Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

451 Một số giải pháp phát triển nghiệp vụ tại các Công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam


CHƯƠNG

1

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VÀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN


1.1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.1.
Khái niệm
Thò trường Chứng khoán là bộ phận cấu thành của Thò trường tài chính mà tại đó
diễn ra hoạt động mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn.
Thò trường Chứng khoán với các công cụ cổ phiếu, trái phiếu đa dạng cho phép
các doanh nghiệp, các tổ chức Tài chính, tín dụng và Chính phủ, chính quyền đòa
phương huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, đưa vào đầu tư phát
triển. Nhờ đó, thò trường Chứng khoán được ví như “bà đỡ” cho các dự án kinh
doanh tiến bộ nhất đi vào cuộc sống, là biện pháp chủ yếu của việc giải phóng
năng lực sản xuất, điều mà đã được khẳng đònh trong hầu hết các công ty kinh
doanh thành đạt nhất thế giới.
1.1.2.
Cấu trúc cơ bản của thò trường chứng khoán :
1.1.2.1. Căn cứ vào tính chất phát hành hay lưu hành chứng khoán, TTCK được chia
thành :

Thò trường sơ cấp (Primary market) : là nơi diễn ra quá trình mua bán lần đầu
các chứng khoán mới phát hành. Thò trường sơ cấp còn được gọi là Thò trường
cấp 1 hay Thò trường phát hành.
Thò trường sơ cấp có chức năng :
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
- Tạo hàng hóa cho Thò trường thứ cấp
Thò trường sơ cấp vừa có khả năng thu gom mọi nguồn tiết kiệm lớn nhỏ của
từng hộ dân cư, vừa có khả năng thu hút nguồn vốn to lớn từ nước ngoài; các
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính
phủ tạo thành nguồn vốn khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế. Việc xây dựng một
Trang 5


thò trường sơ cấp hoạt động hiệu quả với lượng hàng hóa đa dạng, phong phú,
hấp dẫn công chúng và các nhà đầu tư, có ý nghóa quyết đònh cho việc hình
thành và phát triển thò trường thứ cấp.

Thò trường thứ cấp (Secondary market) : là thò trường mua đi bán lại các loại
chứng khoán đã được phát hành ở thò trường sơ cấp.
Hoạt động mua bán chứng khoán trên thò trường thứ cấp diễn ra giữa các nhà
đầu tư với nhau, không làm tăng thêm quy mô về vốn, không thu hút thêm được
nguồn tài chính mới. Khác với chức năng huy động vốn đầu tư của thò trường sơ
cấp, thò trường thứ cấp về bản chất là nơi luân chuyển các nguồn vốn đã đầu tư.
Giữa thò trường thứ cấp và thò trường sơ cấp có mối quan hệ nhân quả phụ thuộc
lẫn nhau. Sẽ không có thò trường thứ cấp nếu không có thò trường sơ cấp. Ngược
lại, thò trường thứ cấp góp phần tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của thò
trường sơ cấp.
1.1.2.2. Căn cứ vào hình thức tổ chức TTCK được chia thành hai loại :

Thò trường chứng khoán tập trung (Sở giao dòch chứng khoán)
Sở giao dòch chứng khoán là nơi tập trung các giao dòch chứng khoán một cách
có tổ chức, tuân theo những luật lệ nhất đònh. Đây là cơ quan phục vụ cho hoạt
động giao dòch chứng khoán : cho các thành viên thuê đòa điểm để mua bán
chứng khoán và thực hiện niêm yết chứng khoán. Sở giao dòch không có trách
nhiệm ấn đònh hoặc can thiệp vào giá cả chứng khoán mà chỉ đảm bảo sao cho
việc mua bán chứng khoán hoặc việc đấu thầu được diễn ra đúng pháp luật,
công bằng. Vai trò của Sở giao dòch chứng khoán rất quan trọng, nếu được tổ
chức tốt sẽ thúc đẩy sự phát triển của TTCK.

Thò trường phi tập trung (Over The Counter Market - Thò trường OTC)
Thò trường phi tập trung (OTC) là nơi diễn ra giao dòch chứng khoán chưa niêm
yết hoặc chưa hội đủ các điều kiện niêm yết.
Trang 6


Thò trường OTC đại diện cho một thò trường thương lượng, nơi mà giữa người
bán và người mua trực tiếp thương lượng với nhau về giá cả, khối lượng giao
dòch … Điểm khác nhau căn bản giữa TTCK tập trung và thò trường OTC là tại
TTCK tập trung, những giao dòch chứng khoán niêm yết diễn ra trong đám đông
trên sàn giao dòch, đấu giá công khai; trong khi trên thò trường OTC, các giao
dòch được đàm phán trực tiếp qua điện thoại hoặc qua hệ thống máy vi tính được
nối mạng. Đây là một thò trường đầy năng động và hấp dẫn. Chứng khoán giao
dòch trên thò trường OTC không đòi hỏi các tiêu chuẩn như ở Sở giao dòch chứng
khoán.
1.1.3.
Nguyên tắc hoạt động của thò trường chứng khoán :

Nguyên tắc trung gian
Thò trường chứng khoán có tổ chức hoạt động không phải trực tiếp do những
người muốn mua bán chứng khoán thực hiện mà do những người môi giới trung
gian thực hiện. Nguyên tắc trung gian nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, vì
những người đầu tư không phải ai cũng có đủ trình độ chuyên môn để xác đònh
được giá trò thực và giá trò tương lai của từng loại chứng khoán. Nếu không có
những người môi giới có kinh nghiệm và có kỹ thuật chuyên môn có sự phân
tích cần thiết về chứng khoán dựa trên những căn cứ xác đáng để có những
nhận xét kỹ lưỡng, thì người đầu tư có thể bò lầm lẫn hoặc bò lường gạt.

Nguyên tắc đấu giá
Trên TTCK, giá cả chứng khoán được xác đònh theo quy luật cung cầu, trên cơ
sở đấu giá công khai giữa những mua; giữa những người bán với nhau theo
nguyên tắc ưu tiên cho người mua giá cao (đối với bên mua) và ưu tiên cho
người bán giá thấp (đối với bên bán). Đối với giao dòch thỏa thuận thì giá được
hình thành theo thỏa thuận giữa hai bên.

Nguyên tắc công khai
Trang 7


Tất cả hoạt động trên thò trường chứng khoán đều phải được công khai. Các loại
chứng khoán được đưa ra mua bán trên thò trường, tình hình tài chính và kết quả
kinh doanh của công ty niêm yết, số lượng và giá cả từng loại chứng khoán đã
mua bán đều được thông báo công khai trên thò trường và trên các phương tiện
thông tin đại chúng. Nguyên tắc công khai đảm bảo mọi đối tượng tham gia thò
trường đều bình đẳng về thông tin.

Nguyên tắc có sự giám sát của Nhà nước
TTCK cũng như các loại thò trường khác nó hình thành, tồn tại và phát triển tự
nhiên theo nhu cầu hoạt động kinh tế. Nhưng TTCK là thò trường giao dòch hàng
hoá “vô hình”. Do đó những hành vi lừa đảo, đầu cơ mua bán giả thường nảy
sinh và phát huy tác dụng hơn bất cứ loại thò trường nào. Do đó thò trường cần
phải có sự giám sát của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp.
1.1.4.
Các chủ thể tham gia thò trường chứng khoán
1.1.4.1. Tổ chức phát hành :
Tổ chức phát hành là người cung cấp hàng hóa cho TTCK . Đó là các công ty cổ
phần, công ty TNHH, DNNN, các tổ chức tài chính, chính phủ, chính quyền đòa
phương, quỹ đầu tư, … thực hiện phát hành cổ phiếu, trái phiếu, kỳ pphiếu,
chứng chỉ quỹ đầu tư, … qua TTCK để huy động vốn hoặc để đầu tư vào các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội, …
1.1.4.2. Nhà đầu tư :
Là chủø thể quan trọng tham gia thò trường chứng khoán với tư cách là người mua
bán chứng khoán. Nhà đầu tư trên TTCK được chia thành 2 loại :
 Nhà đầu tư cá nhân : là các cá nhân có tiền tiết kiệm, có vốn tạm thời nhàn
rỗi và muốn đầu tư số tiền đó để để hưởng lãi đònh kỳ, hoặc hưởng chênh
lệch giá. Tuy nhiên, trong đầu tư lợi nhuận luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận
càng cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại. Vì vậy, các nhà đầu tư cá nhân
Trang 8


luôn phải cân nhắc lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng
cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình.
 Nhà đầu tư tổ chức : các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian, quỹ
đầu tư, công ty chứng khoán, … tham gia thò trường với mục đích thu lợi cho
mình, hoặc bình ổn giá chứng khoán. Các tổ chức này thường có các bộ
phận chức năng với nhiều chuyên gia kinh nghiệm để thu thập, xử lý thông
tin, nghiên cứu thò trường để đưa ra các quyết đònh đầu tư. Vì vậy, để giảm
thiều rủi ro, họ thường đa dạng hóa danh mục đầu tư.
1.1.4.3. Các tổ chức tài chính trung gian :
Là các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại, … thực hiện một trong các
nghiệp vụ như tự doanh, môi giới, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư,
lưu ký chứng khoán, tư vấn đầu tư. Sự tham gia của họ trên thò trường chứng
khoán góp phần giúp cho thò trường hoạt động và phát triển lành mạnh, đều
đặn, và bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư.
1.1.4.4. Cơ quan quản lý Nhà nước :
Sự tham gia của cơ quan quản lý Nhà nước là rất cần thiết nhằm đảm bảo cho
thò trường được hoạt động theo đúng các quy đònh của pháp luật và bảo vệ lợi
ích của nhà đầu tư, đảm bảo cho thò trường được hoạt động công bằng, công
khai, trật tự, giảm thiểu những tiêu cực có thể xảy ra, đặc biệt là trong giai đoạn
đầu thành lập TTCK. Ngoài ra cơ quan quản lý Nhà nước còn là người cung cấp
đòa điểm và phương tiện phục vụ cho việc mua bán chứng khoán, đó là Sở giao
dòch chứng khoán.
1. 2. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN :
1.2.1.
Khái niệm, đặc trưng của Công ty chứng khoán:
1.2.1.1. Khái niệm
Nguyên tắc trung gian là một trong những nguyên tắc hoạt động cơ bản nhất của
TTCK. Theo nguyên tắc này, việc mọi hoạt động mua bán diễn ra trên TTCK
Trang 9


tập trung đều phải thông qua tổ chức trung gian, đó là công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là một đònh chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh
chứng khoán, là đơn vò có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập.
Tại việt nam, theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Công ty Chứng khoán
quy đònh : “Công ty Chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH thành
lập hợp pháp tại Việt Nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc
một số loại hình kinh doanh chứng khoán”.
Điều kiện cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam :
1. Có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh
tế, xã hội và phát triển ngành chứng khoán
2. Có đủ cơ sở vật chất kỹ thuật cho kinh doanh Chứng khoán.
3. Có mức vốn pháp đònh theo từng loại hình kinh doanh như sau :
• Môi giới Chứng khoán : 3 tỷ đồng Việt Nam
• Tự doanh Chứng khoán : 12 tỷ đồng Việt Nam
• Quản lý danh mục đầu tư Chứng khoán : 3 tỷ đồng Việt Nam
• Bảo lãnh phát hành Chứng khoán : 22 tỷ đồng Việt Nam
• Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán : 3 tỷ đồng Việt Nam
4. Giám đốc, Phó giám đốc (Tổng Giám đốc, Phó tổng giám đốc), các nhân
viên kinh doanh của Công ty Chứng khoán phải đáp ứng đủ điều kiện để
được cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh Chứng khoán do UBCKNN cấp.
5. Giấy phép bảo lãnh phát hành chỉ được cấp cho Công ty có giấy phép tự
doanh.
1.2.1.2.
Đặc trưng của công ty chứng khoán :
 Chuyên môn hóa và phân cấp quản lý :
- Các công ty chứng khoán chuyên môn hóa ở mức độ cao trong từng bộ phận,
từng phòng ban, từng đơn vò kinh doanh nhỏ.
Trang 10


- Do chuyên môn hóa cao nên dẫn đến cơ cấu phân cấp quản lý và làm nảy
sinh quyền tự quyết trong công việc.
- Một số bộ phận trong tổ chức công ty không thể phụ thuộc lẫn nhau (như bộ
bộ môi giới và bộ phận tự doanh, hay bộ phận bảo lãnh phát hành, …)
 Nhân tố con người :
- Trong công ty chứng khoán, trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, quan
hệ với khách hàng là những yếu tố quan trọng nhất. Vì vậy nhân tố con người
mang ý nghóa quyết đònh trong việc phát triển công ty và mang lại hiệu quả
hoạt động của công ty.
- Khác với các công ty trong lónh vực khác, việc thăng tiến, cất nhắc lên những
đòa vò cao hơn đối với các chuyên viên trong công ty chứng khoán chưa hẳn là
điều quan trọng nhất, vì khách hàng tín nhiệm họ bởi trình độ chuyên môn,
kinh nghiệm, đạo đức nghề nghiệp chứ không hẳn vì đòa vò, chức vụ.
- Các chức vụ quản lý hay giám đốc trong công ty có thể có thu nhập ít hơn các
nhân viên cấp dưới.
 Ảnh hưởng của thò trường tài chính :
Thò trường tài chính nói chung và thò trường chứng khoán nói riêng có ảnh
hưởng lớn đến khả năng chuyên môn, phát triển sản phẩm, dòch vụ và khả năng
thu lợi nhuận của các công ty chứng khoán
1.2.2.
Nguyên tắc hoạt động của Công ty chứng khoán
- Tuân thủ pháp luật về chứng khoán và TTCK.
- Xây dựng quy trình nghiệp vụ cho từng loại hình kinh doanh chứng khoán
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty.
- Thu thập đầy đủ thông tin về tình hình tài chính và mục tiêu đầu tư của khách
hàng; cung cấp thông tin thò trường đầy đủ, trung thực và kòp thời, chính xác
cho khách hàng;
Trang 11


- Bảo mật thông tin cho khách hàng, trừ những trường hợp phải cung cấp theo
yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy đònh của pháp luật.
- Sử dụng tiền gửi trên tài khoản của khách hàng theo đúng hợp đồng với khách
hàng. Quản lý tách biệt tài sản, tiền và chứng khoán của khách hàng với tài
sản, tiền và chứng khoán của công ty, không được sử dụng tiền và chứng
khoán của khách hàng vào mục đích thu lợi của mình hoặc cho bên thứ ba.
- Tách biệt tự doanh của công ty với môi giới, quản lý danh mục đầu tư, bảo
lãnh phát hành.
- Thường xuyên duy trì mức vốn khả dụng tối thiểu theo quy đònh của pháp luật.
- Thường xuyên thực hiện công tác thanh tra, giám sát, kiểm soát nội bộ để hạn
chế những tiêu cực của nhân viên, của công ty gây thiệt hại cho khách hàng.
1.2.3.
Mô hình hoạt động và cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán :
1.2.3.1.
Mô hình hoạt động :
Hiện nay trên thế giới có hai loại mô hình hoạt động của công ty chứng khoán:
- Công ty chuyên doanh chứng khoán :
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc
lập, chuyên môn hóa trong lónh vực chứng khoán đảm nhận; các Ngân hàng
không được trực tiếp tham gia kinh doanh chứng khoán.
Ưu điểm của mô hình này :
+ Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng
+ Tạo điều kiện cho TTCK phát triển do tính chuyên môn hóa cao hơn.
Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật, Canada, …
- Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán :
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể
kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ.
Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể đa dạng hóa, kết hợp nhiều lónh
vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung, khả
Trang 12


năng chòu đựng các biến động của thò trường chứng khoán là cao. Mặt khác,
ngân hàng tận dụng được thế mạnh về vốn để kinh doanh chứng khoán; khách
hàng có thể sử dụng được nhiều dòch vụ đa dạng và lâu năm của ngân hàng.
Tuy nhiên, mô hình này bộc lộ một số hạn chế như không phát triển được thò
trường cổ phiếu do các ngân hàng có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động tín
dụng truyền thống hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Mặc khác,
theo mô hình này, nếu có biến động trên thò trường chứng khoán sẽ ảnh hưởng
mạnh đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dễ dẫn đến các cuộc
khủng hoảng tài chính.
Do những hạn chế trên mà trước đây, Mỹ và nhiều nước khác đã áp dụng mô
hình này, nhưng sau cuộc khủng hoảng năm 1933, đa số các nước đã chuyển
sang mô hình chuyên doanh chứng khoán, chỉ có Đức vẫn duy trì đến ngày
nay.
Tại Việt Nam, do quy mô các Ngân hàng thương mại nói chung là rất nhỏ bé,
và đặc biệt vốn dài hạn rất thấp. Hoạt động của các ngân hàng thương mại
Việt Nam chủ yếu trong lónh vực tính dụng thương mại ngắn hạn, trong khi
hoạt động của thò trường chứng khoán thuộc lónh vực vốn dài hạn. Khả năng
khắc phục những yếu điểm này của ngân hàng Việt Nam còn phải lâu dài.
Do đó, để bảo vệ an toàn cho các Ngân hàng, nghò đònh 144/CP về chứng
khoán và thò trường chứng khoán quy đònh các Ngân hàng thương mại muốn
kinh doanh chứng khoán phải tách ra một phần vốn tự có của mình thành lập
một công ty chứng khoán chuyên doanh trực thuộc, hạch toán độc lập với ngân
hàng.
1.2.3.2.
Cơ cấu tổ chức :
Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ mà
công ty đó thực hiện và quy mô hoạt động kinh doanh của nó, tuy nhiên, phải
đảm bảo tách biệt giữa hoạt động tư doanh với hoạt động môi giới và quản lý
danh mục đầu tư. Nhìn chung, cơ cấu tổ chức của CTCK như sau :
Trang 13


Hình 1.1 : Sơ đồ tổ chức của Công ty chứng khoán








Phó giám đốc phụ trách
P. Môi
giới
P. tự
doanh
P. phân
tích và
tư vấn
P. bảo
lãnh
phát
hành
P. Kế
toán -
Lưu ký
Phó giám đốc phụ trách
P. Tổ
chức
Hành
chính
Giám đốc
Cơ cấu tổ chức công ty chứng khoán là hệ thống các phòng ban chức năng được
chia làm hai khối tương ứng với hai khối công việc.
 Khối I (FRONT OFFICE) : Do ít nhất một phó giám đốc trực tiếp phụ trách,
thực hiện các giao dòch mua bán kinh doanh chứng khoán như : tự doanh,
môi giới, bảo lãnh phát hành, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, quản
lýdanh mục đầu tư. Đây là khối mang lợi thu nhập chính cho công ty chứng
khoán. Nhìn chung, khối này có quan hệ trực tiếp với khách hàng bởi vì
ngoài nghiệp vụ tự doanh, khối này mang lại thu nhập cho công ty bằng
cách đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và tạo ra sản phẩm phù hợp với
nhu cầu đó.
 Khối II (BACK OFFICE): thường cũng do một phó giám đốc phụ trách, thực
hiện các công việc yểm trợ cho khối I như hành chính tổ chức, kế toán , …
1.2.4.
Các nghiệp vụ của Công ty chứng khoán
1.2.4.1 Môi giới chứng khoán : Là một hoạt động kinh doanh của CTCK trong đó
CTCK đại diện cho khách hàng mua hoặc bán chứng khoán để hưởng hoa hồng.
Ở nghiệp vụ này, CTCK thực hiện giao dòch hoàn toàn theo lệnh của khách hàng,
và không chòu trách nhiệm đối với các quyết đònh của khách hàng. Tiền hoa hồng
môi giới thường được tính phần trăm trên tổng giá trò của một giao dòch.
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét