo hướng chuyên môn hoá không thể xáo trộn bất thường.
- Ưu điểm của quan điểm xem Doanh nghiệp như một cỗ máy là sự chuyên
môn hoá cao độ trong tổ chức theo hướng từ tiêu chuẩn hoá đến hiện đại
hoá, nhờ đó Doanh nghiệp được vận hành đề đặn với hiệu quả cao. Mỗi
người trong Doanh nghiệp đều ý thức được vị trí của mình và của mọi
người khác. Mục tiêu, kế hoạch, công tác kiểm tra của từng Doanh nghiệp
được đặt ra rõ ràng. Việc thay thế con người trong tổ chức hết sức dễ dàng,
thuận tiện cho việc đưa được người giỏi vào tổ chức.
- Nhược điểm của quan điểm xem Doanh nghiệp như một cỗ máy là yếu tố
con người không được coi trọng, tính sáng tạo không được đề cao. Doanh
nghiệp được xây dựng và quản lý theo quan điểm cỗ máy khó thích nghi
được với biến động của môi trường. Doanh nghiệp được xem như một cỗ
máy, mỗi người là một chi tiết máy thì nhiệm vụ phải được phân công hết
sức rõ ràng, ít phức tạp, mà điều này ít khi xảy ra trong một thời gian dài
của Doanh nghiệp, một mắt xích có vấn đề là cả bộ máy ngừng hoạt động.
b. Sự can thiệp của giới tự nhiên-Doanh nghiệp được coi là một cơ thể
sống:
Doanh nghiệp là một hệ thống tồn tại trong một môi trường rộng lớn
hơn nhằm thực hiện những mục đích khác nhau. Là một hệ thống mở, Doanh
nghiệp được nhìn nhận như các quá trình liên tục hơn là một tập hợp các bộ
phận. Khi các quá trình cơ bản hoạt động lâu dài thì hệ thống sẽ tồn tại. Trong
quá trình hoạt động tổ chức phải đảm bảo được sự cân bằng bên trong và với
bên ngoài, phải không ngừng củng cố và phát triển mối liên hệ với các tổ
chức khác.
Doanh nghiệp là một cơ thể sống nên phải được đáp ứng những nhu
cầu để tồn tại và phát triển. Quan điểm này coi tồn tại là mục tiêu đầu tiên mà
bất kì doanh nghiệp nào cũng phải đạt được để thực hiện sứ mệnh của mình.
Nhu cầu của cơ thể được đáp ứng thì mỗi bộ phận của cơ thể cũng được đáp
ứng theo bằng những phương thức và liều lượng khác nhau. Như vậy, người
đứng đầu Doanh nghiệp phải chăm lo xử lý lợi ích, nhu cầu của Doan nghiệp
mình và họ có nhiệm vụ phân phối lại các lợi ích đã thu nhận được cho các cá
nhân trong tổ chức.
Doanh nghiệp là một cơ thể sống, có nghĩa là nó phải có môi trường
sống (có không gian và thời gian mà trong đó Doanh nghiệp tồn tại và phát
triển). Quan hệ đầu tiên phải đề cập tới giữa cơ thể sống với môi trường là
khả năng thích nghi. Nếu cơ thể không thích nghi được với các rủi ro và ngẫu
nhiên của môi trường thì nó sẽ bị tiêu diệt.
Đa dạng như giới sinh vật, Doan nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau,
được phân chia theo nhều tiêu chí khác nhau. Những người thành lập Doanh
nghiệp luôn có một dải rộng để lựa chọn hình thái tồn tại cho Doanh nghiệp
và hiệu quả của tổ chức phụ thuộc vào chất lượng của sự lựa chọn này.
- Ưu điểm của quan điểm xem doanh nghiệp như một cơ thể sống là sự quan
tâm của các nhà quản lý đến vấn đề con người. Với quan điểm này họ sẽ
cố gắng để đảm bảo tính thích nghi của tổ chức với môi trường, biết chấp
nhận những sự đe doạ và rủi ro đến từ môi trường, thận trọng khi lựa chọn
hình thái cơ cấu cho Doanh nghiệp, chăm lo đến công tác phát triển Doanh
nghiệp.
- Nhược diểm: Quan điểm xem Doanh nghiệp như một cơ thể sống có thể
dẫn chúng ta đến mong muốn nhìn nhận các Doanh nghiệp và môi trường
của nó một cách quá cụ thể mà điều này thì khó mà làm được. Đặc biệt,
cách tiếp cận sự tiến hoá của các Doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc chọn
lọc tự nhiên (môi trường chọn lọc các Doanh nghiệp được sống sót) đã bỏ
qua khả năng của các tổ chức và các thành viên của nó góp phần xây dựng
tương lai của chính họ và có thể có những tác động tích cực tới môi
trường.
c. Hướng tới khả năng tự tổ chức-Doanh nghiệp được xem như một bộ
não:
Cách tiếp cận Doanh nghiệp theo quan điểm này đã xuất hiện trong
những năm 1940 và 1950, buổi ban đầu của kỷ nguyên thông tin với những
người đi tiên phong như Herbert Simon và Norbert Wiener, Fred Emery
(Australia), William Ouchi (Nhật).
Quan điểm coi Doanh nghiệp là một bộ não cho rằng:
Doanh nghiệp là một hệ xử lý thông tin và ra quyết định. Các quyết
định của Doanh nghiệp không bao giờ là hoàn toàn hợp lý (có tính hợp lý hạn
chế) bởi các thành viên của tổ chức chỉ có năng lực hạn chế trong xử lý thông
tin.
Chính hệ thống thông tin cấu thành Doanh nghiệp. Các bộ phận, phần
tử của Doanh nghiệp có thể tồn tại tương đối độc lập nhưng tổ chức vẫn đảm
bảo mọi tính chất thích hợp nếu xây dựng được hệ thống truyền thông tốt.
Điều này tạo khả năng cho Doanh nghiệp tồn tại không cần địa điểm rõ ràng,
các thành viên của nó có thể liên hệ với nhau qua máy vi tính và các thiết bị
nghe nhìn, còn người máy được điều khiển từ xa để làm các công việc cơ bắp.
Những Doanh nghiệp như vậy đã và đang phát triển trong thực tế.
Với quá trình trao đổi thông tin liên hệ ngược, Doanh nghiệp có khả
năng tự điều chỉnh, duy trì khả năng thích nghi và trạng thái ổn dịnh.
- Ưu điểm: Suốt trong nhiều thập niên trôi qua kể từ khi Simon đưa ra khái
niệm về quá trình thông tin và ra quyết định trong Doanh nghiệp nhiều nhà
nghiên cứu đã đóng góp công sức để nâng cao khả năng quản lý Doanh
nghiệp trước tính phức tạp và bất định của môi trường. Quan điểm này là
cơ sở để hình thành các nghành khoa học mới như điều khiển học và lý
thuyết thông tin, giúp chúng ta hiểu được các hình thức học tập nổi bật
trong Doanh nghiệp (hỏi đáp và tự phê) và khả năng tự tổ chức của chúng.
Đồng thời mở ra khả năng sử dụng tin học để hình thành các dạng Doanh
nghiệp mới.
- Nhược điểm: Với quan điểm này các Doanh nghiệp phải bằng lòng với các
quyết định “thoả đáng” dựa trên các phương pháp có tính kinh nghiệm
giản đơn và trên một lượng thông tin hạn chế. Có nguy cơ không chú ý
đến những xung khắc nghiêm trọng giữa đòi hỏi học tập và tự tổ chức với
các thực tế của quyền hành và kiểm tra. Tự tổ chức đòi hỏi sự thay đổi thái
độ: ưu tiên tính chủ động chứ không phải thụ động, độc lập chứ không phụ
thuộc, linh hoạt chứ không cứng nhắc, hợp tác hơn là cạnh tranh, cởi mở
trí tuệ hơn là trói buộc, đàm đạo dân chủ hơn là đức tin độc đoán. Đối với
nhiều Doanh nghiệp , điều đó đòi hỏi “sự thay đổi tính cách” với những
khoảng thời gian đáng kể chứ không thể làm ngay như thiết kế và xây
dựng hệ thống thông tin cho những hệ thống cơ học.
d. Tạo dựng hiện thực xã hội- Doanh nghiệp được nhìn nhận như một nền
văn hoá:
Quan điểm coi Doanh nghiệp là một nền văn hoá phát triển từ những
năm 1970, từ khi nước Nhật vươn lên hàng cường quốc kinh tế lớn. Mặc dù
các nhà lý luận còn chưa nhất trí về nguyên nhân của sự đổi thay của nước
Nhật, song phần lớn đều cho rằng nền văn hoá, đặc biệt là lối sống đã giữ vai
trò hàng đầu. Những đổi thay trong cán cân quyền lực thế giới và xu thế quốc
tế hoá đã làm nổi bật sự cần thiết phải tìm hiểu các mối liên hệ giữa văn hoá,
đời sống văn hoá và đời sống Doanh nghiệp. Những yếu tố cơ bản của quan
điểm này là:
Doanh nghiệp bản thân nó là một hiện tượng văn hoá với hệ thống nhận
thức, những giá trị, những chuẩn mực, những lễ nghi hàng ngày, những điều
cấm kị của mình. Văn hoá là “xi măng chuẩn” gắn kết các bộ phận và con
người của Doanh nghiệp thành một khối thống nhất, làm tăng cường khả năng
phối hợp để đạt mục đích chung.
Văn hoá Doanh nghiệp là kết quả của sự kế thừa các giá trị trong quá
khứ, là sự sáng tạo trong hiện tại và trong tương lai. Điều này khẳng định vai
trò của truyền thống, sự sáng tạo của con người trong hiện tại và vai trò của
quản lý chiến lược để đạt đến giai đoạn phát triển cao trong môi trường luôn
biến động.
Văn hoá có những điểm khác nhau giữa các xã hội, các Doanh nghiệp,
tạo nên bản sắc cho mỗi nền văn hoá. Lĩnh hội những ưu điểm của các nền
văn hoá khác trong điều kiện phát huy bản sắc văn hoá của mình là con đường
dẫn đến sự tiến bộ của các tổ chức.
- Ưu điểm của quan điểm xem Doanh nghiệp như một nền văn hoá chính là
ở chỗ nó lấy văn hóa là nền tảng tinh thần của Doanh nghiệp. Giống như lề
thói của xã hội, văn hoá dễ được mọi người chấp nhận tự giác mà không
cần phải tốn công rèn luyện. Nhờ có quan điểm này, Doanh nghiệp hình
thành được các quy tắc xử sự theo khía cạnh hợp lý nhất cho đời sống của
nó. Sức sống của một Doanh nghiệp được dựa trên một nền văn hoá bất
diệt, nó có khả năng đối phó với các đối thủ cạnh tranh và dễ dàng chỉnh lý
các sai phạm trong Doanh nghiệp.
- Nhược điểm của cách tiếp cận Doanh nghiệp như một nền văn hoá là có
thể đưa một số nhà quản lý tới quan niệm cho rằng mình là người cha tinh
thần của Doanh nghiệp, có vai trò xây dựng nên các giá trị mới, chuẩn
mực mới cho Doanh nghiệp. Quan điểm này cũng có thể dẫn đến tính mù
quáng ý thức hệ trong Doanh nghiệp. Nhiều nhà lý luận quản lý coi văn
hoá như một chỉnh thể tách biệt, có những đặc trưng khá xác định, có thể
sử dụng như một công cụ. Trong khi đó văn hoá mang tính chất toàn cảnh
khó mà bóc tách thành các bộ phận và những nhà lãnh đạo Doanh nghiệp
có thể ảnh hưởng đến diễn biến của văn hoá chứ không thể khống chế
được văn hoá.
e. Lợi ích, xung đột và quyền lực - Doanh nghiệp được coi như một hệ thống
chính trị:
Quan điểm coi Doanh nghiệp là một hệ thống chính trị đã xuất hiện từ
thời Aristote (384-322TCN). Theo cách tiếp cận này thì:
Doanh nghiệp là một tập hợp những con người có chung lợi ích. Tuy
thống nhất với nhau ở những lợi ích cơ bản, Doanh nghiệp có thể sẽ đem lại
lợi ích cho một số người này nhiều hơn người khác. Mâu thuẫn về lợi ích làm
xuất hiện trong Doanh nghiệp những xung đột.
Để bảo vệ lợi ích và giành lấy phần lợi ích lớn hơn, con người ta phải
có quyền lực. Những căng thẳng giữa lợi ích riêng và lợi ích của Doanh
nghiệp đã hướng đạo con người, dẫn dắt họ hành động một cách khôn khéo.
Con người trước hết muốn quyền lực và trò chơi quyền lực là một trong
những yếu tố cơ bản nhất của con người.
Các mối quan hệ về lợi ích và quyền lực tác động lên cấu trúc và trật tự
của Doanh nghiệp, có tác dụng cấu trúc lại các quan hệ trong Doanh nghiệp,
giữa các Doanh nghiệp và xã hội.
- Ưu điểm: Những tư tưởng trên đã giúp chúng ta chấp nhận thực tế rằng
chính trị là một yếu tố tất yếu trong đời sống Doanh nghiệp, thừa nhận vai
trò của nó trong việc tạo dựng trật tự xã hội. Nó cởi bỏ huyền thoại về tính
hợp lý và tính thống nhất của các Doanh nghiệp, khẳng định vai trò của
các nhà quản lý trong quá trình giải quyết xung đột. Quan điểm này cũng
cho ta thấy vai trò chủ động của chính trị trong mối quan hệ đối với kinh
tế.
- Nhược điểm: Trước hết, sự phân tích lợi ích, xung đột và quyền lực có
nguy cơ dẫn con người tới những cách lý giải xảo quyệt, cho rằng từng
người có thể tìm cách để thông minh hơn, khéo léo hơn người khác. Đáng
lẽ quan điểm chính trị phải trang bị cho chúng ta những tư tưởng mới, cách
hiểu mới để phối hợp các lợi ích khác nhau thì chúng ta lại có thể quy nó
thành một công cụ để phục vụ lợi ích riêng của mình. Đồng thời những
người theo quan điểm này có thể đi đến chỗ quá nhấn mạnh quyền lực và
vai trò cá nhân mà xem thường tính năng động của cả Doanh nghiệp như
một chỉnh thể thống nhất.
f. Trình bày logic của sự thay đổi- Doanh nghiệp được nhìn nhận như một
dòng chảy và như sự biến hoá:
Vào những năm 500 trước công nguyên, nhà triết học Hy Lạp,
Heraclite, nhận xét rằng “Không thể nhúng chân hai lần xuống cùng một dòng
sông vì dòng nước không bao giờ ngừng chảy”. Quan điểm coi Doanh nghiệp
như một dòng chảy và sự tiến hoá được đặc trưng bởi một số nội dung:
Doanh nghiệp là một tổng thể thống nhất không thể chia cắt và không
thể ổn định.
Doanh nghiệp mang tính tự lập, môt hệ đóng, tính tuần hoàn , không có
bắt đầu mà cũng không có kết thúc và tính tự quy chiếu, coi mình là tâm
điểm. Điều đó cho phép nó tự hình thành và tự đổi mới
Môi trường của Doanh nghiệp thực ra là một phần của Doanh nghiệp.
- Ưu điểm: Quan điểm trên đã làm sáng tỏ quá trình phát sinh, phát triển, ổn
định và thoái hoá liên tục của doanh nghiệp để từ đó tìm ra phương thức
hoạt động phù hợp với từng giai đoạn trong tiến trình phát triển của mình.
- Nhược điểm:
+ Việc coi Doanh nghiệp là một hệ thống đóng mang tính tự quy chiếu có thể
sẽ không cho phép các nhà quản lý thấy được vai trò quan trọng của môi
trường đối với sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp.
+ Vì coi Doanh nghiệp luôn biến chuyển như các dòng chảy hết thịnh lại suy,
hết suy lại thịnh; con người dễ nảy sinh tư tưởng hoài nghi sự vững bền tương
đối của các Doanh nghiệp mà mình đang sống và hoạt động trong đó.
Ngoài những quan điểm trên, còn tồn tại nhiều quan điểm khác nữa về
Doanh nghiệp. Những quan điểm khác nhau về Doanh nghiệp xuất phát từ
việc nghiên cứu Doanh nghiệp từ những góc độ khác nhau. Nếu chỉ đứng về
phía bất cứ một quan điểm nào, ta cũng chỉ có được cách nhìn phiến diện về
Doanh nghiệp. Để quản lý Doanh nghiệp, các nhà quản lý phải nghiên cứu
Doanh nghiệp từ nhiều góc độ và có được quan điểm toàn thể về Doanh
nghiệp.
2. Khái niệm Văn hoá và vai trò của Văn hoá.
2.1. Khái niệm Văn hoá:
Tại phương Tây, văn hoá-culture (trong tiếng Anh, Pháp) hay kultur (tiếng
Đức)… đều xuất xứ từ chữ Latinh cultus có nghĩa là khai hoang, trồng trọt,
trông nom cây lương thực; nói ngắn gọn là sự vun trồng. Sau đó từ cultus
được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục,
đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người.
Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hoá bao hàm ý nghĩa: văn
là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được
bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm
quyền. Còn chữ hoá trong văn hoá là việc đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái
đúng) để cảm hoá, giáo dục và hiện thực hoá trong thực tiễn đời sống. Vậy
văn hoá chính là nhân hoá hay nhân văn hoá. Đường lối văn trị hay đức trị
của Khổng Tử là từ quan điểm cơ bản này về văn hóa (văn hóa là văn trị giáo
hoá, là giáo dục, cảm hoá bằng điển chương, lễ nhạc, không dùng hình phạt
tàn bạo và sự cưỡng bức).
Như vậy, văn hoá trong từ nguyên của cả Phương Đông và Phương Tây
đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con
người (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là
làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Theo phạm vi nghiên cứu rộng nhất, văn hoá là tổng thể nói chung
những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình
lịch sử.
Loài người là một bộ phận của tự nhiên nhưng khác với các sinh vật
khác, loài người có một khoảng trời riêng, một thiên nhiên thứ hai do loài
người tạo ra bằng lao động và tri thức - đó chính là văn hoá.
2.2. Vai trò của Văn hoá đối với sự phát triển của xã hội:
a. Văn hoá là mục tiêu của sự phát triển xã hội:
Có quan điểm cho rằng: Sự phát triển của các quốc gia chính là sự tăng
trưởng cao về mặt kinh tế. Quan điểm này có nguồn gốc từ lí luận “quyết định
luật kinh tế” cho rằng kinh tế quy định, quyết định mọi mặt của đời sống xã
hội và vì vậy, phát triển kinh tế bằng mọi hình thức và với bất kì giá nào là
mục đích tối cao của các quốc gia.
Nhưng thực tế cũng cho thấy rằng việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế bằng mọi giá có những thành tựu là nhu cầu vật chất của dân cư được
đáp ứng, các thành tựu về khoa học công nghệ đã giúp con người thám hiểm
được vũ trụ, đại dương…, nhưng kèm theo đó là biết bao hậu quả nghiêm
trọng đe doạ cuộc sống con người như ô nhiễm môi trường, thiên tai, bệnh
tật…
Để lập lại sự cân bằng giữa tự nhiên và con người, giữa tăng trưởng
kinh tế với ổn định và phát triển hài hoà trình độ phát triển của các quốc gia
không chỉ căn cứ vào sự tăng trưởng hay phát triển kinh tế của nó, mà thước
đo sự phát triển quốc gia căn cứ vào mức độ phát triển con người (HDI-
Human development index). Đó là một hệ thống gồm ba chỉ tiêu cơ bản: (1)
mức độ phát triển kinh tế đo bằng mức sống bình quân của người dân (GDP/
người); (2) Tiến bộ về y tế đo bằng tuổi thọ trung bình của người dân; (3)
trình độ hay tiến bộ về giáo dục căn cứ vào tỷ lệ người biết chữ và số năm đi
học trung bình của người dân.
Như vậy, mục đích hay mục tiêu cao cả nhất của các quốc gia phải là
sự phát triển con người toàn diện, là việc nâng cao chất lượng sống cho nhân
dân chứ không phải là mục tiêu phát triển kinh tế hay phát triển một số bộ
phận, một số mặt nào đó của đời sống xã hội. Và văn hoá theo nghĩa rộng
nhất, nghĩa được sử dụng phổ biến, với tư cách là phương thức sống và sự
phát triển con người toàn diện, chính là mục tiêu tối thượng cho sự phát triển
của các quốc gia.
Đó cũng là những quan điểm của Liên Hiệp Quốc trong hơn hai thập kỷ
qua. Cựu tổng thư ký LHQ (J. Cuellar-1996) đã khẳng định: “Dù văn hoá là
yếu tố quan trọng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển, nó không thể bị hạ
thấp thành một nhân tố tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế.
Trái lại văn hoá là mục đích cuối cùng của sự phát triển đầy đủ, nghĩa là văn
hoá được coi là mục đích phát triển con người một cách toàn diện”. Trong dịp
phát động Thập kỷ Quốc tế phát triển văn hoá của Liên Hiệp Quốc
(1988-1997), ông Tổng Giám đốc UNESCO đã tuyên bố: “…Tóm lại, động
cơ và mục đích của sự phát triển phải được tìm trong văn hoá. Từng Doanh
nghiệp, các địa phương, mọi người, các nhà chức trách phải kịp thời nắm lấy
bài học này”.
b. Văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội:
Động lực của sự phát triển là cái thúc đẩy sự phát triển khi bản thân sự phát
triển đó đã có, đã nảy sinh. Muốn biết những động lực của sự phát triển xã hội
cần phải tìm ra những yếu tố gây nên, kích thích, thúc đẩy sự hoạt động của
con người và trước hết là của khối đông người.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét