+ Bên A được quyền u cầu Bên B cung cấp dịch vụ trả lương tự động qua
tài khoản theo quy định của Hợp đồng này.
- Bước 2:
Bên B cam kết cung cấp cho Bên A dịch vụ trả lương tự động vào tài khoản
cho nhân viên của Bên A mở tại Bên B căn cứ vào danh sách chi lương và lệnh chi
lương mà Bên A cung cấp cho Bên B.
- Bước 3:
Hàng tháng bên B phải trả lương vào tài khoản cho nhân viên.
Hàng tháng, Bên A có nghĩa vụ phải thanh tốn cho Bên B tồn bộ phí sử
dụng dịch vụ này chậm nhất là vào ngày Bên B thực hiện trả lương tự động vào tài
khoản cho nhân viên của Bên A theo quy định của Hợp đồng.
II. Tình hình trả lương qua tài khoản tại Việt Nam - thuận lợi và
khó khăn:
1. Chỉ thị của thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện trả lương qua tài khoản
tại Việt Nam:
a. Nội dung chính của Chỉ thị:
Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ra chỉ thị số 20/2007/CT-TTg u
cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính Phủ, UBND các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương triển khai việc trả lương qua các tài khoản cho các
đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Chỉ thị này nhằm thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung
ương Đảng khố X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với cơng tác phòng, chống
tham nhũng, lãng phí; Luật phòng, chống tham nhũng cũng như triển khai Đề án
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thanh tốn khơng dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt theo quyết định số 291/2006/QĐ-TTg ngày 29-12-2006.
Các đối tượng được trả lương qua tài khoản gồm: Cán bộ, cơng chức, viên
chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; sĩ quan, hạ sĩ quan, qn nhân chun
nghiệp, cơng nhân quốc phòng, cơng nhân và lao động theo hợp đồng thuộc Bộ
quốc phòng và Bộ Cơng an và các đối tượng khác hưởng lương từ ngân sách Nhà
nước.
Việc trả lương qua tài khoản thực hiện theo hai bước:
Bước 1: Từ ngày 1-1-2008, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc
Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo các
đơn vị trực thuộc chủ động phối hợp với các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh tốn
tiếp tục triển khai và mở rộng việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng nêu
trên làm việc trong các cơ quan Trung ương, các cơ quan, đơn vị thuộc UBND các
cấp tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố, thị xã,
khu chế xuất, khu cơng nghiệp đã và đang triển khai việc này.
Bước 2: Từ ngày 1-1-2009, tiếp tục mở rộng việc trả lương qua tài khoản cho
các đổi tượng trên ở những đơn vị chưa triển khai trên phạm vi tồn quốc, nơi các
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh tốn có khả năng đáp ứng việc trả lương qua tài
khoản.
b. Lộ trình triển khai Chỉ thị 20 của Chính phủ :
- Ngày 11/10/2007, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký ban hành
Chỉ thị số 05/2007/CT-NHNN về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng
hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo Chỉ thị số 20 của Thủ tướng Chính phủ
(Chỉ thị 05) trong đó có u cầu các Ngân hàng chi nhánh Tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương; các Vụ, Cục, đơn vụ trực thuộc NHNN, các tổ chức cung ứng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
dịch vụ thanh tốn phối hợp với các Bộ ngành liên quan và UBND tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương để triển khai thực hiện Chỉ thị 20.
- Ngày 24/10/2007 Ngân hàng Nhà nước đã có Cơng văn số 11390/NHNN-BTT
u cầu các Ngân hàng Thương mại Nhà nước, các Ngân hàng Thương mại Cổ
phần và Cơng ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện báo cáo thực trạng và năng lực cung
cấp dịch vụ trả lương qua tài khoản cho đến thời điểm hiện nay và kế hoạch phát
triển dịch vụ trả lương qua tài khoản từ nay đến năm 2010 nhằm sớm có số liệu
tổng hợp, cung cấp cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ,
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm triển khai Chỉ thị
20 một cách hiệu quả, theo đúng lộ trình quy định.
- Ban Thanh tốn (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) là đơn vị đầu mối triển khai
thực hiện Chỉ thị trả lương qua tài khoản đã làm việc với Kho bạc Nhà nước TW
nắm bắt việc triển khai Chỉ thị 20 của KBNN, kế hoạch triển khai của KBNN đối
với các đơn vị có các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước (các đơn vị mở
tài khoản tại KBNN) và làm việc với Chi nhánh NHNN Hà Nội nắm bắt tình hình
triển khai Chỉ thị 20 trên địa bàn Hà Nội và các điều kiện thuận lợi và khó khăn để
đưa ra các giải pháp thực hiện có hiệu quả.
- Theo lộ trình từ 1/1/2008 sẽ triển khai Chỉ thị 20 tại địa bàn TP Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh, vì vậy để nắm tình hình thực tế và có giải pháp triển khai thích hợp
NHNN (Ban Thanh tốn) sẽ đi cơng tác thực tế tại một số Bộ, ngành, UBND thành
phố Hà Nội, UBND TP Hồ Chí Minh và một số tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
tốn tại 2 địa bàn trên.
- Ngân hàng Nhà nước (Ban Thanh tốn) thường xun phối hợp với các cơ
quan báo chí truyền thơng tun truyền về Chỉ thị 20. Đề nghị Chi nhánh NHNN
trên địa bàn TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tham mưu cho UBND TP Hà Nội và
TP Hồ Chí Minh phối hợp với các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh tốn, các cơ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
quan thơng tấn báo chí trên địa phương đẩy mạnh cơng tác tun truyền và phối
hợp trong q trình triển khai Chỉ thị 20.
2. Thuận lợi khi thực hiện trả lương trả lương qua tài khoản tại Việt Nam:
Trả lương qua tài khoản là một hình thức hạn chế các giao dịch bằng tiền mặt
nên sẽ giúp giảm các chi phí liên quan đến thanh tốn bằng tiền mặt trong nền
kinh tế như in ấn, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm… tiền mặt; giảm bớt chi phí
đầu tư vào các cơng cụ phòng chống tệ nạn tiền giả; tăng cường an ninh và trật tự
an tồn xã hội. Khi các đơn vị, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước và các đối
tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước sử dụng dịch vụ thanh tốn tiền lương
qua tài khoản ngân hàng sẽ giúp minh bạch hố thu nhập cá nhân từ ngân sách
nhà nước, góp phần phòng chống tham nhũng, chống lãng phí; đồng thời giúp
tăng cường kiểm sốt chi tiêu ngân sách và quản lý tốt việc thực hiện chính sách
thuế thu nhập.
Việc trả lương theo tài khoản đối với những đối tượng được trả lương theo
ngân sách nhà nước cũng như đối với doanh nghiệp, mang lại nhiều lợi ích bởi
việc trả lương qua tài khoản sẽ tích lũy được một phần vốn tồn đọng trong tài
khoản cá nhân. Đây là một nguồn vốn quan trọng góp phần hỗ trợ các nguồn vốn
khác tạo ra một nguồn vốn vững chắc để Ngân hàng tiếp tục đầu tư vào xây dựng
phát triển kinh tế -xã hội.
Hơn nữa, dịch vụ thanh tốn tiền lương qua tài khoản sẽ tạo cơ hội thúc đẩy
các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh tốn, chủ yếu là các ngân hàng thương mại
(NHTM) phát triển mạnh mẽ các dịch vụ tài chính - ngân hàng hiện đại khơng
dùng tiền mặt, phát triển các hoạt động ngân hàng bán lẻ hỗ trợ tích cực mở rộng
và phát triển thương mại điện tử góp phần thúc đẩy cơng nghiệp hố, hiện đại hố
đất nước, thúc đẩy hội nhập quốc tế của nền kinh tế nói chung, của ngành Ngân
hàng nói riêng, sau khi Việt Nam gia nhập WTO tháng 11/2006. Phát triển các
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
dịch vụ, tiện ích thanh tốn khơng dùng tiền mặt trên cơ sở, nền tảng dịch vụ trả
lương qua tài khoản sẽ giúp các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh tốn đa dạng hố
các hoạt động kinh doanh vừa truyền thống vừa hiện đại, phân tán rủi ro và hứa
hẹn mang lại lợi nhuận đáng kể cho các ngân hàng, các doanh nghiệp thương mại,
thu hút vốn vào hệ thống ngân hàng, tạo thuận lợi cho việc điều hành chính sách
tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Nhìn chung, với việc trả lương qua tài khoản, cả ngân hàng, cơ quan trả
lương và cơng chức đều có lợi. Lợi ích đó được thể hiện rõ qua các mặt sau:
a. Về mặt kinh tế - xã hội
Trả lương qua tài khoản là một hình thức hạn chế các giao dịch bằng tiền
mặt nên sẽ giúp giảm các chi hí liên quan đến thanh tốn bằng tiền mặt trong
nền kinh tế như in ấn, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm… tiền mặt; giảm bớt chi
phí đầu tư vào các cơng cụ phòng chống tệ nạn tiền giả; tăng cường an ninh và
trật tự an tồn xã hội. Khi các đơn vị, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước và
các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước sử dụng dịch vụ thanh tốn
tiền lương qua tài khoản ngân hàng sẽ giúp minh bạch hố thu nhập cá nhân từ
ngân sách nhà nước, góp phần phòng chống tham nhũng, chống lãng phí; đồng
thời giúp tăng cường kiểm sốt chi tiêu ngân sách và quản lý tốt việc thực hiện
chính sách thuế thu nhập.
Việc trả lương theo tài khoản đối với những đối tượng được trả lương
theo ngân sách nhà nước cũng như đối với doanh nghiệp nó mang lại nhiều lợi
ích bởi việc trả lương qua tài khoản sẽ tích lũy được một phần vốn tồn đọng
trong tài khoản cá nhân. Đây là một nguồn vốn quan trọng để hỗ trợ các nguồn
vốn khác tạo ra một nguồn vốn vững chắc để Ngân hàng tiếp tục đầu tư vào xây
dựng phát triển kinh tế -xã hội.
Hơn nữa, dịch vụ thanh tốn tiền lương qua tài khoản sẽ tạo cơ hội thúc
đẩy các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh tốn, chủ yếu là các ngân hàng thương
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
mại (NHTM) phát triển mạnh mẽ các dịch vụ tài chính - ngân hàng hiện đại
khơng dùng tiền mặt, phát triển các hoạt động ngân hàng bán lẻ hỗ trợ tích cực
mở rộng và phát triển thương mại điện tử góp phần tích cực cơng nghiệp hố,
hiện đại hố đất nước, thúc đẩy hội nhập quốc tế của nền kinh tế nói chung của
ngành Ngân hàng nói riêng, sau khi Việt Nam gia nhập WTO tháng 11/2006.
Phát triển các dịch vụ, tiện ích thanh tốn khơng dùng tiền mặt trên cơ sở, nền
tảng dịch vụ trả lương qua tài khoản sẽ giúp các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
tốn đa dạng hố các hoạt động kinh doanh vừa truyền thống vừa hiện đại, phân
tán rủi ro và hứa hẹn mang lại lợi nhuận đáng kể cho các ngân hàng, các doanh
nghiệp thương mại, thu hút vốn vào hệ thống ngân hàng, tạo thuận lợi cho việc
điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Nhìn chung, với việc trả lương qua tài khoản, cả ngân hàng, cơ quan trả
lương và cơng chức đều có lợi. Lợi ích đó được thể hiện rõ qua các mặt sau:
b.Với các ngân hàng thương mại:
Đối với các NHTM cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khoản, thì lợi ích
mà họ thu được khơng phải là phí. Bởi vì hiện tại và chắc chắn trong nhiều năm
tới các NHTM cũng chưa thu phí. Song lợi ích lớn nhất mà các NHTM thu được
chính là số dư tiền gửi trên tài khoản khi người hưởng lương chưa sử dụng đến.
Các ngân hàng có thể sử dụng số dư tiền gửi đó để cho vay và đầu tư trong khi
chỉ phải trả lãi suất khơng kỳ hạn. Mặc dù tỷ lệ sử dụng để cho vay và đầu tư thì
khơng lớn trong tổng số dư tiền gửi bình qn của các tài khoản chi trả lương
nhưng chắc chắn số dư bình qn rất lớn, (theo ước tính trên cả nước có thể lên
tới hàng chục nghìn tỷ đồng), nên lượng vốn mà các NHTM có thể huy động
được là tương đối lớn.
Mặt khác, trả lương qua tài khoản cũng gắn liền với việc sử dụng thẻ rút
tiền ATM, điều này đã đem lại “cơ hội vàng” cho các ngân hàng trong việc phát
triển dịch vụ thẻ. Theo thống kê, tính đến hết tháng 8/2007, cả nước có khoảng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6,5 triệu tài khoản thẻ các loại do 20 ngân hàng phát hành và thanh tốn, được
sử dụng ở trên 4.000 máy rút tiền tự động đã lắp đặt trong cả nước. Trong số đó
thẻ thanh tốn nội địa chiếm 92,5%; còn lại là 7,5% thẻ tín dụng quốc tế, tương
đương với khoảng 500.000 tài khoản thẻ. Đây là một tín hiệu đáng mừng chứng
tỏ việc triển khai trả lương qua tài khoản đã có một nền tảng tốt để thực hiện.
Hơn nữa, nếu các ngân hàng thực hiện tốt các dịch vụ chăm sóc khách
hàng thì khơng chỉ có lợi từ thanh tốn qua tài khoản mà họ sẽ có lượng khách
tiềm năng cho các dịch vụ khác như gửi tiết kiệm, vay vốn, tín dụng
c. Đối với đơn vị trả lương:
Lợi ích lớn nhất mà trả lương qua tài khoản đem lại cho các đơn vị trả
lương là tiết kiệm được nhân lực, tiết kiệm hàng loạt các chi phí khác.
Đối với kho bạc nhà nước ngồi việc tiết kiệm được thời gian, còn có thể
giảm biên chế phòng tài vụ, tránh được những phiền hà có thể xảy ra trong q
trình trả lương trực tiếp cho các đơn vị.
Đối với doanh nghiệp, khơng phải cử nhân viên ngân quỹ, bảo vệ, tài xế
lên ngân hàng rút tiền. Doanh nghiệp còn giảm được chi phí bảo quản tiền tại
đơn vị, có thể giảm biên chế phòng tài vụ, tránh được những xung đột khơng
đáng có giữa những người nhận lương và chi lương.
Cũng chính nhận thấy hiệu quả của dịch vụ này mà các đơn vị tiên phong
chính là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, đặc biệt là các doanh
nghiệp có đơng cơng nhân, đã chủ động phối hợp với các NHTM thực hiện từ
nhiều năm qua. Bởi vì tiết kiệm các chi phí trong chi trả lương cũng đồng nghĩa
với việc nâng cao sức mạnh cạnh tranh, vì có thể giảm chi phí, giảm giá thành,
tăng lợi nhuận.
d. Đối với người nhận lương qua tài khoản:
Lợi ích cuả việc trả lương theo tài khoản đối với những đối tượng được
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
trả lương theo ngân sách nhà nước thể hiện ở những mặt sau:
Thứ nhất, khi nhận lương qua tài khoản, cán bộ cơng nhân viên chức
khơng cần đến phòng kế tốn tài vụ, từ đó tránh được những phiền hà khi nhận
lương. Nếu đi cơng tác xa, vẫn có thể nhận được tiền lương, thơng qua việc giao
dịch với ngân hàng hoặc giao dịch với máy ATM. Với cách thức này, cán bộ
hưu trí cũng khơng phải xếp hàng đợi và nhận được lương ở nhiều thời điểm
khác nhau. Họ cũng khơng bị khống chế về thời gian, có thể nhờ người thân
nhận thay mà khơng cần giấy uỷ quyền.
Các cán bộ cơng nhân viên chức được quyền u cầu doanh nghiệp của
mình trả lương vào tài khoản ngân hàng mà họ đang giao dịch. Mỗi ngân hàng
có những thế mạnh khác nhau nên có thể lựa chọn những ngân hàng có dịch vụ
thanh tốn tốt, có mạng lưới rộng khắp, có nhiều máy ATM để mở tài khoản.
Thứ hai, có thể rút tiền theo u cầu chi trả của mình bằng cách tới máy
ATM gần nhà, hạn chế tiền rách và giả. Ví tiền điện tử này sẽ giúp cơng nhân
viên chức khơng phải đi đâu cũng mang tiền mặt bên mình, vừa thuận tiện, an
tồn lại giúp các cán bộ, nhất là cán bộ trẻ tiết kiệm được.
Thứ ba, dùng thẻ ATM, người nhận lương còn được hưởng các quyền lợi
khác: số tiền chưa dùng đến trong tài khoản được tính lãi khơng thời hạn (từ
0,25 - 0,3%/tháng, tuỳ theo mỗi ngân hàng), nếu khơng có nhu cầu chi tiêu,
khách hàng có thể chuyển sang gửi tiết kiệm để hưởng lãi suất cao hơn; nhiều
ngân hàng cho vay trước một tháng tiền lương hưu với lãi suất 0,05%/ngày mà
khơng cần phải làm thủ tục tín chấp hay thế chấp; …
Thứ tư, khi có tài khoản khách hàng còn có thể được ngân hàng cung cấp
các dịch vụ tiện ích khác như: thanh tốn qua mạng, mua hàng bằng thẻ tại các
đơn vị kinh doanh, đổi ngoại tệ, thanh tốn các hóa đơn tiền điện, nước, điện
thoại, truyền hình cáp, mua thẻ cào
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3. Những hạn chế trong thực hiện trả lương qua tài khoản t Việt Nam:
Mặc dù thực hiện trả lương qua tài khoản là một xu thế tất yếu đối với Việt
Nam trên con đường phát triển, lợi ích mang lại từ dịch vụ này là một điều khơng
thể phủ nhận, nhưng căn cứ vào tình hình hiện tại của nước ta, việc thực hiện trả
lương qua tài khoản vẫn còn tồn tại khơng ít những điểm bất cập:
Thứ nhất, là việc thiếu hụt nghiêm trọng hệ thống rút tiền tự động – ATM.
Theo thống kê, hiện nay trên phạm vi cả nước với 4 ngân hàng có trang bị máy rút
tiền tự động ATM, thì cũng chỉ mới có 4000 máy ATM tập trung chủ yếu ở một số
đơ thị lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nằng, Bình Dương
và các khu cơng nghiệp tập trung. Nhiều huyện, thị xã vẫn chưa có hệ thống ATM,
nếu có thì cơng suất sử dụng cũng rất thấp. Bình qn mỗi huyện chưa có được 1
máy ATM. Trong khi, bình qn mỗi xã phải có ít nhất 3 máy thì mới có thể thuận
tiện cho chi trả lương qua tài khoản và rút tiền tại máy ATM. Tính đến ngày 31-12-
2007, cả nước có 32 ngân hàng tham gia phát hành thẻ với 130 thương hiệu thẻ; 8,3
triệu thẻ được sử dụng; gần 4.300 máy ATM và gần 23.000 điểm chấp nhận thanh
tốn bằng thẻ (POS). Ngay cả Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
chiếm gần 50% tài khoản thẻ trên thị trường cũng chỉ có khoảng 1.000 máy ATM.
Với số lượng máy ATM và điểm POS như vậy, trung bình 20.000 – 30.000 người
mới có 1 máy ATM. Vì máy ít, người nhiều nên hiện tượng trục trặc, q tải diễn ra
thường xun. Vì vậy, các chun gia ngân hàng ước tính, để đáp ứng việc trả
lương cho một bộ phận cán bộ, cơng chức thơng qua tài khoản vào thời điểm
1/1/2008 thì hệ thống ngân hàng cần có ít nhất 12.000 - 15.000 máy ATM trên cả
nước, được lắp đặt tại các trung tâm kinh tế, thương mại, trung tâm chính trị, văn
hố, khu dân cư đơng người, các khu vui chơi, giải trí, trường học, bệnh viện, trụ sở
các cơ quan, cơng sở lớn, đơn vị qn đội lớn, cơ quan cơng an đơng qn số…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Bên cạnh đó, một hạn chế nữa phải kể đến là sự hoạt động thiếu ổn định của
máy ATM. Đó là tình trạng máy ATM bị trục trặc kỹ thuật, bị nghẽn đường truyền,
hoặc tạm ngừng phục vụ do hết tiền, thậm chí nuốt thẻ, mất dữ liệu và làm mất tiền
của khách hàng…Thực tế trong thời gian qua, Vietcombank là NHTM có kinh
nghiệm nhất về dịch vụ thẻ, song hệ thống máy ATM của ngân hàng này cũng
khơng thể tránh khỏi những lỗi đã nêu trên. Vào các ngày cao điểm, như nghỉ lễ,
nghỉ tết, thứ bảy hay Chủ nhật… khách hàng phải xếp hàng chờ đợi rất lâu để rút
tiền tại máy ATM khơng phải là hiếm gặp. Thậm chí, gặp phải trục trặc do bị lỗi
thẻ, máy nuốt mất thẻ phải đợi chờ làm lại thẻ mất 3-4 ngày, gây rất nhiều bất tiện
cho khách hàng. Hơn nữa, khách hàng rút tiền tại các máy ATM có thể còn gặp
phải những “sự cố” dở khóc dở cười, như là phải nhận tiền rách từ các máy ATM,
hay nạp thẻ vào rồi mà máy vẫn khơng nhả tiền trong khi tài khoản khách hàng vẫn
bị trừ,
Thứ hai, hệ thống máy ATM của các ngân hàng chưa tạo thành một mạng
lưới liên kết chặt chẽ. Các ngân hàng mạnh ai nấy làm hoặc chỉ liên kết nhỏ lẻ chứ
chưa thành một hệ thống liên kết thống nhất. Bước vào một khách sạn, nhà hàng,
người ta dễ dàng thấy 3 - 4 máy ATM hoặc POS của nhiều ngân hàng khác nhau.
Tính đến hết tháng 8-2007, cả nước có khoảng 6,5 triệu tài khoản thẻ các loại do 20
NHTM phát hành và thanh tốn, được sử dụng tại trên 4.000 máy ATM. Số lượng
ATM so với người dân như vậy là q ít. Hơn nữa, số lượng máy ATM lại chủ yếu
chỉ đặt tại TP.HCM và Hà Nội. Số máy ATM này lại khơng được liên kết với nhau
mà chia thành 4 mạng ATM, hoạt động độc lập với nhau. Một số địa điểm có nhiều
ATM của các NHTM khác nhau, một số khu vực thì lại khơng có ATM để phục vụ
khách hàng. Từng NHTM chưa thể đầu tư nhiều ATM do chi phí đầu tư và vận
hành khá lớn, dẫn đến phạm vi phục vụ rất hạn chế. Đối với tồn hệ thống ngân
hàng, việc từng NHTM tự đầu tư ATM của riêng mình sẽ tạo ra hệ thống thanh
tốn thẻ manh mún và chồng chéo. Điều này đã dẫn đến tình trạng “lãng phí”, ví
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét