Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

hợp đồng đại lý bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Có định nghĩa cho rằng bảo hiểm là một phơng pháp lập quỹ dự trữ bằng
tiền do những ngời có cùng khả năng gặp phải một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo
nên. Định nghĩa này chỉ mơí đề cập đến phơng pháp lập quỹ dự trữ bảo hiểm, mà
cha rõ phơng thức sử dụng nó. Lại có khái niệm khác boả hiểm là hoạt động thể
hiện ngời bảo hiểm cam kết bồi thờng cho ngời tham gia bảo hiểm trong trờng hợp
xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện ngời tham gia nộp một khoản
phí cho chính anh ta hoặc cho ngời thứ ba. Điều này có nghĩa là ngời tham gia
chuyển giao rủi ro cho ngời bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quy
dự trữ. Khi ngời tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, ngời bảo hiểm lấy quỹ dự trữ
trợ cấp hoặc bồi thờng thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho ngời tham gia. Phạm
vi bảo hiểm là những rủi ro mà ngời tham gia đăng ký với ngời bảo hiểm. Đây là
định nghĩa mang tính chung nhất của bảo hiểm.
Cũng có định nghĩa chỉ rõ đặc trng riêng của một loai hình bảo hiểm cụ thể.
Dù có nhiều khái niệm khác nhau nhng ngời ta đều nhận rõ mục đích chủ
yếu của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho ngời tham gia, từ đó khắc phục
và phát triển đời sống, đồng thời tạo nguồn vốn cho phát triển kinh tế và xã hội
của đất nớc.
2. bảo hiểm nhân thọ
a. Sự cần thiết của bảo hiểm nhân thọ
Kinh tế phát triển làm cho đời sống của nhân dân không ngừng đợc tăng lên
và nó cũng tạo ra một lớp ngòi có thu nhập cao trong xã hội, họ là những ngời có
hiểu biết, có nguồn tiết kiệm dồi dào và mong muốn có một cuộc sống ổn định,
sung túc. Với số tiền nhàn rỗi họ tiến hành đàu t vào các lĩnh vực khác nhau nhằm
phân tán rủi ro, trong đó bảo hiểm nhân thọ là một ling vực thích hợp.
Bảo hiểm là loại hình bảo hiểm có liên quan đến cuộc sống của con ngời, nó
bao gồm nhiều loại hình khác nhau nh: An sinh giáo giục, bảo hiểm nhân thọ hỗn
hợp 5-10 năm.v.v
Bên cạnh đó, việc lo cho tuổi già và khi về hu đang là vấn đề đợc xã hội quan
tâm, lo lắng và coi trọng. Một số ngời khi hết tuổi lao động có thu nhập từ lơng hu
nhng thực tế khó có thể đáp ứng đợc đâỳ đủ các nhu cầu chi tiêu trong cuộc sống.
Ngoài ra, phần lớn ngời già không có lơng hu phải sống nhờ vào con cái hay vẫn
phải lao động vất vả để kiếm sống, đó là vấn đề bức xúc của xã hội. Khi tuổi già
càng cao thì nguồn tài chính càng cạn kiệt, do vậy khi còn trẻ xu hớng dành dụ
một khoản tiền khi về già càng ngày cao, đặt biệt là đối với ngời làm việc cha có
5
bảo hiểm xã hội, thậm chí nhiều ngời muốn bên cạnh khoản trợ cấp này cò một
khoản thu thêm. Bảo hiểm nhân thọ đã đáp ứng nhu cầu này cho họ.
b. Các loại hình
Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng đợc rất nhiều mục đích khác nhau. Đỗi với những
ngời tham gia mục đích chính của họ hoặc là để bảo vệ con cái và những ngời ăn
theo tránh khỏi những nỗi bất hạnh về cái chết bất ngờ của họ hoặc tiết kiệm để
đáp ứng các nhu cầu về tài chính trong tơng lai do vậy, ng ời bảo hiểm đã thực
hiện đa dạng hoá các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, thực chất là đa dạng hoá các
loại hợp đồng nhằm đáp ứng và thoả mãn mọi nhu cầu của ngời tham gia bảo hiểm
Chúng ta có thể phân chia bao rhiểm nhân thọ ra thành nhiều loại hình theo
các tiêu thức khác nhau:
Phân chia theo sự cố bảo hiểm
+ Bảo hiểm trong trờng hợp tử vong
+ Bảo hiểm trong trờng sống
+ Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp
Phân chia theo thời hạn của hợp đồng bảo hiểm
+ Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn
+ Bảo hiểm nhân thọ trọn đời
Một số loại hình khác
+ Bảo hiểm trợ cấp hu trí
+ Bảo hiểm học phí
+ Bảo hiểm trẻ em
Bảo hiểm nhân thọ đã phát triển khắp thế giới và đóng vai trò quan trọng
trong nền kinh tế của mỗi nớc. Không giống nh bảo hiểm phi nhân thọ, trong bảo
hiểm nhân thọ mọi biến cố đều đợc đảm bảo, trên thế giới hiện nay đã phát triển
rất nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau, để đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú
của mỗi ngời. Tuy nhiên, trong thực tế hầu hết các công ty bảo hiểm nhân thọ trên
thế giới đang triển khai 4 loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản sau:
+ Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn
Đối với loại hình bảo hiểm này, nhà bảo hiểm nhận bảo hiểm đối với ngời
tham gia bảo hiểm, số tiền bảo hiểm chỉ đợc thanh toán trong trờng họp ngời đợc
bảo hiểm tử vong trong thời hạn bảo hiểm. Độ dài của thời hạn bảo hiểm rất khác
nhau, nhng hiện nay thờng là trên một năm. Đặc điểm cơ bản của loại sản phẩm
nay là:
6
++Số tiền bảo hiểm trả một lần khi ngời đợc bảo hiểm chết trong thờihạn đợc
bảo hiểm.
++Thời hạn bảo hiểm đợc xác định theo năm hoặc theo kỳ
++Phí bảo hiểm không thay đỏi trong suốt thời hạn bảo hiểm và đợc đóng
định kỳ
++Không có giá trị giải ớc,nghĩa là không đợc nhận BTBH khi huỷ bỏ hợp
đồng trớc khi kết thúc hợp đồng. Chính vì vậy, số tiền bảo hiểm thấp phù hợp với
ngời có thu nhập thấp nhng cần bảo đảm trách nhiệm cao.
+Bảo hiểm nhân thọ trọn đời( bảo hiểm trờng sinh)
loại hình bảo hiểm này là cam kết chỉ trả cho ngời thụ hởng một số tiền bảo hiểm
đã đợc ấn định trong hợp đồng khi ngời đợc bảo hiểm chết vào bất cứ lúc nào kể
từ ngày ký kết hợp đồng
Một số đặc điểm chính của loại hình bảo hiểm này là:
++Số tiền bảo hiểm trả một lần khi ngời đợc bảo hiểm chết
++Thời hạn bảo hiểm không xác định
++Phí bảo hiểm có thể đóng một lần hay định kỳ và không thay đổi trong
suốt thời hạn bảo hiểm
++Phí bảo hiểm cao hơn so với bảo hiểm sinh mạng có thời hạn
++ Bảo hiểm nhân thọ trọn đời là loại hình bảo hiểm dài hạn, phí đóng định
kỳ không thay đổi trong suốt quá trình bảo hiểm, do đó tạo nên một khoản tiết
kiệm cho ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm. Bảo hiểm nhân thọ trọn đời có các
mục đích sau:
=>Đảm bảo các chi phí mai táng, chôn cất
=>Đảm bảo các thu nhập để ổn định đời sống gia đình
=>Giữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau
+ Bảo hiểm trong trờng hợp sống( bảo hiểm sinh kỳ)
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là ngời bảo hiểm cam kết chi trả
những khoản tiền đều đặn trong khoảng thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc
đời ngời tham gia bảo hiểm. Nếu ngời đợc bảo hiểm chết trớc ngày đến hạn thanh
toán thì sẽ không đợc chi trả bất cứ khoản nào.
Bảo hiểm trong trờng hợp này có một số đặc điểm sau:
++Trợ cấp định kỳ cho ngời đợc bảo hiểm trong thời gian xác định hoặc cho
đến khi chết
++Phí bảo hiểm đóng một lần
7
++Nếu trợ cấp định kỳ đến khi chết thì thời gian không xác định
Mục đích của loại hình này là:
=>Đảm bảo thu nhập cố định sau khi về hu hay khi tuổi già sức yếu
=>giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội và con cái khi tuổi già.
Nh vậy, loaị hình này rất phù hợp đối với những ngời khi về hu và nhngc ng-
ời không đợc hởng trợ cấp hu trí từ bảo hiểm xã hội khi đến độ tuổi tơng ứng với
độ tuổi về hu đăng ký tham gia để đợc hởng trợ cấp đều đặn hàng tháng
+ Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm cả trong trờng hợp ngời đ-
ợc bảo hiểm tử vong hoặc còn sống. Yếu tố đan xen nhau vì thế nó đợc áp dụng
rộng rãi ở các nớc trên thế giới.
Đặc điểm:
++Số tiền bảo hiểm đợc trả khi hết hạn hợp đồng hay khi ngời đợc bảo hiểm
bị tủ vong trong thời hạn bảo hiểm.
++Thời hạn bảo hiểm đợc xác định cụ thể ( thờng là 5 năm, 10 năm, 20 năm )
++Phí bảo hiểm thờng đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời hạn bảo
hiểm.
++Có thể chia lãi thông qua việc đầu t của công ty bảo hiểm và có thể đựơc
hoàn phí khi không có điều kiện tham gia tiếp
Mục đích của bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp:
=>Đảm bảo ổn định cuộc sống cho gia đình và ngời thân
=>tạo lập quỹ giáo dục,hu trí, trả nợ
=>Dùng làm vật thế chấp vay vốn hay khởi nghiệp khi triển khai, các công
ty có thể đa dạng hoá sản phẩm băng các hợp đồng có thời hạn khác nhau, có lợi
nhuận và các loại hình khác nhau tuỳ theo tình hình thực tế
c. Lịch sử ra đời và phát triển của BHNT
BHNT đã có lịch sử hơn 400 năm tồn tại và phát triển. Đây là một quãng thời
gian khá dài để nói nên sự tồn tại bền bỉ và ngày càng lớn mạnh của loại hình bảo
hiểm này. Đối với các nớc trên thé giói đặc biệt là các nớc đang phát triển, loại
hình này đã đợc biết đến từ khá lâu và đợc phát triển rông rãi. BHNT đầu tiên đợc
ký với ngời đợc bảo hiểm là William Gybbon tại London( Anh). Thực tế ông chỉ
đóng 32 bảng Anh phí bảo hiểm nhng khi ông mất,ngời thừa kế của ông lại đợc
400 bảng Anh. Vào thời kỳ đầu, nhiều tổ chức bảo hiểm ở các nớc đã xuất hiện
nhng đều chỉ mang tính chất sơ khai đợc hình thành trên cơ sở phong tục tập quán
8
của từng xã hội. ở Hy Lạp năm 1750 TCN,Nhà nớc quy định chỉ bồi thờng cho ng-
ời thuê nhà bị bọn cớp sát hại tuy nhiên ngời ta không biết mức đóng góp cụ thể là
bao nhiêu.
Các phờng hội thời trung cổ: Hợp đồng tho hình thức tơng hỗ, các thành phố
có trách nhiệm với nhau trong lúc gặp rủi ro. Tuy nhiên hội này không tổ chức cho
mục đích từ thiện mà là vì tôn giáo, xã hội và quyền lợi kinh tế từ những hội viên
là sự đảm bảo của mục đích hay là sự bồi thờng cho những tổn thất do tai nạn.
Công ty BH tơng hỗ đầu tiên là hội BHNT và hu trí. Hội này do các nhà
buôn vải thành lập ngày 4/10/1699. Nhng chỉ ít năm sau hội đã phải giải tán vì nợ
nần. Và 7 năm sau đó công ty BHNT suốt đời đợc thành lập. Nó chỉ giới hạn gồm
200 thành viên, quyền lợi bảo hiểm đợc xác định theo một mức duy nhất và không
đợc quy định trớc, phụ thuộc vào số ngơì chết trong từng năm.
Năm 1759 Công ty BHNT đợc thành lập ở Philadelphia, Mỹ, đây là Công ty
BHNT lâu đời nhất tồn tại trên thế giới.
Đến năm 1762, Công ty BHNT đầu tiên ở Anh mới đợc thành lập và bán bảo
hiểm rộng rãi cho mọi ngời dân, phí bảo h iểm không đổi trong suốt thời gian bảo
hiểm và công ty đã tỏ ra thận trọng hơn trong việc quản lý quỹ và các hợp đồng
bảo hiểm.
ở Châu á, với sự có mặt của công ty Meiji, Nhật bản là quốc gia đầu tiên
triển khai loại hình BHNT. Sau 7 năm độc quyền đến năm 1889 hai Công ty
BHNT lớn khác ra đời là Teikoko và Nippon.
Hiện nay các công ty BHNT trên thế giới đã cho ra đời nhiều loại sản phẩm
BHNT với hàng trăm tên gọi khác nhau. Sự cạnh tranh trên thị trờng này là khá
gay gắt. Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển, mỗi công ty BHNT đều thiết kế
những sản phẩm mang đặc thù riêng đáp ứng đợc nhu cầu của ngời dân ở từng khu
vực, phù hợp với chính sách của từng quốc gia. Trên thế giới hiện doanh số BHNT
chiếm khoảng 50% doah số toàn nghành bảo hiểm: ở Châu mỹ năm 1990 phí
BHNT chiếm 24,8%, Châu Âu 31,4% ,Châu á 33,8% so với tổng phí BHNT trên
thế giới.
ở Việt Nam BHNT có thể đợc coi nh xuất hiện từ thời pháp thuộc trớc năm
1954, ở Miền Bắc khi những viên chức làm việc cho Pháp đợc bảo hiểm và một số
gia đình đã đợc hởng quyền lợi bảo hiểm, các hợp đồng bảo hiểm này đều do các
công ty của Pháp thực hiện. Miền Nam Việt Nam trớc năm 1975 đã có công ty
Bảo Hiểm Hng Việt triển khai một số loại hình nh Bảo hiểm trờng sinh và An sinh
9
giáo dục. Nhng công ty này chỉ hoạt động trong thời gian ngắn 1-2 năm cho nên
ngời dân cha biết nhiều về loại hình bảo hiểm này.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng theo định hớng XHCN có sự
quản lý của nhà nứơc ,nhận thức đợc tình hình, Bảo Việt đã tổ chức nghiên cứu đề
tài Lý thuyết về BHNT và sự vận dụng vào thực tế tại Việt Nam và đã đợc Bộ
Tài Chính công nhận là đề tài cấp Bộ. Tuy vậy trong những năm cuối thập kỷ 80
cha thực hiẹn đợc việc triển khai BHNT vì tình hình nớc ta đang gặp nhiều khó
khăn. Bớc sang thập kỷ 90, với cơ chế đa dạng hoá các loại hình kinh doanh bảo
hiểm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, năm 1990 Bộ tài chính đã cho
phép Bảo Việt triển khai BH sinh mạng cá nhân. Đến năm 1995 đã có trên 500000
ngời tham gia với tổng số phí trên 10 tỷ đồng. Ngày 20-3-1996, Bộ tài chính đã ký
quyết định số 281/ TC-NH cho phép Bảo Việt triển khai 2 loại hình BHNT,BHNT
có thời hạn 5,10 năm và An sinh giáo dục.
Ngày 22-6-1996 Bộ Tài chính ký quyết định số 568/QD/TCCB thành lập
công ty BHNT trực thuộc Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, gọi là Bảo Việt Nhân
Thọ. Đây là công ty bảo hiểm nhân thọ duy nhất ở Việt Nam triển khai BHNT đi
vào hoạt động ngày 2-8-1996. Đến ngày 15-1-1997 đã có 225 hợp đồng trên 25
đại lý. Hiện nay công ty đã triển khai BHNT trên khắp 61 tỉnh, thành phố và tại Hà
Nội đã thành lập đợc 18 phòng khai thác BHNT.
Cho đến nay, khi Bộ tài chính cho phép mở rộng thị trờng bảo hiểm nhân thọ
để hội nhập với thị trờng bảo hiểm khu vực và trên thế giới đã có nhiều công ty
BHNT nớc ngoài nh Chinfon mannulife, Pdential, AIA, Bảo Minh CMG. Điều đó
có nghĩa là thị trờng bảo hiểm đang ngày càng đợc đông đảo ngời dân hởng ứng
đồng thời đặt ra sự cạnh tranh quyết liệt đối với BHNT Hà Nội.
Phần II: Đại lý bảo hiểm nhân thọ
1. Khái niệm
Theo thuật ngữ pháp lý, đại lý là ngời làm việc cho một ngời khác
Trên cơ sở hợp đồng đại lý.
Theo thuật ngữ bảo hiểm ,đại lý bảo hiểm là ngời làm việc cho doanh nghiệp
bảo hiểm,thay mặt doanh nghiệp bán các sản phẩm bảo hiểm cho ngời mua.
Theo luật kinh doanh bảo hiểm Vịêt Nam điều 84, chơng IV thì đại lý bảo
hiểm là tổ chức, cá nhân đợc doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp
đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của
Luật này và các luật khác có liên quan.
10
Hoạt động đại lý bảo hiểm là phơng thức bán bảo hiểm theo đó đại lý chịu
trách nhiệm thu xếp việc ký kết các hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo
hiểm và ngời mua bảo hiểm theo uỷ quyền của doanh nghiệp bảo hiểm trên cơ sở
hợp đồng đại lý để đợc hởng hoa hồng bảo hiểm.
Đại lý bảo hiểm là những ngời hoặc tổ chc trung gian giữa doanh nghiệp bảo
hiểm và ngời tham gia bảo hiềm ,đại diện cho doanh nghiệp và hoạt động vì
quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm .Đại lý có thể là tổ chức ngân hàng hay luật
s. Những ngời này làm đại lý bảo hiểm rất thuận lợi do có sự tiếp xúc với nhiều
khách hàng;đồng thời bảo hiểm là một dịch vụ bổ sung cho khách hàng của họ
.Đại lý có thể là một cá nhân hoạt động chuyên trách hoặc bán chuyên trách.
Đại lý bảo hiểm hoạt động tại văn phòng hoặc đi đến từng nhà ,từng doanh
nghiệp để bán bảo hiểm,thu phí bảo hiểm và đàm phán những thay đổi về nhu cầu
bảo hiểm của khách hàng thực tế và tiềm năng .
Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam quy định về điều kiện hoạt động đại lý
bảo hiểm nh sau:
1. Cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:
a.Là công dân Việt Nam thờng trú tại Việt Nam ;
b.Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
c.Có chứng chỉ đào tạo đại lý bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm hoặc Hiệp
hội Bảo hiểm Việt Nam cấp.
2. Tổ chức hoạt động đai lý bảo hiểm phải có đủ điều kiện sau đây:
a. Là tổ chức đợc thành lập và hoạt động và hoạt động hợp pháp;
b. Nhân viên trong tổ chức đại lý trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo
hiểm phải có đủ các điều kiện quy định taị khoản 1 điều này.
3. Ngời đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình
phạt tù hoặc bị toà án tớc quyền hành nghề vì vi phạm các tội theo quy định của
pháp luật không đợc ký kết hoạt động đại lý bảo hiểm (Điều 86 ,mục 1, chơng
IV).
Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm bảo hiểm có thể quy định bổ sung các chỉ
tiêu khác để đảm bảo chất lợng và ràng buộc trách nhiệm của đại lý .Ví dụ, quy
định về kinh nghiệm hoặc thành công và ổn định trong các công việc cũ, bằng cấp,
hình dáng khả năng giao tiếp, thái dộ tích cực , tiền ký quỹ,thời gian học việc
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể không cho phép nhân viên của doanh nghiệp làm
đại lý cho chính mình ;hoặc không cho phép tổ chức và cá nhân đợc đồng thời làm
11
đại lý cho doanh nghiệp bảo hiểm khác nếu không đợc sự chấp thuận của doanh
nghiệp bảo hiểm mà đại lý đang làm việc
2. Nhiệm vụ, quyền hạn và quyền lợi
Đại lý phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, có chất lợng các nhiệm vụ đại lý đã
đợc nêu trong hợp đồng đại lý. Nhiệm vụ cụ thể của đại lý bao gồm:
a. Bán các sản phẩm bảo hiểm
Hầu hết đại lý bảo hiểm đều phải thuyết phục các cá nhân, tổ chức có nhu
cầu tham gia bảo hiểm mua các sản phẩm và dịch vụ do doanh nghiệp bảo hiểm
cung cấp. Việc bán bảo hiểm thành công hay thất bại phụ thuộc vào khả năng
thuyết phục ngời khác, vào sự nhanh nhậy, năng động của đại lý. Các phơng pháp
thờng đợc áp dụng là quảng cáo và nhờ khách hàng hiện tại của đại lý giới thiệu.
Đại lý trao đổi với khách hàng các thông tin đầy đủ, chính xác về doanh
nghiệp bảo hiểm và các sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp giải thích về quyền
lợi và nghĩa vụ của khách hàng, t vấn cho khách hàng ký hợp đồng bảo hiểm. Các
doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thể hỗ trợ các đại lý thực hiện nhiệm vụ này nh in
các tờ rơi giới thiệu sản phẩm bảo hiểm, tuyên truyền quản cáo
b. ký kết hợp đồng
Để ký kết hợp đồng bảo hiểm, trớc hết cần xác định các nhu cầu của khách
hàng qua việc phân tích rủi ro. Phân tích rủi ro là phơng pháp để xác định nhu cầu
của khách hàng và có vai trò quan trọng trong việc bán bảo hiểm. Qua phân tích
rủi ro sẽ giúp đại lý bíêt đợc nhu cầu của khách hàng về từng loại sản phẩm. Việc
phân tích rủi ro là cơ sở khoa học giúp đại lý thuyết phục khách hàng mua bảo
hiểm dễ dàng hơn, đánh giá rủi ro ban đầu chính xác hơn để định phí bảo hiểm,
phục vụ cho việc bán bảo hiểm và ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Sau khi khách hàng đã đồng ý mua sản phẩm bảo hiểm, đại lý bảo hiểm phải
cung cấp cho họ đơn bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo
hiểm ( gọi chung là hợp đồng bảo hiểm). Hợp đồng bảo hiểm là bằng chứng thể
hiện khách hàng đã mua sản phẩm của doanh nghiệp bảo hiểm và hợp đồng bảo
hiểm còn hiệu lực thì doanh nghiệp bảo hiểm phải có trách nhiệm chi trả, bồi th-
ờng cho khách hàng.
Đại lý có thể sử dụng mẫu hợp đồng bảo hiểm in sẵn để cung cấp cho khách
hàng và sao lại một bản để gửi cho doanh nghiệp baỏ hiểm. Hoặc doanh nghiệp
bảo hiểm gửi hợp đồng bảo hiểm trực tiếp cho khách hàng hay gửi thông qua đại
lý. Xu hớng hiện nay là áp dụng hình thức này do các doanh nghiệp bảo hiểm
12
muốn cắt giảm chi phí, đặc biệt khi các hệ thống soạn thảo, cấp và quản lý hợp
đồng bảo hiểm đã đợc hiện đại hoá bằng các trang thiết bị điện tử, tin học.
Tuy nhiên nhiệm vụ này của đại lý thờng đợc giới hạn về các điều kiện cụ thể,
về biểu phí, về tầm cỡ rủi ro.
c. Thu phí bảo hiểm, cấp biên lai hoặc các giấy tờ khác theo sự
uỷ quyền và hớng dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm
Các đại lý đợc phép cấp hợp đồng bảo hiểm có thể lập hoá đơn và thu phí bảo
hiểm của khách hàng. Sau khi khấu trừ các khoản hoa hồng phí của mình, đại lý gỉ
số phí bảo hiểm còn lại cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Nếu doanh nghiệp cấp hợp đồng bảo hiểm ngời tham gia bảo hiểm thờng gửi
hoặc thanh toán phí trực tiếp cho doanh nghiệp bảo hiểm mà không cần thông qua
đại lý. Trong hình thức thanh toán này, doanh nghiệp gửi hoá đơn thu phí và gửi
hoa hồng cho đại lý.
Trong trờng hợp đại lý là ngời thu phí, họ sẽ chuyển phí bảo hiểm thu đợc
cho doanh nghiệp bảo hiểm theo một trong ba phơng thức:
+Phơng thức trên cơ sở từng dịch vụ
+Phơng thực thông báo
+Phơng thức dực trên cơ sở tài khoản vãng lai
Theo phơng thức trên sơ sở từng dịch vụ, đại lý không phải thanh toán cho
doanh nghiệp bảo hiểm khi cha thu đựơc phí bảo hiểm của khách hàng. Còn theo
hai phơng thức kia, đại lý buộc phải thanh toán ngay cả khi ngời tham gia bảo
hiểm cha thanh toán phí bảo hiểm cho đại lý.
Để bảo vệ rủi ro tín dụng cho đại lý, trong hợp đồng đại lý có thể có thêm nội
dung: Sau khi đơn bảo hỉêm có hiệu lực 30-40 ngày, các khoản phí mới đến hạn
thanh toán cho doanh nghiệp bảo hỉêm. Trong khoảng thời gian này, đại lý có thể
sử dụng các khoản phí thu đợc để đầu t. Lãi đầu t là một phần thù lao rất có ý
nghĩa đối với đại lý.
d. Chăm sóc khách hàng
Đại lý phải thờng xuyên giữ quan hệ với khách hàng, t vấn kịp thời cho khách
hàng muốn thay đổi hoặc bổ sung vào hợp đồng bảo hiểm nhằm đảm bảo quyền
lợi và thoả mãn nhu cầu của họ . Đồng thời phản hồi ý kiến từ phía khách hàng
cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Nếu đợc doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền, đại lý bảo hiểm còn có nhiệm vụ
quản lý hợp đồng và trả tiền bảo hỉêm. Riêng đối với nhiệm vụ trả tiền bảo hiểm,
13
tất cả các đại lý đều tham gia vào việc giải quyết khiếu nại phát sinh từ các đơn
bảo hiểm do họ bán ra trong một chừng mực nhất định. Vì đại lý bảo hiểm là ngời
trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nên khi tổn thất xảy ra, đối tợng đầu tiên mà ngời
tham gia bảo hiểm tìm đến thờng là đại lý.
Trong một số trờng hợp, đại lý chỉ cung cấp cho ngời tham gia bảo hiểm địa
chỉ liên hệ của phòng giải quyết khiếu nại hoặc nhân viên giải quyết khiếu nại.
Nhng cũng có trờng hợp đại lý thu thập các thông tin cơ bản có liên quan đến
khiếu nại của ngời tham gia bảo hiểm, sau đó chuyển những thông tin này cho
doanh nghiệp bảo hiểm và thu xếp cho nhân viên giải quyết khiếu nại tiếp xúc với
ngời tham gia bảo hiểm.
Ngoài ra, đại lý có thể đợc doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền và phân cấp
giám định một số khiếu nại( thờng đợc giới hạn băng một số tiền nhất định ), sau
đó trực tiếp trả tiền bảo hiểm cho khách hàng. Việc này giúp khiếu nại đợc giải
quyết kịp thời nhanh chóng hơn và giảm đợc các chi phí giám định tổn thất cho
doanh nghiệp bảo hiểm.
e. Thuyết phục khách hàng tái tục hợp đồng bảo hiểm
Đại lý phải thờng xuyên giữ quan hệ với khách hàng để thuyết phục khách
hàng tái tục hợp đồng bảo hiểm, đồng thời cung cấp thông tin về các sản phẩm
mới của doanh nghiệp bảo hiểm. Hơn nữa, đại lý có thể tìm kiếm thêm khách hàng
tiềm năng thông qua mối quan hệ này.
f. Các nhiệm vụ khác
Đại lý có nhịêm vụ hoàn thành các chỉ tiêu về định mức lao động mà doanh
nghiệp bảo hiểm đặt ra nh số lợng hợp đồng bảo hiểm phát hành hàng tháng,
doanh thu phí bảo hiểm, tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng ngoài ra, đại lý bảo hiểm phải
chấp hành các nội quy và quy định của doanh nghiệp bảo hiểm nh quy định về
quản lý và phát hành hợp đồng, báo cáo thống kê, tài chính
Đại lý chỉ đợc hoạt động trong giới hạn và quyền hạn uỷ quyền và phải tự
chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với các hoạt động vợt quá thẩm quỳên cho phép.
Tơng ứng với quyền hạn và trách nhiệm của mình, đại lý có các quyền lợi
nhất định:
Quỳên lợi cơ bản và cũng là mục đích của các đại lý BHNT đợc quy định
trong hợp đồng đại lý là: đợc hởng hoa hồng dựa trên cơ sở số hợp đồng và doanh
thu phí của bản thân theo 1 tỷ lệ nhất định đã đợ thoả thuận và quy định từ trứơc.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét