Hóa-Nghệ An và Trung du Bắc Bộ có tiềm năng tốt về thời gian ép mía(>150 ngày/năm)
và chữ đường(>10 CCS)².
Tính chung cả tiềm năng về năng suất,chữ đường và thời gian ép thì các vùng phù hợp
nhất với trồng mía là Duyên hải Nam Trung Bộ,Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.Các vùng
ĐBSCL và Thanh Hóa-Nghệ An có tiềm năng khá.Trong khi đó,các vùng ĐBSH,Hà
Tĩnh-Quảng Bình-Thừa Thiên Huế và miền núi-trung du phía Bắc không thực sự có điều
kiện tự nhiên-khí hậu thích hợp để phát triển cây mía với quy mô lớn.
1.2.Tình hình sản xuất mía
a.Giai đoạn 1980-1994.
Vào đầu những năm 80,diện tích mía của cả nước tăng đạt 162.000 ha vào năm 1984.Sau
đó diện tích mía giảm dần,chủ yếu là do giá đường thế giới giảm mạnh,đường nhập khấu
nhiều và thậm chí có lúc vượt quá nhu cầu tiêu dùng trong nước,làm giá đường và giá
mía trong nước giảm mạnh.Vì vậy,nhiều nông dân đã giảm diện tích trồng mía.Tốc độ
tăng diện tích mía bình quân trong 10 năm 1980-1990 là 1,77%/năm.
Đầu thập niên 90,sản xuất mía đã được phục hồi dần và có tốc độ phát triển khá hơn
giai đoạn trước,những năm 1990-1994 đạt tốc độ tăng diện tích bình quân hàng năm là
6,23%.Năm 1994,cả nước có 166,6 nghìn ha,tập trung chủ yếu ở các vùng như:đồng
băng Sông Cửu Long,Duyên hải miền Trung,khu 4 cũ và Đông Nam Bộ.
Trước năm 1994,bộ giống mía trồng ở nước ta hầu hết là giống mía cũ,đã thoái
hóa,năng suất thấp.Trong giai đoạn 1980-1990,năng suất mía bình quân cả nước chưa
bao giờ vượt quá mức 40 tấn/ha,tốc độ tăng năng suất thâp,ở mức 0,4%.Từ năm 1990
đến 1994,năng suất mía trung bình của cả nước cải thiện đáng kể,tăng từ 41,3 tấn/ha lên
45,1 tấn/ha với tốc độ tăng là 2,3%.Tuy nhiên ở những vùng đất xấu,năng suất mía cây
vẫn chỉ đạt là 30-32 tấn/ha.Do kĩ thuật canh tác lạc hậu,trình độ thâm canh thấp,chất
lượng mía kém,chữ đường thấp(dưới 9 CCS)
Trong giai đoạn 1980-1990,sản lượng mía của cả nước tăng thấp,bình quân
2,18%/năm.Sau đó sản lượng mía tăng nhanh hơn trong những năm từ 1990-1994,bình
quân 8,71%/năm,chủ yếu nhờ tăng diện tích hơn năng suất.Năm 1994,sản lượng mía cả
nước đạt 7,5 triệu tấn.
b.Giai đoạn từ năm 1995 đến nay
5
Trong 5 năm thực hiện Chương trình 1 triệu tấn đường,diện tích và năng suất mía trên cả
nước đã có tốc độ tăng vọt.Nếu như năm 1994,cả nước chỉ có xấp xỉ 170 nghìn ha thì
đến niên vụ mía năm 1999/2000,diện tích mía của cả nước lên tới 344,2 nghìn ha,tăng
bình quan 15,2%/năm.Năng suất mía bình quân cả nước đạt 51,6 tấn/ha vào năm cuối
cùng của Chương trình mía đương,tăng đáng kể với mức xấp xỉ 45 tấn/ha của năm 1994.
Nhờ tăng trưởng nhanh cả về năng suất và diện tích,sản lượng mía cây tăng đột biến
đạt 17,8 triệu tấn vào niên vụ 1999/2000,gấp 2,4 lần sản lượng cao nhất trước khi có
chương trình mía đượng.Tốc độ tăng sản lượng bình quân đạt 18,8 %/năm,thấp hơn đôi
chút so với bông(19,7%/năm),nhưng cao hơn nhiều so với lạc(1,6 %) và đậu
tương(3,1%).So với các cây công nghiệp lâu năm,tốc độ tăng sản lượng mía cây cũng
chỉ thấp hơn so với cà phê(22%),nhưng cao hơn nhiếu so với cây cao su(10,8%) và
chè(9%).
Tuy nhiên,sự tăng trưởng này là không bền vưng.Trong ba niên vụ mía sau khi kết thúc
Chương trình mía đương,diện tích trồng mía giảm xuồng 300 nghìn ha trong năm
2000/2001,tiếp tục giảm xuông 291 nghìn ha trong niên vụ 2001/2002 và chỉ tăng đôi
chút lên 315 nghìn ha trong vụ 2002/03.Năng suất mía cây cũng có xu hướng chững lại
trong 3 niên vụ vừa qua,chỉ đạt 49,8 tấn/ha vào năm 2000,49,2 tần/ha trong năm 2001 và
49,8 tấn/ha trong niên vụ 2004/2005.Trong trong các vùng nguyên liệu được quy hoạch
và chăm sóc tốt hơn của các nhà máy chế biến đương,năng suất mía bình quân vẫn còn
rất thấp.Niên vụ 2002/2003,năng suất mía trong vùng quy hoạch của Công ti mía đường
Lam Sơn đạt mức cao nhất cả nước là 60 tấn/ha.Phần lớn vùng mía quy họch của các
nhà máy đường như Bình Thuân,Trị An,Quảng Nam,Quảng Bình có năng suất mía bằng
và mía 40 tấn/ha.
Do diện tích trồng mía giảm và năng suất mía có dấu hiệu chững lại,tổng sản lượng
mía cây của cả nước đã giảm mạnh xuống xấp xỉ 15 triệu tấn năm 2000/2001,còn 14,3
triệu tấn niên vụ 2003/2004 và tăng lên 15,7 triệu tấn trong niên vụ 2004/2005.
Năm 2006,diện tích mía của cả nước ước đạt 266 nghìn ha,năng suất đạt 55,3
tấn/ha,sản lượng khoảng 14,7 triệu tấn.So với năm 2001,dienẹ tích chỉ bằng 88%,sản
lượng đạt khoảng 98%,năng suất tăng 11%.Diện tích và sản lượng đạt cao nhất năm
2002 với 320 nghìn ha và trên 17 triệu tấn,đạt thấp nhất năm 2001 với 291 tấn và trên
6
14,3 triệu tấn mía.Năng suất năm 2005 cao nhất với 55,3 tấn/ha và năm thấp nhất 2001
là 49,2 tấn/ha.So với 1 số nước trong khu vực như Thái Lan,Philippin,Indonexia thì năng
suất mía của Việt Nam kém từ 8-18 tấn/ha,còn so với Úc,Braxin thì năng suất mía của
Việt Nam chỉ bằng 60-65%.
1.3.Đặc điểm vùng nguyên liệu và giống mía
Trên phạm vi cả nước,mía được trồng tập trung ở 4 vùng chính là:
+Bắc Trung Bộ với diện tích 49,9 nghìn ha(chiếm 17,1% tổng diện tích mía của cả nước)
tập trung ở Thanh Hóa(27,8 nghìn ha),Nghệ An(19,5 nghìn ha);
+Duyên hải Nam Trung Bộ với diện tích 53,2 nghìn ha(chiếm 18,3% tổng diện tích mía
của cả nước) chủ yếu Phú Yên(19,5 nghìn ha),Khánh Hòa(15,9 nghìn ha),Quảng Ngãi và
Bình Định(xấp xỉ 7 nghìn ha);
+Đông Nam Bộ với diện tích 56,8 nghìn ha(chiếm 19,5%) tập trung ở Tây Ninh(30,5
nghìn ha),Đồng Nai(11,8 nghìn ha);
+Đồng bằng Sông Cửu Long với diện tích 76,1 nghìn ha(chiếm 26,1%).Các tỉnh có diện
tích trồng mía lớn như Long An(16,5 nghìn ha),Cần Thơ(15,4 nghìn ha),Bến Tre và Sóc
Trăng(khoảng trên 12 nghìn ha) và Trà Vinh(6,9 nghìn ha)
Sự phân bố các vùng trồng mía cho thấy sản xuất mía ở Việt Nam rải rác ở mọi vùng
trên cả nước kể cả những vùng có điều kiện tự nhiên và khí hậu không thuận lợi cho
trồng mía công nghiệp như ĐBSH hay miến núi phía Bắc cũng có tới hàng nghìn ha
mía.Những vùng trồng mía có tiềm năng lớn nhất đã phần nào tận dụng được lợi thế về
tự nhiên và khía hậu,những năm gần đây tại các vùng này,các vùng nguyên liệu lớn tập
trung đang dần được hình thanh,đặc biệt là 3 vùng như:Thanh Hóa-Nghệ An,Quảng
Ngãi-Bình Định-Phú Yên-Khánh Hòa và Tây Ninh-Long An với diện tích trồng mía
chiếm tới một nửa tổng diện tích mía của cả nước.
Ở Việt Nam,cây mía được trồng ở 3 chân ruộng chính là:
-Đất đồi và ruộng bậc thang thấp.Đất đồi dốc thường là vùng mới canh tác,được khai
hoang,cày bừa theo đường cong,chia thành từng cấp.
-Ruộng trồng lúa.Chân ruộng lúa đã được canh tác không xây dựng kết cấu hạ tầng,kể cả
hệ thống tiêu nước.
-Chân ruộng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long.
7
Tính đến năm 2002,diện tích trồng mía chủ yếu là đất đồi và đất ruông.Diện tích đất đồi
chiếm 46%,diện tích đất ruộng chiếm 44%.
Quy hoạch và đặc điểm đất trồng ở các vùng cũng rất khác nhau.Đất đồi dốc thường là
vùng mới canh tác và được khai khoang,cày bừa theo đường cong,chia thành từng cấp và
có hệ thống tiêu.Chân ruộng lúa đã được canh tác không theo quy hoạch,đặc biệt là
thường không có hệ thống tiêu nước.
Bảng 1.1.Phân loại đất trồng mía vùng nguyên liệu các NMĐ
I.Năm 2003-2004
1.Đất ruộng 8512 12.5 11817 14.5 101553 81.7 121882 44.27
2.Đất đồi 44150 66.3 64466 79.1 15040 12.1 126057 45.79
3.Đất bãi 14428 21.2 5216 6.4 7707 6.2 27361 9.94
Tổng cộng 68100 100 81499 100 124300 100 275300 100
II.Dự kiến năm 2006
1.Đất ruộng 21440 18.59 13361 18.69 87568 85.06 113454 40.57
2.Đất đồi 65841 57.1 51597 72.19 9885 9.6 126638 45.29
3.Đất bãi 28020 24.3 6515 9.12 5500 5.34 39535 14.14
Tổng cộng 115301 100 71473 100 102953 100 279627 100
Nguồn:Niên giám thống kê và Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp
Về giống,ngoài các loại giống cũ trong nước thì Việt Nam nhập 1 số giống mới từ một
số nước như Đài Loan,Trung Quốc,Cu Ba,Úc,Ấn Độ và Pháp.Trong những năm
qua,Việt Nam đã nhập nội và chọn lọc được hơn 10 giống có năng suất,có chữ đường
Loại đất
Miền Bắc Miến Trung và
Tây Nguyên
Miền Nam Cả nước
DT(ha) Tỷ
lê(%)
DT(ha) Tỷ
lê(%)
DT(ha) Tỷ
lê(%)
DT(ha) Tỷ
lê(%)
8
cao từ Đài Loan,Trung Quốc,Cuba,Pháp,Thái Lan,Úc và Ấn Độ.Nhiều giống cho thấy
năng suất vượt trội so với các giống mía cũ.Chỉ tính riêng trong 5 năm thực hiện chương
trình mía đường,chúng ta đã nhập và thu thập trên 11.000 tấn với 20 giống mía từ các
nước khác nhau.
Mỗi năm diện tích mía trồng mới khoảng 100.000-110.000 ha(trồng tái canh và trồng
mở rộng).Nhu cầu về giống mỗi năm khoảng 1 triệu tân.Lực lượng sản xuất và cung ứng
giống mía hiện nay bao gồm:
-Các điểm giữ giống mía của các hộ nông dân ở ngay trong vùng nguyên liệu
-13 trại,cơ sở nhân giống mía của các nhà máy đường(như Lam Sơn,Nông Công,Quảng
Ngãi,Bình Định,Tuy Hòa,Bình Thuận,Hiệp Hòa,Bình Dương,Bourbon TN,Thô Tây
Ninh,Nước Trong,La Ngà,Cần Thơ).
-Một số nông lâm trường,trại giống trực thuộc sở NN-PTNT và cơ sở sản xuất của các
tổ chức chính trị xã hội ở trong vùng nguyên liệu
Các cơ sở trên mỗi năm cung cấp 150.000-180.000 tấn giống mía các loại,chỉ đáp ứng
được 15% nhu cầu giống cho sản xuât,trong đó giống mía mới có năng suất chữ đường
cao là 15 đến 20 nghìn tân.
2.Về chế biến đường ở Việt Nam.
2.1.Tăng trưởng của công nghiệp chế biến đường.
a.Trước năm 1995
Tính đến năm 1994,cả nuwocs có 12 nhà máy chế biến đường công nghiệp với tổng
công suất 10.300 tấn mía/ngày(TMN).Một số nhà máy có công suất 1500-2000 TMN do
các doanh nghiệp nhà nước trục thuộc Trung ương quản lý như Lam Sơn,Quảng
Ngãi,Hiệp Hòa,Bình Dương,La Ngà với các máy móc thiết bị tương đối hiện đai.Hầu hết
các nhà máy đường còn lại do doanh nghiệp Nhà nước thuộc các tỉnh quản lý chỉ có
công suất thiết dưới 500 TMN/nhà máy với công nghệ chế biến lạc hậu.
Do vùng nguyên liệu chưa đáp ứng đủ mía cho nhà máy,nên hầu hết các nhà máy chỉ
huy động công suất ép dưới 70%.Công suất ép của những nhà máy công suất nhỏ(dưới
1000 TMN) do địa phương quản lý rất thấp như Việt Trì,Vạn Điểm,Vĩnh Trụ chỉ đạt
dưới 30%.Nguyên nhân chủ yếu là do máy móc thiết bị đã quá cũ,lạc hậu,thiết bị thay
thế thiếu đồng bộ,không có vùng nguyên liệu ổn định,phải thu gom nguyên liệu ở xa.
9
b.Từ năm 1995.
Kể từ khi thực hiện chương trình mía đường vào năm 1995,số lượng các nhà máy chế
biến đường tăng lên một cách nhanh chóng.
Bảng 1.2 – Tình hình xây mới và mở rộng nhà máy đường.
Niên vụ Số nhà
máy mới
Số nhà máy
mở rộng
Tổng số nhà
máy
Tổng công
suất (TMN)
Công suất bình
quân (TMN\ nhà
máy)
1994/95 5 12 12.700 1.058
1995/96 2 14 15.200 1.068
1996\97 10 24 32.600 1.358
1997\98 11 35 51.800 1.480
1998/99 6 1 41 69.050 1.684
1999/00 2 1 43 74.050 1.722
2000\01 1 1 44 78.200 1.777
2001\02 3 44 79.700 1.811
2002\03 2 44 82.950 1.885
Nguồn:Theo Báo cáo của các Nhà máy đường.
Như vậy tính đến niêm vụ 2002/03 cả nước có 44 nhà máy với ttổng công suất thiết kế
là 82.950 TMN, với công suất bình quân đạt xấp xỉ 1900 TMN\ nhà máy. Bên cạnh sự
gia tăng về số lượng nhà máy,quy mô bình quân của các nhà máy mới(hoặc mở rộng)
cũng tăng đáng kể,từ 1086 TMN/nhà máy niên vụ 1995/1996 lên 1885 TMN/nhà máy
như hiện nay.
Các nhà máy chế biến đường chủ yếu sản xuất 2 sản phẩm chính là đường trắng và
đường tinh luyện,trong đó có 40% đường tinh luyện RE.Một số nhà máy sản xuất đường
thô nhưng chỉ là sản phẩm trung gain được dùng làm nguyên liệu chế biến đường tinh
luyện.
Kết thúc vụ 2002/03,các nhà máy đã ép được 11,54 triệu tấn mía,đạt 93% công suất
thiết kế.Đây là niên vụ có hệ số tận dụng công suất thiết kế cao nhất cho đến nay,tăng
đáng kể so với 50% niên vụ 1997/98,64% niên vụ 1998/99 và 70% của 2 niên vụ 00/01
và 01/02.
Sản lượng đường công nghiệp của cả nước trong những năm qua tăng nhanh,đạt mức
tăng trưởng bình quân 32,7% trong giai đoạn 1994-2003,thậm chí đạt 50% trong giai
đoạn 1995-2000.
10
Ta biết,những năm sau khi kết thúc Chường trình mía đường kết thúc vào đầu những
năm 2000,với 44 nhà máy đường thì đến năm 2005 chỉ còn lại 37 nhà máy đường với
tổng công suất trên 80 nghìn TMN do một số nhà máy đã ngừng sản xuất,bán,phá sản
theo quyết định 28/TTg của Thủ tướng Chính phủ.Ngoài ra,có hàng trăm cơ sở sản xuất
đường thủ công ở Nam Trung Bộ,Đồng bằng Nam Bộ với tổng công suất khoảng 250-
300 nghìn tấn đường kính/năm.Tính chung tổng công suất chế biến đường cả nước(công
suất và thủ công có thể đạt 1,4 triệu tấn đường kính/năm).
Trong 5 năm qua,sản xuất đường 2005 đạt 1082 nghìn tấn(trong đó đường kính công
nghiệp là 902 nghìn tấn).So với năm 2001,tăng 132 nghìn tấn,riêng đường công nghiệp
thì tăng lên 252 nghìn tấn.Năm 2003 và 2004 là 2 năm tổng sản lượng đạt trên 1,2 triệu
tấn trong đó đường công nghiệp đạt trên 1 triệu tấn.So với chỉ tiêu kế hoạch 2001-2005
trình Đại hội Đảng IX,sản lượng đường thực hiện từng năm từ 2001-2004 đều đạt và
vượt kế hoạch(chỉ năm 2005,đạt 90% so với kế hoạch).Tính chung 5 năm,tổng sản lượng
đường tăng 1,8%,riêng đường công nghiệp tăng 5,9% so với mục tiêu kế hoạch.
Về cơ cấu sản phẩm,các nhà máy đường công nghiệp chủ yếu sản xuất đường kính
trắng(RS) chiếm 80-85%,đường luyện (RE) chiếm từ 15-20%.Chất lượng các loại này
ngày càng đáp ứng theo tiêu chuẩn Việt Nam,được thị trường chấp nhận hơn trước rất
nhiều.
Về các nghành công nghiệp sử dụng phế phẩm phụ liệu của sản xuất đương,đã có một
số nhà máy triển khai như chế biến banh kẹo,cồn,rượu,phân vi sinh,ván ép từ bã mía,…
và rất nhiều nhà máy có nhu cầu phát triển,nhưng thời gian qua do khó khăn về vốn nên
bị chậm lại.
Bảng 1.3. Sản xuất mía đường theo vùng năm 2005 như sau:
Đơn vị:DT:1000ha;NS:tấn/ha;SL:1000 tấn;Công suất:Tấn mía/ngày;
Tổng
số
Tr.Du
&MB
ĐB
SHồng
Bắc
Tr.Bộ
Nam
Tr.Bộ
Tây
Nguyên
ĐNBộ ĐBS
CLong
Tổng DT mía 265.7 21.9 2.49 53.7 51.8 26.5 45.5 64
Năng suất 55 48 51 53 45 45 46 72
Sản lượng mía 14.729 1037 128.3 2856 2320 1198 2566 4628.4
Sản lượng
Đường
1050 40.7 283 201 64 137.6 325
11
Trong
đó:Đường CN
900 40.7 283 141 64 138 235
Đường
TC
150 60 90
Công suất NMĐ 83950 4600 23250 18300 6500 31300 16900
Nguồn:Bộ NN&PTNT
2.2.Cơ sở sản xuất tiểu thủ công
Bên cạnh 37 nhà máy công nghiệp(tính đến năm 2005),Việt Nam còn có các xửơng sản
xuất đường thủ công có mặt ở khắp nơi,đặc biệt tập trung là ở Miền Nam.Sản phẩm
đường thủ công cũng rất đa dạng,gồm:đường bát,đường phèn,đường vàng ly tâm,đường
trằng ly tâm,đường mặt,…
Trong giai đoạn 1997-2003,sản xuất đường thủ công ổn định,ước tính có khoảng 200-
260 nghìn tấn(quy về đường trắng) hàng năm.Các lò đường thủ công hoạt động mạnh
trong niên vụ 2003/04 với sản lượng ước tính đạt 300.000 tấn.Tuy nhiên trong niên vụ
2004/05,sản xuất đường thủ công giảm mạnh so với niên vụ trước,ước tính chỉ còn xấp
xỉ 150.000 tấn,bằng một nửa so với 300.000 nghìn tấn của hai niên vụ trứơc đây.Nguyên
nhân chủ yếu là do giá đường trong nước xuống thấp nên nhiều lò thủ công đóng cửa
hoặc chạy chỉ là để cầm chừng.
Trong niên vụ 1999/00,cả nước sản xuất đước khoảng 1.014.000 tấn đường,lần đầu
tiên vượt mức 1 triệu tấn đường,gồm 474.000 tấn đường trắng(chiếm khoảng 46,7%) ,
290.000 tấn đường luyện(28,6%) và 250.000 tấn đường thủ công(chiếm khoảng
24,7%).Trong niên vụ 2001/02,tổng sản lượng đường cả nước đạt khoảng 1.073 nghìn
tấn,tăng 59 nghìn tấn hay 5,8% so với niên vụ trước đó.Trong đó,đường công nghiệp đạt
773 nghìn tấn,chiếm khoảng 72%,đường thủ công đạt 300 nghìn tấn,chiếm 28% tổng sản
lượng cả nước.Trong niên vụ 2004/05,tổng sản lượng đường cả nước ước tính đạt được
1,4 triệu tấn,trong đó đường công nghiệp chiếm tới 87%.
3.Thị trường tiêu thụ đường.
3.1.Thị trường nội địa.
Ta biết,nhu cầu tiêu thụ đường của một quốc gia thường chụi tác động của một số nhân
tố chính như độ co giãn của cầu theo mức thu nhập;tốc độ gia tăng dân số;giá đường và
các sản phẩm thay thế đường;truyền thống văn hóa và năng lực tụ cung cấp đường,v.v…
12
+Độ co giãn của cầu theo thu nhập: Theo thống kế,ở các quốc gia đang phát triển,tăng
thu nhập dẫn đến tăng tiêu thụ đường.Trong khi đó,thu nhập và mức tiêu thụ đường ở
các quốc gia phát triển có quan hệ tỉ lệ nghịch do lo ngại về sức khỏe,chế độ ăn kiêng và
sự xuất hiện của các chất ngọt thay thế khác.Trong những năm gần đây,ngay tại khác
nước đang phát triển,ý thức tiêu dùng của người dân cũng đã thay đổi đáng kể cũng do
lo ngại về sức khỏe,đặc biệt là bệnh tiểu đường.Chính phủ Thái Lan cũng đã khuyến cáo
người dân không nên sử dụng quá nhiều đường vì có thể làm tăng nguy cơ mắc phải
bệnh tiểu đường.Ngay ở Việt Nam,vì nhiều lý do khác nhau,một số người mắc bệnh tiểu
đường cũng tăng nhanh chống và do đó một số ít người tiêu dùng ở các thành phố lớn
cũng bắt đầu lo ngại về việc sử dụng quá nhiều đường có thể gây hại cho sức khỏe.
+Mức tăng dân số:Tốc độ tăng dân số thường là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng
đến lượng tiêu thụ ở các quốc gia đang phát triển.Tốc độ tăng dân số ở Việt Nam đã
giảm đáng kể trong những năm gần đây và đang có xu hướng giảm trong những năm
tới,mặc dù vậy,mưc tăng dân số cơ học vẫn cao trong nhiều thập kỷ tới.
+Giá đường và sản phẩm thay thế đường: Tác động của giá đường ăn đến mức tiêu thụ
được thể hiện qua độ co giãn của cầu théo giá.Hiện nay,nhiều nước trên thế giới có xu
hướng tăng sử dụng các chất ngọt thay thế đường như HFS hay saccharine trong các
nghành chế biến thực phẩm vì giá rẻ hơn nhiều so với đường.
+Truyền thống văn hóa và khả năng tự cung ứng đường:Tiêu thụ đường trực tiếp tại
các nước phát triển có xu thế giảm do thay đổi thói quen tiêu dùng.Trái lại,tiêu thụ
đường gián tiếp tăng lên thông qua các sản phẩm như bánh,kẹo,mứt,đồ hộp và nhất là đồ
uống.Do mức tiêu thụ đường gián tiếp vẫn còn khá thấp do hạn chế về thu nhập,cùng với
sự phát triển kinh tế,người dân vẫn có khả năng tăng mức tiêu thụ đường.
Mức tiêu thụ bình quân toàn thế giới là 22kg/người/năm,khác nhâu nhiều giữa các
nước.Các nước phát triển,bình quân tiêu thụ là 30-40 kg đường/người/năm.Các nước
Châu Á bình quân tiêu thụ khoảng 14kg/người/năm.Trong khi đó,bình quân tiêu thụ
đường của Việt Nam tương đối thấp,chỉ khoảng 12-13kg/người/năm,thấp hơn so với
30.3 kg ở Thái Lan,50kg ở Malayxia và Úc,15kg ở Ấn độ nhưng cao hơn mức 7kg ở
Trung Quốc.
13
Mức tiêu thụ đường ăn ở Việt Nam đã tăng trưởng khá nhanh trong 10 năm qua.Theo
Điều tra về mức sống dân cư Việt Nam trong năm 1992/93,mức tiêu thụ đường bình
quân đầu người trong năm 1992 là khoảng 5 kg/người/năm với tổng lượng tiêu thụ
khoảng 340 nghìn tấn.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,bình quân trong năm 2002
cả nước tiêu thụ khoảng 86 nghìn tấn/tháng,tương đương với khoảng 1 triệu tấn
đường/năm,năm 2005 cả nước tiêu thụ khoảng 98 nghìn tấn đường/tháng Năm 2006,
ước tính mức tiêu thụ đường công nghiệp đạt khoảng 100 nghìn/tháng,tương đương với
khoảng 1,2 triệu tấn/năm.
Như vậy trong vòng 10 năm(1996-2002),lượng đường tiêu thụ cả nước tăng trung bình
là 11,8%/năm. Đây là mức tăng trưởng rất cao so với các nước khác trên thế giới.Theo
số liệu của Trung tâm Kinh tế Quốc tế Úc(CIE),tốc độ tăng tiêu thụ đường toàn cầu
trong 20 năm qua là khoảng 2%/năm,riêng khu vực Châu Á là khoảng 3,6%/năm,nhưng
chủ yếu là tăng trong thập kỷ 1990.Trong vài năm trở lại đây,tốc độ tăng nhu cầu đã có
dấu hiệu giảm dần.Theo đánh giá của các chuyên gia,nhu cầu tiêu thụ đường của Việt
Nam hiện nay tăng khoảng 6-7% hàng năm cho đến năm 2006.
Các số liệu điều tra hộ gia đình ở Việt Nam cho thấy mức tiêu thụ đường tương đối
khác nhau giữa các vùng trong cả nước, ở miền Nam cao gấp rưỡi mức tiêu thụ bình
quân đầu người so với miền Bắc.
Thị trường đường Việt Nam có thể được phân chia theo mục đích sử dụng như
sau:Thị trường tiêu thụ trực tiếp và thị trường công nghiệp chế biến(tức thị trường tiêu
thụ gián tiếp).Hiện nay thì chưa có số liệu nào đáng tin cậy và chính xác về tầm quan
trọng của mỗi loại thị trường như thế nào.Theo điều tra của dự án do Cơ quan phát triển
Pháp tài trợ,trên khoảng 60% lượng đường được tiêu thụ trưc tiếp tại các hộ gia
đình,phần còn lại dưới 40% được tiêu thụ gián tiếp thông qua các sản phẩm chế biến.Tuy
nhiên,theo đánh giá của Hiệp hội mía đường,mức tiêu thụ của công nghiệp chế biến hiện
nay chiếm khoảng 60% trong khi tiêu thụ trực tiếp chỉ chiếm khoảng 40%.Như vậy,nếu
tình cả đường thủ công(chủ yếu được tiêu thụ trực tiếp),hai thị trường này có quy mô
tương đương nhau.Bên cạnh đó,trong những năm vừa qua,tốc độ tăng trưởng của thị
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét