năm 1985, nợ nước ngoài đã lên tới 8,5 tỉ Rúp và 1,9 tỉ USD. Tuy nguồn thu về
từ nước ngoài lớn như vậy nhưng ngân sách vẫn trong tình trạng thâm hụt và
phải bùđắp bằng phát hành bội chi ngân sách năm 1980 là 18,1% và năm 1985
là 36,6%. Giá trị xuất khẩu hàng năm có tăng lên nhưng vẫn còn thấp so với giá
trị nhập khẩu. Tỉ lệ xuất khẩu thường chỉ bằng 20%-40%, nhập khẩu năm 1976
bằng 21,7%, 1977 bằng 26,5%, 1978 bằng 25,1%, 1979 bằng 21,0%, 1980 bằng
25,8%, 1981 bằng 29,0%, 1982 bằng 35,8%, 1983 bằng 40,4%, 1984 bằng
32,2%, 1985 bằng 37,5%. Hầu hết các loại hàng hoá thiết yếu phục vụ cho sản
xuất vàđời sống đều phải nhập khẩu toàn bộ hay một phần do sản xuất trong
nước không đảm bảo được tiêu dùng. Ngoài sắt, thép, máy móc, xăng dầu, thiết
bị còn nhập cả những loại hàng hoá lẽ ra sản xuất trong nước đáp ứng được nhu
cầu như gạo, vải mặc. Trong những năm 1976-1980 đã phải nhập 60 triệu mét
vải các loại và 1,5 triệu tấn lương thực quy gạo. Sau 10 năm đất nước thống nhất
việc xây dựng và phát triển kinh tế trong bối cảnh hòa bình mà cái gì cũng thiếu
nên cái gì cũng quý.
1.1.3. Siêu lạm phát hoành hành và giá cả tăng cấp số nhân.
Cơn sốt lạm phát không biết đã ra đời trong nền kinh tế từ bao giờ song
ngay từ năm1976 nóđã từng tồn tại và cứ lớn dần lên ngoài ý muốn của con
người. Năm 1985 cuộc cải cách giá-lương-tiền theo giải pháp sốc đã thất bại làm
cho cơn sốt lạm phát vụt lớn nhanh, hoành hành trên mọi lĩnh vực của đời sống
kinh tế-xã hội. Giá cả leo thang từng ngày đã vô hiệu hoá tác dụng đổi tiền chỉ
mới tiến hành vài tháng trước đó, làm rối loạn điều hành kinh tế vĩ mô. Giá cả
không chỉ tăng ở thị trường tự do mà còn tăng rất nhanh trong thị trường có tổ
chức. Về cơ bản, giá cảđã tuột khỏi tầm tay bao cấp của nhà nước. Siêu lạm phát
đạt đỉnh cao trong năm 1986, với tốc độ tăng giá cả năm lên tới 774,4%.
1.2. Sự cần thiết khách quan cần thiết phát triển kinh tế thị trường
ở Việt Nam.
Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế- xã hội, trong đó sản phẩm
sản xuất ra để trao đổi để bán ra thị trường. Mục đích của sản xuất trong kinh
5
tếhàng hoá không phải để thoả mãn nhu cầu trực tiêp của người sản xuất mà
nhằm để bán, tức làđể thoả mãn nhu cầu của người mua, đáp ứng nhu cầu của xã
hội.
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Trong
đó, toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị
trường. KTHH và KTTT không đồng nhất với nhau, chúng khác nhau về trình
độ phát triển và về cơ bản chúng có cùng nguồn gốc và cùng bản chất.
1.2.1. Cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển KTTT ở Việt Nam.
Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuất hàng
hoá chẳng những không mất đi mà trái lại còn được phát triển cả về chiều rộng
lẫn chiều sâu. Phân công lao động trong từng khu vực, từng địa phương cũng
ngày càng phát triển. Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở tính
phong phú, đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi
trên thị trường. Trong nền kinh tế nước ta, tồn tại nhiều hình thức sở hữu đó là:
sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp. Do đó tồn tại
nhiều chủ thể kinh tếđộc lập, lợi ích riêng, nên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể
thực hiện bằng quan hệ hàng hoá tiền tệ. Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế
tập thể tuy cùng dựa trên chếđộ công hữu về tư liệu sản xuất, nhưng các đơn vị
kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh
doanh, có lợi ích riêng. Mặt khác, các đơn vị kinh tế còn có sự khác nhau về
trình độ kĩ thuât-công nghệ, về trình độ tổ chức quản lý, nên chi phí sản xuất chi
phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau.
Quan hệ hàng hoá- tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tếđối ngoại,
đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tếđang phát triển ngày càng
sâu sắc, vì mỗi nước là một quốc gia riêng biệt đối với các hàng hoáđưa ra trao
đổi trên thị trường, thế giới. Sự trao đổi ởđây phải theo nguyên tắc ngang giá.
Như vậy, khi kinh tế thị trường ở nước ta là một tồn tại tất yếu khách quan, thì
không thể lấy ý chí chủ quan mà xoá bỏ nóđược.
6
1.3.Thế nào là kinh tế thị trường định hướng XHCN và tác dụng to
lớn của nền KTTT.
1.3.1. Thế nào là KTTT định hướng XHCN.
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khac nhau. Mỗi mô
hình đó là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều kiện lịch
sử cụ thể. Nghiên cứu một cách nghiêm túc các mô hình kinh tếđó, cùng với thời
gian và kinh nghiệm thực tế, chúng ta đã rút ra cho mình một cách nhìn đúng
đắn hơn và một sự lựa chọn thực tế hơn. Đó là, chúng ta đã kịp thời chuyển sang
nền KTTT định hướng XHCN.
Trước tiên cần tìm khái niệm KTTT. Kinh tế thị trường được hiểu là một
kiểu kinh tế-xã hộ mà trong đó sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn chặt với thị
trường, tức là gắn chặt với quan hệ hàng hoá-tiền tệ, với quan hệ cung-cầu.
Trong nền KTTT nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xã hôi là quan
hệ hàng hoá. Mọi hoạt động xã hội đều phải tính đến quan hệ hàng hoá hay ít
nhất cũng phải sử dụng nó như là một khâu trung gian.
Nền KTTT từ khi mới ra đời cho đến nay đã trải qua các giai đoạn phát
triển khác nhau, mỗi giai đoạn đều cóđặc điểm riêng. Trong các gia đoạn đóđã
từng có các nền KTTT theo định hướng này hay theo định hướng khác. Đến
năm 1986 khi nước ta đổi mới nền kinh tế chúng ta đã xác định được một định
hướng đúng đắn cho nền KTTT đó làđịnh hướng XHCN.
KTTT định hướng XHCN theo quan điểm của Đảng ta là nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước theo định hướng XHCN. Về bản chất khác với nền KTTT Tư bản chủ
nghĩa, nền KTTT định hướng XHCN là một nền kinh tế vì nhân dân phục vụ
nhân dân, lấy đời sống nhân dân, công bằng xã hội là mục tiêu để tăng trưởng
kinh tế.
1.3.2. Tác dụng to lớn của sự phát triển KTTT.
7
Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kì quáđộ lên CNXH còn mang tính
tự cung tự cấp, vì vậy sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá vỡ dần kinh tế tự
nhiên và chuyển thành kinh tế hàng hoá, thúc đẩy sự xã hội hoá sản xuất.
Kinh tế hàng tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Do
cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá buộc mọi chủ thể sản xuất phải
cải tiến kĩ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để giảm chi phí sản xuất
đến mức tối thiểu, nhờđó có thể cạnh tranh được về giá cả, đứng vững trên thị
truờng. Quá trình đó giúp thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng
suất lao động xã hội.
Trong nền KTHH, người sản xuất phải căn cứ cào nhu cầu của người tiêu
dùng, của thị trường quyết định sản xuất sản phẩm gì, với khối lượng bao nhiêu,
chất lượng như thế nào. Do đo KTHH kích thích tính năng động sáng tạo của
chủ thể kinh tế, kích thích việc nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, cũng như
tăng khối lượng hàng hoá và dịch vụ.
Phân công lao động xã hội làđiều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng
hoa, đến lượt nó sự phát triển KTHH sẽ thúc đẩy sự phân công lao động xã hội
và chuyên môn hoá sản xuất. Vì thế phát huy được tiềm năng lợi thế của từng
vùng, cũng như lợi thế của đất nước có tác dụng mở rộng quan hệ kinh tế với
nước ngoài.
Sự phát triển của KTTT sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất,
do đó tạo điều kiện ra đời của sản xuất lớn, có tính xã hội hoá cao, đồng thời
chọn lọc được những người sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ cán bộ
quản lý có trình độ lao động lành nghềđáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.
Như vậy, phát triển KTTT là một tất yếu kinh tếđối với nước ta, một nhiệm vụ
kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu của nước ta thành nền kinh tế
hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con đường đúng
đắn để phát triển lực lượng sản xuât, khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất
nước vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
8
Thực tế những năm đổi mới đă chứng minh rằng, việc chuyển sang nền
KTTT nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ phát triển nền KTHH nhiều
thành phần, chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước và thu
hút được vốn, kĩ thuật, công nghệ của nước ngoài, giải phóng được năng lực sản
xuất, góp phần quyết định vào việc bảo đảm tăng trưởng kinh tế với nhip độ
tương đối cao trong thời gian qua.
Trình độ phát triển của KTTT có liên quan mật thiết với các giai đoạn phát
triển của lực lượng sản xuất. Vềđại thể KTHH phát triển qua 3 giai đoạn tương
ứng với 3 giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất: Sản xuất hàng hoá giản
đơn, KTTT tự do, KTTT hiện đại. Nước ta đang thực hiện chuyển đổi nền kinh
tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang KTHH. Mô hình kinh tế
Việt Nam được xác định là nền KTHH nhiều thành phần vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng XHCN.
2. Tính đặc thù của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
Phát triển KTHH, KTTT có vai trò rất quan trọng đối với nước ta muốn
chuyển từ nền kinh tế còn kém phát triển lên sản xuất lớn XHCN thì không còn
con đường nào khác là phát triển KTTT. KTTT khắc phục được kinh tế tự nhiên,
tự cung tự cấp, đẩy mạnh phân công lao động xã hội, phát triển ngành nghề, tạo
việc làm cho người lao động, khuyến khích ứng dụng công nghệ kỹ thuật mới
nhằm tăng năng suất lao động, tăng số lượng, chủng loại chất lượng hàng hoá,
dịch vụ, thúc đẩy tích tụ, tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế giữa các
địa phương, các vùng lãnh thổ Vì vậy phát triển KTTT được coi là chiếc đòn
kéo để xây dựng CNXH, là phương tiện khách quan để xã hội hoá XHCN nền
sản xuất. Nền KTTT ở nước này không thể là bản sao của nước khác. Trong các
tiêu thức để phân biệt nền KTTT này đối với nền KTTT khác phải kểđến định
hướng chính trị, kinh tế, xã hội chi phối sự vận động và phát triển của nền
KTTT.
Ở nước ta những định hướng XHCN của xã hội là:
9
Thứ nhất, phát triển nền KTTT với sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế, với sựđa dạng của các hình thức sở hữu và các hình thức tổ chức sản xuất
kinh doanh, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủđạo.
Thứ hai, phát triển nền KTTT định hướng XHCN có sự quản lý của nhà
nước đảm bảo thống nhất giữa sự phát triển, tăng trưởng kinh tế với công bằng
xã hội.
Thứ ba, xây dựng nền KTTT hội nhập vào nền KTTT khu vực và thế giới
với nhiều hình thức quan hệ và liên kêt phong phú, đa dạng.
Với định hướng trên, mục thiêu phát triển nền KTTT định hướng XHCN
được xác định là: tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kiinht tế.
Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, tăng thêm các nguồn lực mới
bằng cách nâng cao tỷ lệ tiết kiệm, tăng tích luỹ vàđầu tư hiện đại hoá, đổi mới
cơ cấu kinh tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đểđưa nước ta thoát khỏi
tình trạng một nước nghèo và kém phát triển.
Theo mục tiêu đó, có thể xác định những đặc trưng, bản chất của nền
KTTT định hướng XHCN ở nước ta:
Một là KTTT định hướng XHCN là một kiểu tổ chức nền kinh tế trong
quá trình đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế còn kém phát
triển, kiểu tổ chức nền kinh tế này nhằm nhanh chóng đưa nước ta đạt đến mục
tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
Hai lànền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một nền kinh tế gồm
nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác phải trở thành
nền tảng và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo. Các thành phần kinh tếđều vận
động theo định hướng chung và theo khuôn khổ pháp luật của nhà nước XHCN.
Ba là kinh tế thị trường định hướng XHCN mang bản chất của CNXH.
Bốn là KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế “mở” cả với bên
trong và với bên ngoài. Tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế XH, hoạt động của
cơ chế thị trường không chỉ chịu sự tác động của các quy luật kinh tế hàng hoá
mà còn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tếđặc thù của các PTSX chủđạo.
10
Do vậy mô hình cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước trong nền kinh
tếTBCN và trong nền kinh tếđịnh hướng XHCN có những điểm khác nhau cơ
bản.
2.1. Đặc tính chung thống nhất của KTTT.
KTHH là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế tồn tại và phát triển trong nhiều
hình thái kinh tế xã hội. KTHH là loại hình kinh tế tiến bộ, là nấc thang cao hơn
kinh tế tự nhiên tự cấp, tự túc, trong sự phát triển của xã hội loài người. KTTT là
trình độ phát triển cao hơn của KTHH, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và
“đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường.
Ngày nay, không ai phủ nhận vị trí, vai tròđặc biệt quan trọng của KTTT
trong quá trình phát triển nền sản xuất xã hội, phát triển lực sản xuất xã hội.
Trong xã hội, nếu có sản xuất và lưu thông hàng hoá thì tất yếu có thị trường.
Quy mô của lưu thông hàng hoá và sức mua của xã hội quyết định dung lượng
thị trường. Đến lượt mình, sử dụng, mở rộng và lành mạnh hoá thị trường lại có
tác dụng thúc đẩy lưu thông hàng hoá phát triển nhanh chóng về số lượng và
chất lượng. Thị trường gắn với lĩnh vực lưu thông hàng hoá, thị trường hình
thành ởđâu có cung- cầu hàng hoá, nói đến thị trường là nói đến giá cả, tiền tệ,
người bán, người mua. Thị trường là tổng hoà những mối quan hệ mua- bán
trong xã hội, được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử kinh
tế- xã hội nhất định. Cơ sở của thị trường là sự phân công lao động xã hội. Trình
độ và quy mô thị trường gắn liền với trình độ phát triển của phân công lao động
xã hội, sản xuất và thu mua của xã hội.
Nền KTTT có cả mặt tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực, đó là cơ chế
tựđiều tiết nền kinh tế rất linh hoạt, mềm dẻo, uyển chuyển; nó có tác dụng kích
thích mạnh và nhanh sự quan tâm thường xuyên đến đổi mới kỹ thuật, công
nghệ quản lý, đến nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng; nó có tác dụng lớn trong
tuyển chọn các doanh nghiệp và cá nhân quản lý kinh tế giỏi. Trên cơ sởđó,
KTTT kích thích sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển Về mặt tiêu cực,
trên thị trường chứa đựng tính tự phát, chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, mất cân
11
đối. Vì chạy theo lợi nhuận, các nhà sản xuất, kinh doanh có thể gây nhiều hậu
quả xấu: môi trường bị huỷ hoại, tình hình cạnh tranh không lành mạnh, phá
sản, thất nghiệp, phân hoá xã hội cao, lợi ích công cộng bị coi nhẹ, các vấn đề
công bằng xã hội không được đảm bảo, tệ nạn xã hội tăng, thậm chí có người
làm ăn bất hợp pháp Để hạn chế những khuyết tật đóđòi hỏi nhà nước quản lý
nền KTTT. Nhà nước quản lý nền KTTT bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch
định hướng, bằng các công cụ, chính sách, biện pháp kinh tế
2.2. Hình thành đồng bộ thể chế KTTT định hướng XHCN.
2.2.1. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu.
Đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế
chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật
mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh mọi thành phần kinh tế với các hình
thức sở hữu khác nhau. Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác
nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều đước khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác,
cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền KTTT định
hướng XHCN. Phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa, từng bước hình
thành một số tập đoàn kinh tế mạnh.
Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thực hiện tôt vai trò
chủđạo trong nền kinh tế. Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và
là công cụđể nhà nước định hướng vàđiều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tập trung đầu
tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, và là một cơ sở công nghiệp quan trọng.
Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt trong nền kinh tế, đi đầu ứng
dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng và
hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật. Phát triển doanh nghiệp nhà
nước trong những ngành sản xuất và ngành dịch vụ quan trọng, xây dựng các
tổng công ty nhà nước đủ mạnh để làm nòng cốt trong những tập đoàn kinh tế
lớn có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế như dầu khí,
điện, than, đường sắt, hàng không, vận tải viễn dương, viễn thông, cơ khí Đổi
mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của
12
doanh nghiệp. Chuyển các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh sang hoạt động
theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Bảo đảm quyền
tự chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủ trong sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp, xoá bỏ bao cấp của nhà nước đối với doanh nghiệp. Thực hiện chủ
trương cổ phần hoá những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100%
vốn, để huy động thêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động thúc đẩy
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, ưu tiên cho người lao động được mua cổ phần.
Thực hiện việc giao bán, khoán cho thuê các doanh nghiệp loại nhỏ mà nhà
nước không cần lắm giữ Phấn đấu trong khoảng 5 năm cơ bản hoàn thành việc
sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh doanh các doanh nghiệp nhà nước,
củng cố và hiện đại hoá một bước các tổng công ty nhà nước.
Phát triển kinh tế tập thể với hình thức hợp tác đa dạng, chuyển hợp tác xã
cũ theo luật hợp tác xãđạt hiệu quả thiết thực, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản
xuất, kinh doanh phù hợp với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong
nông nghiệp trên cơ sở phát huy tính tự chủ của hộ gia đình, chú trọng phát triển
các hình thức hợp tác và hợp tác xã cung cấp dịch vụ, vật tư và tiêu thụ sản
phẩm cho kinh tế hộ gia đình, trang trại. Mở rộng các hình thức kinh tế hỗn hợp,
liên kết, liên doanh hợp tác xã với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế. Nhà nước giúp đỡ hợp tác xãđào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và quản lý,
mở rộng thị trường, ứng dụng công nghệ mới, phát triển vốn tập thể, giải quyết
nợ tồn đọng của hợp tác xã cũ. Kinh tế cá thể và tiểu chủở nông thôn và thành
thịđược nhà nước tạo điều kiện để phát triển. Kinh tế tư bản tư nhân được
khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong từng ngành, nghề, lĩnh
vực vàđịa bàn mà pháp luật không cấm. KTTB nhà nước dưới hình thức liên
doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước
ngày càng phát triển bài bản. Kinh tế vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận của
nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển hướng mạnh vào sản xuất,
kinh doanh hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu, hàng hóa và dịch vụ công nghệ cao,
xây dựng kết cấu hạ tầng.
13
2.2.2. Tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, đổi mới và nâng cao hiệu lực
quản lý của nhà nước.
Hình thành đồng bộ và tiếp tục phát triển, hoàn thiện các loại thị trường đi
đôi với xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể chếđể thị trường hoạt động năng
động, có hiệu quả, có trật tự kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh,
công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát được quyền kinh doanh, có giải
pháp hữu hiệu chống buôn lậu và gian lận thương mại. Phát triển thị trường vốn
và tiền tệ, nhất là thị trường vốn trung hạn và dài han. Tổ chức và vận hành an
toàn, hiệu quả thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm, từng bước mở rộng
quy mô và phạm vi hoạt động, kể cả việc thu hút vốn nước ngoài. Từng bước
mở thị trường bất động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước
ngoài tham gia đầu tư, phát triển thị trường lao động, người lao động được tìm
và tạo việc lảm ở mọi nơi trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu lao động với sự tham
gia của các thành phần kinh tế. Phát triển các loại thị trường dịch vụ, khoa học
công nghệ, sản phẩm trí tuệ Nhà nước tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt
động khách quan của thị trường, tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, đồng thời
khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực của thị trường. Nhà nước điều tiết
thu nhập hợp lý, xây dựng pháp luật và kiểm tra giám sát việc thực hiện. Kiên
quyết xoá bỏ những quy định và thủ tục mang nặng tính hành chính quan liêu,
bao cấp, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, gây phiền hà sách nhiễu
cho doanh nghiệp và nhân dân.
2.2.3. Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia,
động viên hợp lý và phân phối có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế- xã hội. Thực hiện nguyên tắc công bằng, hiệu quả trong
chính sách phân phối và phân phối lại nguồn thu nhập trong xẫ hội. Tạo lập môi
trường tài chính lành mạnh thông thoáng, nhằm giải phóng và phát triển các
nguồn lực tài chính và tiềm năng sản xuất của các doanh nghiệp. Kết hợp chặt
chẽ kế hoạch hoá với các chính sách kinh tế, tài chính đểđịnh hướng và khuyến
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét