Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Nâng cao hiệu quả thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội

Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
1.1.2. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị
trường.
TTKDTM là cách thức thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt mà
được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả để chuyển vào
tài khoản của người thụ hưởng mở tại ngân hàng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau
thông qua vai trò trung gian của ngân hàng.
Đặc điểm của TTKDTM
Thứ nhất: Trong TTKDTM, tiền tệ và hàng hoá vận động ngược chiều với
nhau.
Việc thanh toán không phải thực hiện bằng cách trao trả trực tiếp tiền và
hàng giữa người mua và người bán mà được thực hiện bằng cách trích chuyển
đổi từ tài khoản tiền gửi của người mua sang tài khoản tiền gửi của người bán
sau khi hàng hoá đã hoặc đang vận chuyển từ người bán tới người mua.
Thứ hai: TTKDTM sử dụng tiền ghi sổ hay còn gọi là tiền bút tệ.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của TTKDTM. Việc thanh toán được thực hiện
bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người trả tiền chuyển vào tài khoản của
người thụ hưởng tại ngân hàng, kho bạc Nhà nước hoặc bằng cách bù trừ lẫn
nhau.
Thứ ba: Trong TTKDTM, mỗi khoản thanh toán ít nhất có 3 bên tham gia
đó là: người trả tiền, người nhận tiền và các chuyên gia thanh toán.
Vai trò của TTKDTM
TTKDTM đã tạo ra những thuận lợi to lớn cho toàn bộ xã hội, thúc đẩy nền
kinh tế phát triển nhờ những ưu điểm vượt trội của nó so với thanh toán bằng
tiền mặt. TTKDTM ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của nền
kinh tế thị trường.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
5
5
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Thứ nhất: TTKDTM thúc đất sản xuất và lưu thông hàng hoá mở rộng và
phát triển.
TTKDTM góp phần thúc đẩy tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn và
quá trình tái sản xuất xã hội. Khi nền sản xuất phát triển, việc trao đổi hàng hoá
không bị bó hẹp trong phạm vi một vùng, một quốc gia mà diễn ra trên phạm vi
rộng khắp cả thế giới, đồng thời với khối lượng hàng hoá ngày càng tăng lên đã
dẫn đến việc thanh toán bằng tiền mặt trở lên bất tiện và không an toàn. Nếu như
những người tham gia trao đổi giao cho các ngân hàng hay các trung gian tài
chính thanh toán hộ thông qua tài khoản của mình ở ngân hàng nhanh chóng,
thuận tiện, tiết kiệm và đảm bảo an toàn tài sản, từ đó góp phần thúc đẩy quá
trình sản xuất hàng hoá thông suốt, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh hơn.
Thứ hai: TTKDTM tạo nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng Thương mại.
Khi các khách hàng đến mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng sẽ tạo ra
một lượng tiền nhàn rỗi mà ngân hàng có thể sử dụng để kinh doanh tạo lợi
nhuận khi những khách hàng này chưa sử dụng đến. Hơn nữa, thông qua nghiệp
vụ này các NHTM đã thực hiện chức năng “tạo tiền” của mình. Tiền ghi sổ được
tạo ra khi Ngân hàng tiến hành trích chuyển tiền từ tài khoản của người này sang
tài khoản của người khác.
Thứ ba: TTKDTM làm tiết kiệm chi phí lưu thông:
TTKDTM góp phần giảm khối lượng tiền mặt cần thiết trong lưu thông, do
đó tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ, chi phí in ấn, bảo quản, kiểm đếm, bốc rỡ
tiền mặt, chi phí giao nhận tiền mặt, tổ chức điều hoà lưu thông tiền mặt…đặc
biệt với những món thanh toán giá trị lớn, khoảng cách xa.
Thứ tư: TTKDTM là công cụ cạnh tranh hiệu quả giữa các ngân hàng:
Ngày nay, các ngân hàng không cạnh tranh với nhau chỉ bàng các sản phẩm
truyền thống đơn thuần. Các dịch vụ thanh toán được xem như là công cụ cạnh
tranh lành mạnh có hiệu quả bởi lẽ tổ chức tốt công tác TTKDTM sẽ tạo được sự
hấp dẫn đối với khách hàng, thu hút khách hàng đến mở tài khoản, tiền gửi vào
ngân hàng, giao dịch thanh toán qua ngân hàng, từ đó rễ ràng tiếp cận và sử dụng
các sản phẩm khác của ngân hàng, làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
6
6
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Cuối cùng, TTKDTM tạo điều kiện để NHNN quản lý và điều tiết nền kinh
tế và điều hành chính sách tiền tệ của mình. NHNN có thể kiểm soát và điều hoà
khối lượng tiền trong lưu thông một cách rễ ràng hơn nhờ kiểm soát được khối
lượng tiền tín dụng mà các NHTM tạo ra ngày càng nhiều hơn.
Như vậy, TTKDTM giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Đứng trên giác độ
của ngành ngân hàng, nó phản ánh khá trung thực trình độ quản lý, trình độ kỹ
thuật nghiệp vụ của Ngân hàng cũng như sự tín nhiệm của khách hàng. Trong
nội bộ một ngân hàng, TTKDTM không chỉ tác động đến nghiệp vụ thanh toán
mà còn tác động đến các mặt nghiệp vụ khác của ngân hàng như nghiệp vụ tín
dụng. Nếu làm tốt công tác TTKDTM thì sẽ thúc đẩy nghiệp vụ tín dụng phát
triển và ngược lại. Đi đôi với sự phát triển kỹ thuật tin học, ngày nay hoạt động
ngân hàng hiện đại cũng chuyển hướng kinh doanh bằng cách mở rộng các dịch
vụ thay cho kinh doanh chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay là chủ yếu trước
đây. Trong đó, dịch vụ thanh toán đóng vai trò trọng tâm và đặc biệt quan trọng.
Kinh tế hiện đại coi hệ thống thanh toán hạ tầng cơ sở cho sự phát triển.
Nói đến thanh toán trong nền kinh tế tức là nói đến TTKDTM. Muốn có lâu dài
kinh tế – xã hội phát triển toàn diện thì phải có nền móng vững chắc. Trong đó
có một phần là trình độ phát triển của hệ thống thanh toán. Hệ thống thanh toán
phải không ngừng được củng cố và phát triển để có thể đảm đương được trọng
trách đó. Các hệ thống thanh toán cũng phải không ngừng được đa dạng hoá và
công nghệ thanh toán được nâng cao để hoàn thiện, mở rộng các hình thức
TTKDTM cho phù hợp với nền kinh tế luôn vận động và phát triển không
ngừng.
1.2. Quy định chung trong thanh toán không dùng tiền mặt.
Để từng bước tiến gần với trình độ và thông lệ quốc tế trong thanh toán
ngày 09/05/1996 Chính phủ ban hành Nghị định 30/CP về phát hành và sử dụng
séc trong thanh toán và tháng 12/1996 NHNN đã có Thông tư số 07/thanh toán –
NH1 hướng dẫn thực hiện quy chế phát hành và sử dụng Séc. Tháng 12/2003
Chính phủ ban hành Nghị định 159/CP thay thế cho nghị định 30/CP về Séc.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
7
7
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Ngày 20/9/2001 Chính phủ ban hành Nghị định 64/2001/NĐ - CP về hoạt
động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, bãi bỏ Nghị định
91/CP về tổ chức TTKDTM. Thông tư 05 hướng dẫn một số điều của Nghị định
159/CP.
Ngày 26/3/2002 NHNN ban hành Quyết định số 226/2002/QĐ- NHNN về
việc ban hành quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán thay thế cho Quyết định số 22 – QĐ/NH1 ngày 21/02/1994 của
Thống đốc NHNN ban hành thể lệ TTKDTM. Quyết định số 144 - QĐ/NH1
ngày 30/06/1994 của Thống đốc NHNN về điều kiện thực hiện TTKDTM đối
với các quỹ tín dụng nhân dân.
Trên cơ sở hiện đại học hoạt động thanh toán thông qua việc cải tiến đồng
loạt các nghiệp vụ thanh toán của hệ thống ngân hàng, áp dụng rộng rãi công
nghệ thông tin trong thanh toán ở tất cả các cấp ngân hàng thể hiện qua:
Quyết định số 1557/2001/QĐ-NHNN ngày 14/12/2001 của Thống đốc
NHNN ban hành quy chế thanh toán bù trừ điện từ liên Ngân hàng; Quyết định
số 44/2002/QĐ- TTg ngày 21/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng
chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán để hoạch toán và thanh toán vốn giữa các
tổ chức cung ứng dịch vụ và thanh toán thay cho quyết định số 196/TTg ngày
01/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng các dữ liệu thông tin trên
vật mang tin để làm chứng kế toán và thanh toán của các Ngân hàng và các tổ
chức tín dụng; Quyết định số 212/2002/QĐ-NHNN ngày 20/3/2002 Thống đốc
NHNN ban hành quy trình kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán bù trừ điện tử liên ngân
hàng; Quyết định số 309/2002/QĐ-NHNN ngày 09/4/2002 của Thống đốc
NHNN ban hành quy chế thanh toán điện tử liên ngân hàng.
Có thể nói Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện chế độ TTKDTM cho
phù hợp với nền kinh tế tạo điều kiện cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng triển
khai nhiều thể thức, hình thức thanh toán tiên tiến, từng bước hoà nhập với hệ
thống thanh toán theo thông lệ các nước trong khu vực và trên thế giới.
1.2.1. Đối với khách hàng (chủ tài khoản)
1.2.1.1. Điều kiện để thực hiện TTKDTM
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
8
8
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Để tham gia thực hiện giao dịch thanh toán qua ngân hàng, người sử dụng
dịch vụ thanh toán là tổ chức, cá nhân (gọi tắt là khách hàng) phải mở tài khoản
thanh toán tại ngân hàng hoặc các tổ chức khác làm dịch vụ thanh toán.
Khách hàng được quyền lựa chọn ngân hàng để mở tài khoản, được quyền
lựa chọn sử dụng các dịch vụ thanh toán khi tiến hành thanh toán phải thực hiện
thanh toán thông qua tài khoản đã mở theo đúng chế độ quy định và phải trả phí
thanh toán theo quy định của ngân hàng và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
1.2.1.2. Quyền của chủ tài khoản
Chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản thông qua lệnh thanh
toán hợp pháp, hợp lệ. Chủ tài khoản được ngân hàng nơi mở tài khoản tạo mọi
điều kiện để sử dụng tài khoản của mình theo cách có hiệu quả và an toàn nhất.
- Được lựa chọn và sử dụng các dịch vụ thanh toán do Ngân hàng cung cấp
phù hợp với yêu cầu, khả năng và quy định của pháp luật.
- Được uỷ quyền cho người khác sử dụng tài khoản của mình theo quy định.
- Được yêu cầu ngân hàng nơi mở tài khoản thực hiện các lệnh thanh toán
phát sinh hợp pháp, hợp lệ trong phạm vi có số dư và có hạn mức thấu chi (nếu
được phép).
- Được yêu cầu cung cấp các thông tin về những giao dịch thanh toán và có
số dư trên tài khoản của mình.
- Được yêu cầu ngân hàng nơi mở tài khoản đóng, phong toả hoặc thay đổi
cách thức sử dụng tài khoản khi cần thiết.
- Được hưởng lãi xuất cho số tiền trên tài khoản theo mức lãi xuất do ngân
hàng quy định tuỳ theo đặc điểm của chủ tài khoản, số dư tài khoản và phù hợp
với cơ chế quản lý lãi suất của NHNN ban hành trong từng thời kỳ.
1.2.1.3. Trách nhiệm của chủ tài khoản
Trách nhiệm của chủ tài khoản phải đảm bảo có đủ tiền trên tài khoản để
thực hiện các lệnh thanh toán đã lập. Chịu trách nhiệm về việc chi trả vượt quá
số dư có trên tài khoản trừ trường hợp đã có thoả thuận thấu chi với ngân hàng.
Khách hàng là tổ chức tín dụng có nhận thanh toán phải duy trì trên tài khoản
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
9
9
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
tiền gửi tại NHNN số dư bình quân không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc do
NHNN quy định.
- Tự tổ chức hạch toán, theo dõi số dư trên tài khoản, đối chiếu với giấy báo
nợ, giấy báo có hoặc giấy báo số dư tài khoản do ngân hàng nơi mở tài khoản
tiền gửi đến.
- Chịu trách nhiệm về những sai sót hay hành vi lợi dụng, lừa đảo khi sử
dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản do lỗi của mình.
- Tuân thủ các hướng dẫn của ngân hàng nơi mở tài khoản về việc lập các
lệnh thanh toán và sử dụng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh
toán qua tài khoản sử dụng, luân chuyển, lưu trữ chứng từ giao dịch, đảm bảo
các biện pháp an toàn trong thanh toán do ngân hàng quy định.
- Thông báo kịp thời với ngân hàng mở tài khoản khi phát hiện thấy sai sót,
nhầm lẫn trên tài khoản của mình hoặc tài khoản của mình bị lợi dụng. Cung cấp
thông tin chính xác khi yêu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán hoặc trong quá trình
sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
- Không được cho thuê, cho mượn tài khoản, hoặc sử dụng tài khoản của
mình cho các giao dịch thanh toán đối với những khoản tiền đã có bằng chứng về
nguồn gốc bất hợp pháp.
1.2.2. Đối với ngân hàng
Là trung gian thanh toán giữa người mua và người bán, ngân hàng và các tổ
chức làm dịch vụ thanh toán phải làm đúng vai trò trung gian thanh toán của
mình.
1.2.1.2. Quyền của ngân hàng
- Khi nhận được giấy đăng ký mở tài khoản của khách hàng, ngân hàng có
trách nhiệm giải quyết việc mở tài khoản tiền gửi của khách hàng nay trong ngày
làm việc. Sau khi đã chấp nhận việc mở tài khoản, ngân hàng thông báo cho
khách hàng biết số hiệu tài khoản, ngày bắt đầu hoạt động của tài khoản.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
10
10
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
- Ngân hàng được chủ động trích tài khoản tiền gửi cử khách hàng và có
quyền từ chối thực hiện các lệnh thanh toán theo đúng quy định.
- Trong trường hợp phát hiện người sử dụng tài khoản vi phạm các quy định
hiện hành hoặc thoả thuận đã có quyền không thực hiện các yêu cầu sử dụng
dịch vụ thanh toán của khách hàng, giữ lại tang vật và thông báo ngay với cấp có
thẩm quyền xem xét xử lý.
- Phong tỏa, đóng, chuyển đổi hoặc tất toán dư tài khoản theo quy định.
- Được quy định các biện pháp đảm bảo an toàn trong thanh toán tùy theo
yêu cầu và đặc thù hoạt động.
- Yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin có lien quan khi sử dụng dịch vụ
thanh toán theo quy định.
- Phạt do khách hàng vi phạm các quy định về sử dụng tài khoản đã thỏa
thuận hoặc đã quy định.
1.2.2.2. Trách nhiệm của ngân hàng
Trách nhiệm của ngân hàng hướng dẫn khách hàng thực hiện đúng các quy
định về lập hồ sơ mở tài khoản, lập chứng từ giao dịch và các quy định có liên
quan trong việc sử dụng tài khoản, ngân hàng có trách nhiệm phát hiện và điều
chỉnh kịp thời các tài khoản mở sai hoặc sử dụng chưa chính xác.
- Thực hiện đầy đủ, kịp thời các lệnh thanh toán, các yêu cầu sử dụng tài
khoản của khách hàng phù hợp với quy định hoặc thỏa thuận giữa ngân hàng và
khách hàng. Kiểm soát các lệnh thanh toán của khách hàng, đảm bảo đúng lập
đúng thủ tục quy định, hợp pháp, hợp lệ và khớp với các yếu tố đã đăng ký, cung
ứng đầy đủ, kịp thời các dịch vụ phương tiện thanh toán cần thiết phục vụ nhu
cầu giao dịch của khách hàng qua ngân hàng.
- Thực hiện hạch toán theo các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên cơ sở các
chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lệ nhận được. Điều chỉnh các khoản mục bị hạch
toán sai, hạch toán không đúng bản chất hoặc không phù hợp với nội dung sử
dụng của chủ tài khoản theo quy định.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
11
11
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
- Gửi đầy đủ, kịp thời các giấy báo Nợ, giấy báo Có, bản sao sổ tài khoản,
giấy báo số dư tài khoản theo yêu cầu của người sử dụng tài khoản. Thông tin
kịp thời về những giao dịch thanh toans và số dư tài khoản cho khách hàng theo
định kỳ hoặc đột xuất khi có yêu cầu.
- Bảo mật các thông tin có liên quan đến tài khoản và giao dịch trên tài
khoản của khách hàng theo quy định.
- Bảo quản, lưu trữ hồ sơ mở tài khoản và các chứng từ giao dịch qua tài
khoản theo đúng cách thức và thời hạn do Thống đốc NHNN quy định.
- Niêm yết công khai các quy định về mở và sử dụng tài khoản.
- Chịu trách nhiệm về những thiệt hại, vi phạm, lợi dụng trên tài khoản của
khách hàng do lỗi của mình.
1.3. Khái quát về có chế thanh toán không dùng tiền mặt
Nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay chưa đạt đến trình độ phát triển cao
vì thế, việc sử dụng TTKDTM còn chưa phổ biến, chủ yếu là trong các doanh
nghiệp lớn. Trong điều kiện đó, cơ chế TTKDTM của nước ta có những nội dung
riêng phù hợp với trình độ kinh tế. Trong phần này em xin nêu khái quát về các
thê thức TTKDTM và các phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng theo
quy định của pháp luật hiện nay ở Việt Nam.
1.3.1. Các phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng
1.3.1.1. Sự cần thiết của thanh toán vốn giữa các ngân hàng
Chức năng thanh toán của ngân hàng đang phát triển với những mô thức
phong phú, đa dạng và ngày càng chiếm giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động
kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia. Sự nhanh chóng thuận tiện an toàn và hiệu quả
trong thanh toán sẽ đảm bảo chác các dòng vốn trong nền kinh tế – xã hội được
tập trung và phân phối nhanh, đáp ứng có hiệu quả cho sự phát triển kinh tế.
Ngược lại, sự chậm trễ, ách tắc trong thanh toán là biểu hiện của nền kinh tế trì
trệ kém phát triển.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
12
12
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Cùng với các nghiệp vụ khác của ngân hàng, cung cấp các dịch vụ
TTKDTM là một trong những hoạt động chính của Ngân hàng và ngày càng tạo
ra những tiện tích cho con người sử dụng. TTKDTM là sự chuyển dịch giá trị từ
tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của bên trả tiền sang tài khoản tiền gửi không kỳ
hạn của bên thụ hưởng.
Trong trường hợp bên trả tiền và bên thụ hưởng đều mở tài khoản tại một
đơn vị Ngân hàng thì việc thanh toán của hai chủ thể sẽ không ảnh hưởng đến
vốn của ngân hàng và việc kiểm soát sẽ không gặp phải khó khăn lớn. Tuy nhiên,
việc thanh toán giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường không chỉ
bó hẹp trong phạm vi một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán mà còn được
thực hiện giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ với nhau. Với việc TTKDTM giữa
hai khách hàng mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn ở hai chi nhánh ngân hàng
khách hệ thống sẽ có sự chuyển dịch tiền tương ứng theo. Ngân hàng phục vụ
bên trả tiền và ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng không những phải thực hiện
thanh toán theo yêu cầu của khách hàng mà phải thực hiện thanh toán vốn với
nhau một cách sòng phẳng, chính xác và kịp thời, đồng thời phải có biện pháp
thích hợp để kiểm soát tính xác thực của các khoản thanh toán nhằm đảm bảo an
toàn tài sản. Đây là công việc nội bộ giữa các ngân hàng bắt nguồn từ yêu cầu
thanh toán của chủ tài khoản trả tiền.
Khi TTKDTM ngày càng phát triển và tạo ra những tiện ích cho khách hàng
thì nghiệp vụ thanh toán vốn giữa các ngân hàng càng phải có sự thay đổi theo
để đảm bảo cho sự chính xác, kịp thời.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu và xác lập phương thức, quan hệ thanh toán
giữa các ngân hàng là hết sức cần thiết trong hoạt động ngân hàng. Ngoài ra,
công việc thanh toán vốn giữa các ngân hàng còn xuất phát từ nhu cầu tập trung
và điều hòa vốn thuộc ngân sách nhà nước của các ngành và nhu cầu điều hòa
của chính các ngân hàng, từ yêu cầu của nghiệp vụ ngân hàng như hạch toán lãi,
điều chuyển tiền mặt, tài sản…
1.3.1.2. Các phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
13
13
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Do quan hệ thanh toán rất đa dạng và xuất phát từ các tổ chức hạch toán ở
mỗi hệ thống ngân hàng: Hệ thống NHNN, hệ thống NHNN quốc doanh, hệ
thống NHNN cổ phần nên trong thanh toán vốn giữa các ngân hàng áp dụng
nhiều phương thức khác nhau.
1.3.1.2.1. Phương thức thanh toán liên hàng trong cùng hệ thống
Thanh toán liên hàng là phương thức thanh toán vốn giữa các chi nhánh
ngân hàng trong cùng một hệ thống ngân hàng.
Thực chất của thanh toán liên hàng là việc chuyển tiền từ ngân hàng này
đến ngân hàng kia để phục vụ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ của hai khách
hàng (mua và bán) khi cả hai khách hàng không cùng mở tài khoản tại một ngân
hàng, hoặc là chuyển cấp vốn, điều hòa vốn trong nội bộ một hệ thống ngân
hàng.
Tùy theo đặc điểm của từng hệ thống ngân hàng, để tiến hành tổ chức hệ
thống thanh toán liên hàng một cách thích hợp. Chẳng hạn có những hệ thống
ngân hàng tổ chức hệ thống thanh toán liên hàng toàn hệ thống, nhưng có một số
hệ thống ngân hàng còn thiết lập thêm hệ thống thanh toán giữa các chi nhánh
ngân hàng trong cùng một tỉnh, một thành phố và thực hiện kiểm soát, đối chiếu
liên hàng nội tỉnh theo sự ủy quyền của cấp Trung ương.
Phương thức này được phát triển qua rất nhiều giai đoạn theo sự phát triển
của ngành ngân hàng và tình hình ứng dụng tin học trong ngân hàng.
* Giai đoạn thanh toán liên hàng truyền thống
Việc ứng dụng tin học chưa cao, các ngân hàng xử lý, giao nhận chứng từ,
kiểm soát và đối chiếu chứng từ bằng công nghệ thủ công. Do vậy phương thức
kiểm soát và đối chiếu đã chuyển từ kiểm soát tập chung, đối chiếu tập chung
sang kiểm soát tập chung, đối chiếu phân tán.
+ Phương thức “Kiểm soát tập chung, đối chiếu phân tán”: Theo phương
thức này, các chi nhánh trực tiếp chuyển tiền cho nhau, trung tâm thanh toán làm
nhiệm vụ kiểm soát tất cả các chuyển tiền sau đó lập hồ sơ đối chiếu gửi các chi
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
14
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét