Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Chống bán phá giá là gì

Chương 1: Chống bán phá giá là gì?
Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, mang lại
nhiều lợi ích và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên cơ sở một nền thương
mại và đầu tư công bằng. Nhưng trong khi các quốc gia thành viên WTO đang phải dẫn dỡ
bỏ các rào cản thuế quan và thuế hoá các rào cản phi thuế quan thì các biện pháp tự vệ, thuế
chống phá giá và thuế đối kháng vẫn ngày càng được nhiều quốc gia phát triển áp dụng một
cách triệt để, nhất là, nhiều nước đang phát triển và kém phát triển phải đối mặt với tình
trạng hàng hoá nhập khẩu bán phá giá tại thị trường của mình, và gánh chịu những thiệt hại
cho sản xuất trong nước. Việc tìm các biện pháp bảo đảm thương mại công bằng - biện
pháp chống bán phá giá, đang được rất nhiều nước quan tâm, kể cả các nước phát triển và
đang phát triển. Tuy nhiên không phải nước nào cũng áp dụng biện pháp chống bán phá giá
một cách đúng đắn, đôi khi mang tính chủ quan áp đặt mang tính chính trị Hàng hoá của
Việt Nam cũng đã gặp phải những biện pháp chống bán phá giá mà nước sở tại áp dụng. Sự
việc đó cũng đã ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hoá của chúng ta. Trong bài này tôi xin đề
cập tới vấn đề “Hiệp định chống bán phá giá của WTO và Luật chống bán phá giá của Hoa
kỳ. Những thách thức, khó khăn có liên quan trong việc xuất khẩu hàng hoá của Việt
Nam.”.
1. Khái niệm:
Định nghĩa bán phá giá là: giá xuất khẩu của một mặt hàng thấp hơn giá của mặt
hàng cùng loại mà các nước xuất khẩu cung ứng cho người tiêu dùng của nước mình, tức
thâm nhập vào thị trường một nước khác với giá thấp hơn giá thông thường. Nếu một công
ty xuất khẩu sản phẩm với giá thấp hơn giá cả bình thường trong nước, thì sản phẩm đó đã
là "bán phá giá".
2. Nội dung hiệp định chống bán phá giá của WTO.
1. Thiết lập nguyên tắc cơ bản về việc thu thuế chống bán phá giá. Chỉ có thể áp
dụng biện pháp đánh thuế chống bán phá giá sau khi tiến hành điều tra theo quy định của
điều 6 của Hiệp định GATT (hiệp định chung về thuế quan và thương mại).
2. Bản quy tắc còn làm rõ thế nào là bán phá giá. Việc bán phá giá có gây thiệt hại
nghiêm trọng cho các bên ký kết khác hay không và thiệt hại ở mức độ nào
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
Ở đây có khái niệm giá thông thường. WTO đưa ra 3 cách xác định giá thông
thường: một là giá tiêu thụ thông thường trong nước của nước xuất khẩu hàng hoá; hai là
giá xuất khẩu của nước xuất khẩu sang nước thứ ba; ba là giá của các chi phí cấu thành.
Thông thường, WTO xác định giá thông thường theo cách thứ nhất, trong trường hợp
không áp dụng được thì mới áp dụng cách xác định thứ 2, thứ 3.
Quy tắc đã định nghĩa chi tiết về "công nghiệp trong nước": đó là tổng thể hoặc đa
số các nhà sản xuất trong một nước có các sản phẩm cùng loại.
3. Cam kết về giá cả là những đảm bảo tự nguyện của nhà xuất khẩu thay đổi giá
xuất khẩu hoặc giá bán phá giá để loại bỏ những ảnh hưởng gây thiệt hại cho nước nhập
khẩu. Nhưng sự đảm bảo này phải dựa trên những điều tra của nước nhập khẩu, hơn nữa
không được bắt buộc nước xuất khẩu đưa ra đảm bảo, nhưng công tác điều tra vẫn có thể
tiến hành.
4. Kim ngạch của thuế chống bán phá giá không được vượt quá mức chênh lệch do
bán phá giá. Việc thu thuế chống bán phá giá hoặc các biện pháp chống bán phá giá tạm
thời khác chỉ áp dụng đối với hàng hoá đã được vận chuyển vào lãnh thổ nước nhập khẩu.
Khi thu thuế phải được tiến hành bình đẳng không phân biệt đối xử, phải thu thuế từng kiện
hàng nhập khẩu qua điều tra thấy gây thiệt hại do bán phá giá (kim ngạch là quy định về
mặt giá trị thể hiện bằng tiền tệ đối với các loại hàng hóa xuất hay nhập khẩu của 1 nước
hay 1 khu vực trong 1 khoảng thời gian nhất định).
5. Những hành động chống bán phá giá đại diện cho nước thứ ba phải được nước
thứ ba đưa ra lời mời hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan.
Theo WTO, để xác định giá sản phẩm có bán phá giá hay không, cần tuân thủ những
quy tắc sau đây:
Thứ nhất: Lấy cơ sở giá bán hàng hoá cùng loại tại thị trường nội địa của nước xuất
khẩu. Khi không thể sử dụng giá này, phải sử dụng giá mà nước này xuất khẩu sang nước
thứ ba làm chuẩn, hoặc xác định bằng cách cộng giá thành sản xuất với các chi phí hợp lý
và lợi nhuận.
Hai là: Hàng chuyển khẩu thường được so với giá tương ứng của nước xuất khẩu.
Ba là: Nếu không có giá xuất khẩu hoặc giá này bị cho là không đáng tin, thì có thể
lấy giá bán hàng nhập khẩu để xác định giá xuất khẩu.
Quản Trị Doanh Nghiệp
2
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
Bốn là: Giá xuất khẩu và giá bán nội địa của nước xuất khẩu phải được so sánh ở
cùng một trình độ thương mại.
“Việt Nam hiện vẫn chưa sử dụng hữu hiệu các biện pháp phòng vệ thương mại để
bảo vệ các ngành sản xuất trong nước như các nước khác đã làm, mặc dù các công cụ
phòng vệ đều đã có”.
3.Cơ chế chống bán phá giá của Mỹ.
Đoạn 800-801 của Đạo luật chống bán phá giá của Mỹ quy định: “Bật cứ người nào
thực hiện hay giúp đỡ thực hiện việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Mỹ một cách phổ
biến và có hệ thống để bán những hàng hóa đó ở mức giá thấp hơn đáng kể giá thực tế thị
trường, hay giá bán buôn của những hàng hóa đó tại thị trường nơi nó được sản xuất hay tại
thị trường nước ngoài khác mà các hàng hóa đó thường được xuất khẩu sau khi đã cộng giá
bán buôn, chi phí vận tải, thuế, các chi phí và lệ phí cần thiết khác đều bị coi là vi phạm
pháp luật nếu những hành vi kể trên được thực hiện với dự định phá hoại, hay gây tổn thất
một ngành của Mỹ, hay ngăn cản việc thiết lập một ngành tại Mỹ, hay tạo sự kiềm chế hoặc
độc quyền về hàng hóa đó tại Mỹ”.
Các thủ tục hành chính áp dụng cho việc chống phá giá được quy định trong Đạo
Luật chống phá giá 1916; Đạo Luật chống phá giá 1921; Mục VII của Đạo Luật thuế 1930.
Thủ tục chủ đạo đó là: thay vì dựa trên hành động của chính phủ hay cá nhân trước
tòa án , luật chống phá giá cho phép thực hiện các thủ tục tố tụng. Cụ thể là những người
đại diện cho một ngành ở Mỹ có thể lấy các lá phiếu biểu quyết và trình cho Bộ Thương
Mại Mỹ .
DOC sẽ quyết định có tồn tại việc phá giá hay không và ITC có trách nhiệm tìm
kiếm bằng chứng và chứng minh sự tồn tại các tổn thức. Yêu cầu về việc có dự định hay
không có dự định từ phía bên bị không quan trọng. Nếu ITC phát hiện ra tồn tại phá giá và
tổn thức phá giá, thuế chống phá giá sẽ được áp dụng. Bên bị sẽ không phải chịu các trừng
phạt dân sự hay hình sự nào.
Quản Trị Doanh Nghiệp
3
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
Chương 2: Những thách thức và khó khăn có liên quan
trong việc xuất khẩu hàng hóa của việt nam.
Việc bán phá giá đang diễn ra ngày càng nhiều ở hầu hết các quốc gia kể cả các
quốc gia phát triển và đang phát triền. Mặc dù là nước đang phát triển ở trình độ thấp,
nhưng vài năm trở lại đây hàng hóa của Việt Nam đã dần thâm nhập vào các thị trường
khác nhau và các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã bị nước ngoài tiến hành điều tra bán phá
giá tới 8 lần (1994-2002). Trong số 8 vụ các doanh nghiệp Việt Nam bị áp đặt thuế chống
phá giá. Vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa của Việt Nam tại Mỹ (năm 2002) được coi là
một vụ kiện có quy mô lớn và có rất nhiều áp đặt bất công từ phía Mỹ. Các ngành đã từng
bị kiện phá giá của Việt Nam là tỏi, giày dép, bột ngọt, cá tra, cá basa, bật lửa gas.
Canada kiện Việt Nam hai vụ liên quan tới giày dép và tỏi. Thuế chống phá giá áp
dụng cho tỏi của Việt Nam là 1,48 CAĐ/kg.
EU kiện Việt Nam hai vụ liên quan tới giày dép và bột ngọt. Mức thuế chống phá
giá đối với bột ngọt là 16,8%. Riêng đối với mặt hàng giày dép EU đã không đánh thuế
chống bán phá giá đối với Việt Nam vì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam thấp
hơn các quốc gia khác là Trung Quốc, Inđônêxia và Thái Lan.
Ba Lan kiện Việt nam một vụ về bật lửa gas. Thuế chống phá giá là 0,09 EUR/chiếc.
Mỹ kiện Việt Nam một vụ về cá tra, cá basa. Thuế chống phá giá áp đặt cho Việt
Nam từ 38% đến 64%. Phương thức mà Hiệp hội cà tra, cá basa (CFA) của Mỹ đã thực
hiện trong vụ tranh chấp với Việt Nam có thể tóm tắt như sau :
+ Trước hết CFA đã gây sức ép bắt các nhà xuất khẩu Việt Nam phải thay đổi tem
dán để phân biệt cá của Việt Nam với cá của Mỹ.
+ Sau đó CFA đã kiện Việt Nam đã phá giá cá tra, cá basa trên thị trường Mỹ.
Gạo của Việt Nam đã từng bị Columbia kiện vào năm 1994 với biên phá giá là 9,7%
nhưng sau đó Columbia quyết định rằng Việt Nam đã không gây thiệt hại về vật chất với
việc sản xuất gạo của Columbia nên không áp dụng thuế chống bán phá giá.
Việt Nam còn rất ít kinh nghiệm trong việc đương đầu với các vụ kiện phá giá và
vận dụng cơ chế chống bán phá giá. Qua các vụ kiện phá giá chúng ta có cơ hội nhìn nhận
rõ hơn thực trạng thương mại quốc tế hiện nay. EU đã bác bỏ vụ kiện DN Việt Nam bán
phá giá bật lửa gas vào thị trường này với lí lẽ DN Việt Nam hoạt động trong nền kinh tế
Quản Trị Doanh Nghiệp
4
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
thị trường. Trong khi đó, Hoa Kỳ lại kết luận Việt Nam có nền kinh tế phi thị trường. Việc
xem xét Việt Nam là nền kinh tế thị trường hay phi thị trường hoàn toàn mang tính chính
trị, không phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật, mặc dù phía Mỹ có đưa ra 5 yếu tố kỹ thuật để
xem xét. Như vậy, kinh tế thị trường chỉ là cái cớ mà nguyên nhân sâu xa chính là giá bán.
Với mức giá 1kg cá basa khoảng 3USD thì các DN Hoa Kỳ cạnh tranh nổi, khi đó hình
thức kiện phá giá được sử dụng nhiều nhất. Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch Hoa Kỳ đã phát
triển một mức tinh vi với các nước có nền kinh tế phát triển, đôi khi lại trắng trợn theo lối
đơn phương – áp đặt, nhất là với các nền kinh tế nhỏ bé. Cách tốt nhất là chúng ta không để
xảy ra kiện cáo bán phá giá. Thực tế chúng ta không bán phá giá nhưng không tìm hiếu xem
đối tác của ta ở nước sở tại chi phí sản xuất như thế nào, bán giá bao nhiêu. Nếu chúng ta
nghiên cứu kỹ, sẽ đưa được mức giá phù hợp, không gây mâu thuẫn về lợi ích với DN Hoa
Kỳ thì chắc chắn việc kiện cáo sẽ ít xảy ra. Mặt khác, ngay cả trong tình hình xuất khẩu
thuận lợi, chúng ta cũng nên san sẻ sang các thị trường khác, bởi cứ gia tăng sản lượng xuất
khẩu vào một thị trường sẽ bị DN nước sở lại phản ứng một cách tiêu cực.
Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ mới đây đã có báo cáo kết luận rằng luật chống
bán phá giá trên thực tế đã gây tổn hao cho nền kinh tế Mỹ nhất là qua vụ kiện tôm được
nhiều nước quan tâm hiện nay, John MaQuaid công tác tại tờ “The Times picayune” đã tập
hợp í kiến của các nhà kinh tế nhằm chỉ ra những điểm phi lí trong luật chống bna1 phá giá
của Mỹ.
“Bán phá giá” gợi lên hình ảnh Công ty nước ngoài theo đuổi chiến lược có chủ í, có
sự phân phối hợp nhằm cản trở DN trong nước bằng hàng NK giá rẻ tràn ngập thị trường.
Đây chình điệp khúc mà ngành công nghiệp đánh bắt tôm ở Mỹ viện làm lí khơi kiện. Ngư
dân đánh bắt tôm ở Mỹ nói riêng họ bị áp đảo bởi xu hướng hàng NK bán phá giá từ 6
nước nuôi tôm đang gia tăng, khiến mặt hàng tôm rơi giá. Liên minh tôm miền nam nước
Mỹ (SSA), đại diện cho 8 bang trong đó Louisiana, đã đệ hơn theo luật chống phá giá, yêu
cầu chính phủ Mỹ áp thuế đối với mặt hàng tôm NK và trợ giá sản phẩm của họ.
Trên thực tế, luật chống phá giá của Mỹ không đòi hỏi bằng chứng cho thấy các
Công ty nước ngoài bị cáo buộc bán phá giá đang phối hợp hành động hay có í định đẩy
mặt hàng của họ tràn ngập thị trường Mỹ. Các nhà kinh tế nói rằng luật chống phá giá được
soạn thảo khái quát và nhiệu trình tự cho luật này là thủ tục hoạt động tiêu chuẩn đổi mới
Quản Trị Doanh Nghiệp
5
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
các DN tại Mỹ và trên thế giới. Sự khác biệt giữa văn bản luật và thực tiễn là điều bình
thường trong thế giới của chống phá mà những người đánh bắt tôm ở Mỹ bước vào.
Khi toàn cầu hóa gây ra làn sóng đổ vỡ xuyên suốt nền kinh tế Mỹ. Thương mại
quốc tế đã trở thành vấn đề chính trị tại Lousiana,cũng như với nhiều bang khác phải chống
chọi với nguy cơ mất việc làm do sự cạnh tranh từ nước ngoài. Luật chống phá giá mở ra
phương thức giúp các ngành công nghiệp gặp khó khăn có được khoản trợ cấp kinh tế tạm
thời. Luật này cũng được xem xét là một chiếc van an toàn về chính trị. Mặc dù các quyết
định về chống phá giá có ảnh hưởng trên toàn thế giới, nhưng chúng lại được quyết định
trong phạm vi một nhóm nhỏ, thiển cận ở Oashintơn. Những í kiến chỉ trích nói rằng các vụ
kiện bị chi phối bởi những quy định mà ít ngưới bên ngoài có thể hiểu được và đầy rẫy
những mâu thuẫn.
Những người đề xướng việc kiện tụng nói rằng luật chống phá giá có thể “làm cân
bằng sân chơi” thương mại quốc tế, nơi làm các Công ty nước ngoài thường không chơi
công bằng và cách chơi của họ đe dọa việc làm của Mỹ. Luật chống phá giá mà Quốc hội
Mỹ ban hành được xem như một vũ khí tự vệ của các ngành công nghiệp. Mục tiêu của luật
này là để cân bằng thương mại bất công. Khái niệm luật chống phá giá cũng tương tự như
luật chống độc quyền, nó có tác dụng sắp xếp lại thị trường nhằm duy trì khả năng cạnh
tranh và bảo vệ người tiêu dùng về lâu dài.
Nhiều í kiến chỉ trích, trong đó có những người ủng hộ thương mại tự do và nhiệu
nhà kinh tế chủ đạo, đồng tinhh2 rằng thương mại toàn cầu thường không công bằng.
Nhung họ cũng nói rằng luật chống phá giá và các quy định của luật này, đặc biệt là những
công thức phức tạp mà Chính phủ áp dụng để tính thuế, là mang tính độc đoán và gây trở
ngại cho các Công ty đang hoạt động theo nguyên tắc thông thường tại thị trường quốc tế.
Họ nói rằng cơ bản về luật này là một hình thức bảo hộ và do đó nó là kẻ thù của thương
mại tự do.
Vụ kiện chống phá giá tôm chỉ là một trong cả chục vụ kiện xẩy ra mỗi năm. Bên
nguyên đơn cáo buộc sáu nước : Trung Quốc, Ecuađo, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam-đã
xuất ồ ạt sản phẩm và thị trường Mỹ với giá thấp hơn giá thành sản xuất. Những người
đánh bắt tôm ở Mỹ đòi hỏi chính phủ áp thuế tôm NK từ 25,76% (mức thấp nhất đối với
Việt Nam) đến 349% (mức cao nhất đối voi Braxin). Chính phủ Mỹ đã sử dụng hệ thống
Quản Trị Doanh Nghiệp
6
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
hai cấp, phức tạp để phân tích vụ kiện bán phá giá. Bộ thương mại Mỹ (DOC) có quyền
quyết định liệu vấn đề bán phá giá có xảy ra trên thực tế hay không và mức thuế nào sẽ
được áp đặt. Ủy ban Thương mại quốc tế Mỹ (USITC) là cơ quan đưa ra phán quyết cuối
cùng, quyết định xem DN Mỹ-trong vụ kiện này là các DN tôm có bị “thiệt hại vật chất” do
hàng NK hay không.Cho tới nay của DOC và USTIC đều có những phán quyết sơ bộ ủng
hộ người đánh bắt tôm ở Mỹ. Theo luật hiện nay, khoản tiền thuế sẽ được dành để trợ cấp
cho ngành công nghiệp tôm nội địa.
Nhìn chung, Chính phủ Mỹ thường có xu hướng đứng về phía các ngành công
nghiệp Mỹ. Theo nhà kinh tế Bruce Blonigen của Đại học tổng hợp bang Oregon, một
chuyên gia nghiên cứu lĩnh vực chống phá giá, có tới 80% vụ kiện có kết luận là xảy ra tình
trạng bán phá giá, khoảng 60% vụ kiện kết luận rằng các DN nội địa bị ảnh hưởng bởi hàng
NK. Thomas Prusa, nhà kinh tế của Đại học tổng hợp Rutgers chuyên nghiên cứu về các vụ
kiện thương mại và chống phá giá nói: “DOC gần như không bao giờ kết luận là không xảy
ra tình trạng bán phá giá”.
Các nhà kinh tế còn nhiều quan tâm đến khác biệt về mục tiêu chính sách cơ bản của
luật chống phá giá. Một số coi luật này là phương thức nuôi dưỡng chủ nghĩa bảo hộ. Một
số khác bảo vệ khái niệm này như một công cụ giữ gìn việc làm và giúp giảm bớt tai họa
của kinh tế toàn cầu. Clyde Prestowitz, Chủ tịch Viện chiến lược kinh tế, một nhóm nghiên
cứu thiên tả có trụ sở tại Oashintơn nói: “Khái niệm chống phá giá là hoàn toàn hợp pháp
và đã được đưa vào các quy định của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) bởi đây là công
cụ để đối phó với một số vấn đề thực tế”. Nhưng nhiều nhà kinh tế nói rằng cách thức mà
DOC phân xử vụ kiện tôm đã bị bóp méo nhằm chống lại các Công ty nước ngoài và thiên
vị các ngư dân đánh bắt tôm ở Mỹ.
Theo các nhà kinh tế, yếu tố gây tranh cãi nhất về luật chống phá giá là cách thức
DOC tính thuế chống phá giá. Các nhà kinh tế của DOC sẽ xem xét sự khác biệt giữa giá
của sản phẩm NK với giá trị thị trường hợp lí. Nếu giá NK thấp hơn có nghĩa là các Công
ty nước ngoài đang bán sản phẩm vào Mỹ với giá quá rẻ, như vậy xuất hiện hiện tượng bán
phá giá. Tuy nhien theo Michael Moore và một số nhà kinh tế khác, khó khăn chính ở đây
là làm sao so sánh giá NK thức tế với “giá thị trường hợp lí” gải thuyết, ở một số trường
hợp việc so sánh như vậy gần như là điều không thể, bởi hầu như chẳng ai biết rõ “giá thị
Quản Trị Doanh Nghiệp
7
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
trường hợp lí”. Tùy thuộc vào tình huống vụ kiện chính phủ Mỹ xác định giá trị thị trường
hợp lí theo những phương thức khác nhau. Trong trường hợp đơn giản nhất, Chính phủ Mỹ
so sánh tại nước XK với giá tại Mỹ. Nhưng trong hầu hết các vụ kiện chống phá giá,
phương thức xác định không đơn giản như vậy : trong số 6 nước bị kiện, SSA nói rằng chỉ
duy nhất Braxin có thị trường nội địa đáng kể về mặt hàng tôm, các nước khác hoặc không
có thị trường lớn về mặt hàng này hoặc là những nước bị quy vào diện không có nền kinh
tế thị trường. Trong những trường hợp như vậy, DOC có khá nhiều lựa chọn phụ, lập danh
sách giá tôm tại một nước thứ ba mà DOC cho rằng co thể so sánh với nước XK. DOC
cũng quyết định xem xét liệu các Công ty nước ngoài có bán tôm dưới mức chi phí sản
xuất, cộng thêm tỉ lệ lợi tức được quy định. Đây là lí lẽ được viện dẫn chống lại tôm NK từ
Việt Nam và Trung Quốc. Chính phủ Mỹ sẽ tiến hành điều tra và thu thập số liệu thoe cách
điều tra và thu thập số liệu theo cách của mình, như lí lẽ mà các luật của nguyên đơn đưa ra
không phải là lí lẽ cuối cùng. Nhưng lí lẽ này những phần nào cho thấy cách thức tiến hành
vụ kiện.
Để đưa ra lí lẽ rằng các Công ty Trung Quốc bán phá giá tôm tại Mỹ, các luật sư của
nguyên đơn đã đặt ra một mô hình kinh tế phức tạp để xác định chi phí sản xuất tôm tại
Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng Trung Quốc và Việt Nam bị xếp vào diện các nước
không có nền kinh tế thị trường, do vậy họ nói rằng số liệu cơ bản, xác thực về chi phí sản
xuất có thể có là không có hiệu lực. Thay vào đó, các luật sư nguyên đơn lấy mức giá và
chi phí tại Mỹ và Ấn Độ làm thị trường phụ để xác định số liệu. Đối với trường hợp Trung
Quốc các luật sư khảo sát các nhà chế biến tôm ở Mỹ nhằm tính toán các hạng mục để có
thể chế biến một pao (0,454kg) tôm đông lạnh, như điện nước, vật liệu đóng gói Tiếp đến
họ nghiên cứu nền kinh tế Ấn Độ để xác định chi phí của các mục này. Sau đó họ kết hợp
hai kết quả này để đưa mức chi phí sản xuất. Cuối cùng, họ ước tính tỉ lệ lãi đối với mặt
hàng của Trung Quốc. Kết quả của cách tính toàn này đưa ra “giá sản xuất” đối với tôm
loại to của Trung Quốc là 10,6 USD/pao-cao hơn 7,72 USD so với mức giá tôm Trung
Quốc nhập vào Mỹ theo số liệu của Cơ quan Hải quan Mỹ và mức chênh lệch này được
chuyển thành mức thuế chống phá giá được đề nghị là 263,68% (mức cao nhất được dự
kiến đối với tôm của Trung Quốc). Các nhà kinh tế nói rằng cách tính toán như vậy bộc lộ
đầy rẫy những bất cập, chỉ nói đơn giản ngay ở việc so sánh giá tại các nước khác nhau.
Quản Trị Doanh Nghiệp
8
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
Michael Moore thắc mắc “Ai dám khẳng định đó đã phải là giá hợp lí chưa? Việc cho rằng
giá viện chuyển tải Ấn Độ hay Trung Quốc cũng đều giống nhaula2 điều hết sức phi lí”
Các nhà kinh tế nói rằng một vấn đề đáng nói nữa là việc chính phủ Mỹ gộp tất cả
các công ty và các nước cùng vào một vụ kiện chung , dù là các công ty khác nhau bán sản
phẩm với múc giá khác nhau , sản phẩm của nước này có thể có cơ cấu giá khác hẳng so
với sản phẩm của nước khác , hoặc thẩm chí là một sản phẩm khác hẳn . Trong vụ kiện tôm
, Ấn Độ đang đưa ra lí lẽ rằng tôm SK của họ là hoàn toàn khác và không thể đem ra so
sánh với tôm của Mỹ
Trên thế giới , từ năm 1995 – 2002, các nước và vùng lãnh thổ bị điều tra bán phá
giá nhiều nhất trong thương mại quốc tế là Trung Quốc 308 vụ, Hàn Quốc : 160 vụ, Mỹ :
115 vụ , Đài Loan : 109 vụ , Indonexia : 91 vụ Như vậy , so với các nước khác thì số vụ
mà các doanh nghiệp Việt Nam bị điều tra còn là con số rất nhỏ . Mặc dù Việt nam đã bị
kiến phá giá từ cách đây 10 năm song chúng ta đã không có một kế hoạch cụ thể để đương
đầu với các vấn đề về giá cả và chống phá giá.
Khi vụ kiện cá tra, cá Basa tạo được sự chú í của dư luận và các doanh nghiệp thủy
sản Việt Nam cũng như những người nông dân việt Nam phải gánh chịu phần thua , lúc này
các Bộ Ngành và các Hiệp hội liên quan mới thực sự lo ngại về khả năng Việt Nam bị kiện
phá giá ở những mặt hàng khác.
Việt Nam không thể tránh khỏi việc tiếp tục bị kiện phá giá. Lí do có thể nêu ra như
chống bán phá giá được sử dụng như một công cụ bảo hộ mới, Việt Nam có điều kiện để
xuất khẩu những mặt hàng giá rẽ và Việt Nam bị cho là một nền kinh tế phi thị trường.
Những hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam thông thường có lợi thế cạnh tranh do giá
nhân công rẽ dẫn đến giá thành thấp so với các quốc gia khác và xu thế ngày càng nhiều
của hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào thị trường quốc tế chắc rằng các cuộc điều tra chống
phá giá đối với các DN Việt Nam sẽ không dừng lại ở đó và một khi đã bị áp đặt thuế
chống bán phá giá thì khả năng xuất khẩu mặt hàng đó sẽ bị giam đi rất nhiều. Vì thế vấn
đề đặt ra cho các DN và các nhà quản lí của Việt Nam là làm thế nào để có thể hạn chế
được những tác động bất lợi đồng hành cùng các công cụ chống bán phá giá.
Quản Trị Doanh Nghiệp
9
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
Chương 3: Biện pháp chống bán phá giá trong thương
mại quốc tế.
1. Tình hình chung:
Trong thương mại quốc tế, khi hàng hóa bị xem là bán phá giá thì chúng có thể bị
áp đặt các biện pháp chống bán phá giá (antiduming) như thuế chống bán phá giá, đặt cọc
hoặc thuế chấp, can thiệp hạn chế định lượng hoặc điều chỉnh mức giá của nhà xuất khẩu
nhằm triệt tiêu nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước nhập khẩu, trong đó
thuế chống bán phá giá và biện pháp phổ biến nhất hiện nay.
Về thực chất, thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhập khấu bổ sung đánh vào
những hàng hóa bị bán phá giá ở nước nhập khẩu nhằm hạn chế những thiệt hại do việc bán
phá giá đưa đến cho ngành sản xuất của nước đó nhằm bảo đảm sự công bằng trong thương
mại (nói chính xác đó là một sự bảo hộ hợp lí cho sản xuất trong nước). Thuế này đánh vào
các nhà sản xuất riêng lẻ chứ không phải là thuế áp đặt chung cho hàng hóa của một quốc
gia. Nguyên tắc chung nêu ra những Hiệp định của WTO là không được phân biệt đối xử
khi áp dụng thuế chống phá giá, tức là nếu hàng hóa bị bán giá được xuất khẩu từ những
quốc gia khác nhau với cùng biên độ phá giá như nhau thì sẽ áp đặt mức thuế chống phá giá
thuộc vào biên độ phá giá của từng nhà xuất khẩu chứ không phải áp dụng bình quân (ngay
cả khi các nhà xuất khẩu từ cùng một quốc gia) và không được phép vượt quá biên độ phá
giá đã được xác định.
Tuy nhiên, không phải bất kì trường hợp bán phá giá nào cũng bị áp đặt các biện
pháp chống bán phá giá. Theo quy định của WTO và luật pháp của rất nhiều nước thì thuế
chống bán phá giá chỉ được áp đặt khi hàng hóa được bán phá giá gây thiệt hại đáng kể hay
đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất ở nước nhập khẩu. Như vậy, nếu một hàng
hóa được xác định là có hiện tượng bán phá giá nhưng không gây thiệt hại đáng kể cho
ngành sản xuất mặt hàng đó ở nước nhập khẩu thì sẽ không bị áp đặt thuế chống bán phá
giá và các biện pháp chống bán phá giá khác. Thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước được
hiểu là tình trạng suy g iam3 đáng kể về số lượng, mức tiêu thụ trong nước, lợi nhuận sản
xuất, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm cho người lao động, đầu tư tới các chỉ tiêu khác
của ngành sản xuất trong nước hoặc dẫn đến khó khăn cho việc hình thành sản xuất trong
nước. Bán phá giá được xác định dựa vào 2 yếu tố cơ bản là: Một là biên độ phá giá từ 2%
Quản Trị Doanh Nghiệp
10
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
trở lên, hai là số lượng, trị giá hàng hóa bán phá giá từ một nước vượt quá 3% tổng khối
lượng hàng nhập (ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các hàng hóa tương tự mới
nước có khối lượng dưới 3%, nhưng tổng số các hàng hóa tương tự của các nước khác nhau
được xuất khẩu vào nước bị bán phá giá chiếm trên 7%).
Theo quy định của WTO, biên độ phá giá được xác định thông qua việc so sánh với
mức giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ ba
thích hợp, với điều kiện là mức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện, hoặc được
xác định thông qua so sánh với chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hóa cộng thêm khoản
chi phí hợp lí cho quản trị, bán hàng, các chi phí chung khác và một khoản lợi nhuận. Như
vậy, có thể hiểu rằng biên độ phá giá là mức chênh lệch giá thông thường của hàng hóa
tương tự với mức giá xuất khấu hiện tại. Việc xác định giá thông thường được tính toán rất
phức tạp dựa trên cơ sở sổ sách và ghi chép của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất là đối
tượng đang được điều tra với điều kiện là sổ sách này phù hợp với các nguyên tắc kế toán
được chấp nhận rộng rãi và phản ánh được một cách hợp lí của chi phí.
Để xác định hàng hóa có bị bán phá giá hay không? Việc bán phá giá có thể gây
thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hay không để áp đặt các biện pháp chống
phá giá thì điều quan trọng nhất và phức tạp nhất này ở quá trình điều tra về bán phá giá. Ở
những quốc gia khác nhau, việc điều tra sẽ được thực hiện bởi các cơ quan chức năng khác
nhau. Theo quy định trong Hiệp định về chống bán phá giá của WTO thì việc điều tra chỉ
được tiến hành khi có đơn yêu cầu bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc của
người dân dành cho ngành sản xuất trong nước. Đơn yêu cầu sẽ được coi là đủ tư cách đại
diện cho ngành sản xuất trong nước nếu như đơn này nhận được sự ủng hộ bởi các nhà sản
xuất chiếm tối thiểu 50% tổng sản lượng của sản phẩm tương tự được bắt đầu nếu như các
nhà sản xuất bày tỏ í kiến tán thành điều tra chiếm ít hơn 25% tổng sản lượng của sản phẩm
tương tự được ngành sản xuất trong nước làm ra.
Trên thực tế, quá trình điều tra về bán phá giá của EU, Mỹ và một số nước cho thấy
việc xác định giá trị thông thường của hàng hóa để làm căn cứ xác định biên độ phá giá quá
phức tạp và đôi khi không minh bạch, vẫn còn rất nhiều áp dặt. Theo luật pháp của Mỹ thì
một khi không thể xác định được giá trị thông thường tại nước xuất khẩu, người ta có thể
lấy mức giá của hàng hóa tương tự trong điều kiện thương mại bình thường ở một nước thứ
Quản Trị Doanh Nghiệp
11
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
ba có trình độ phát triển như nước bị điều tra bán phá giá. Đây chính là cái cớ quan trọng
mà trong vụ kiện phi lí về Thương mại Mỹ đã tính toán giá trị thông thường theo giá trị
Băng-la-đét với lập luận rằng Việt nam chưa có nền kinh tế thị trường, vì vậy các chi phí và
các số liệu của các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp là không phản ánh trung thực và
không tin cậy được. Có thể nói rằng, thuế chống bán phá giá là một công cụ bảo hộ rất
mạnh và rất lợi hại.
2. Một số đề xuất, kiến nghị.
Để chúng ta có thể đồng hành cùng các biện pháp chống bán phá giá, các DN Việt
Nam trước hết cần trang bị cho mình những kiến thức pháp luật về chống bán giá trong
thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, cần lưu một số vấn đề cụ thể sau :
Một là sẵn sàng đương đầu với các phụ kiện phá giá khác.
Chính phủ Việt Nam cần có kế hoạch sẵn sàng đương đầu với các vụ kiện bán phá
giá khác. Việt Nam cần chủ động giảm thiêu tiêu cực của việc chống bán phá giá từ các
nước khác. Cụ thể Việt Nam cần :
Xây dựng một hệ thống thông tin về phá giá và chống bán phá giá.
Xây dựng cơ chế cảnh bảo về kiện phá giá và chống bán phá giá (trực thuộc Bộ
Thương mại), dự kiến những mặt hàng có khả năng bị kiện phá giá.
Xây dựng cách thức tận dụng có hiệu quả các thủ tục điều tra trong khuôn khổ WTO
cũng như thủ tục điều tra của nước kiện phá giá. Chẳng hạn, khi bị áp dụng thuế chống bán
phá giá, quốc gia bị áp thuế có thể tăng giá hàng hóa của mình để chịu mức thuế chống bán
phá giá thấp hơn ở giai đoạn xem xét lại hành vi phá giá.
Tích cực tham gia vào các diễn đàn cùng với các nước đang phát triển để xây dựng
một cơ chế chống bán phá giá chặt chẽ hơn trong khuôn khổ WTO.
Đây được xem là cơ hội để các DN thu thập thông tin về vấn đề này và chứng minh
tính hợp lí của giá xuất khẩu hàng hóa. Một khi các DN Việt Nam đứng ngoài là tự đánh
mất quyền được khiếu nại và quyền kháng nghị của mình. Khi đó các cơ quan điều tra sẽ
đưa ra những phán quyết xủa riêng họ và áp đặt các biện pháp chống phá giá, tất nhiên là
có lợi cho họ. Mặt khác khi các DN nước ngoài thắng kiện, họ sẽ không ngần ngại tiếp tục
kiện các hàng hóa khác và như vậy thì cơ hội XK hàng hóa của các DN Việt Nam sẽ giảm
đi nhanh chóng. Tham gia vụ kiện (rất có thể bị thua do những áp đặt vô lí ), cac DN có thể
Quản Trị Doanh Nghiệp
12
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
rất tốn kém, nhưng từ chối tham gia là sẽ chấp nhận thiệt hại mà thông thường còn lớn hơn
nhiều.
Hai là xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về phá giá, chống bán phá giá: các tình
huống kiện phá giá, các vấn đề liên quan cần được chia theo ngành và ưu tiên theo đặc thù
của nền ngoại thương Việt Nam. Chẳng hạn thời gian trước mắt, các thông tin liên quan
đến các vụ kiện tôm, dệt may, giày dép và khoáng sản cần được ưu tiên thu thập. Chính phủ
và các DN Việt Nam cần lưu í rằng việc nắm bắt và có đầy đủ thông tin về các vụ kiện
trong cùng ngành cũng như những lập luận của bên trong vụ kiện là sự chuẩn bị cần thiết
để sẳn sàng đương đầu với các vụ kiện phá giá trong thời gian tới.
Ba là tổ chức tìm hiểu các vụ kiện về chống bán phá giá của một số ngành và một số
quốc gia lựa chọn : Việt Nam cần thiết phải tìm hiểu các vụ kiện về bán phá giá trong một
số ngành và một số quốc gia mà Việt Nam quan tâm. Trong bối cảnh các quy định về
chống bán phá giá của WTO còn chưa chặt chẽ như hiện nay, việc tìm hiểu các vụ kiện
trong một số ngành là cần thiết. Chính phủ Việt Nam có thể tìm ra được các lí lẽ mà các
nước bị kiện khác đang sử dụng để phản bác lại nước đi kiện.
Bốn là chứng minh “Việt Nam có nền kinh tế thị trường”. Trong vụ kiện giữa Việt
Nam và Mỹ về cá tra, cá basa, Việt Nam bị coi là “nền kinh tế phi thị trường” dẫn đến
những tham chiếu bất lợi khác như phải chọn một nước thứ ba để so sánh chi phí và tính
giá trị thông thường của sản phẩm.
Năm là thuế chống phá giá sẽ áp đặt cho tất cả các DN có hàng xuất khẩu, vì thế khi
bị kiện rất cần có sự tham gia và ủng hộ của tất cả các DN. Nếu đứng ngoài cuộc sẽ luôn bị
áp đặt mức thuế xuất cao nhất. Do đó, cùng đoàn kết thống nhất để tham gia vụ kiện là bài
học quan trọng mà các DN Trung Quốc đã rút ra khi tham gia vụ kiện về nước táo ép của
họ và vụ kiện khác.
Sáu là cố gắng để cuộc điều tra sơ bộ về chống bán phá giá dẫn đến kết luận tốt
nhất. Vấn đề rất quan trọng là các DN phải tìm hiểu thật kỹ và trả lời tất cả các câu hỏi do
cơ quan điều tra nếu ra trong bảng câu hỏi điều tra một cách hợp lí nhất và trong thời gian
sớm nhất. Sự minh bạch và rõ ràng trong các câu trả lời sẽ tạo ấn tượng tốt với các cơ quan
điều tra. Sự tham vấn các í kiến của các luật sư có uy tín trong trường hợp này là rất quan
trọng.
Quản Trị Doanh Nghiệp
13
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
Bảy là cần có những chứng cứ xác đáng để chứng minh việc bán giá thấp (nếu có)
để không gây thiệt hại cho nền sản xuất cả nước nhập khẩu (lượng hàng xuất khẩu chiếm
dưới 3% tổng khối lượng nhập khẩu mặt hàng đó của nước có hàng bán giá thấp) và nếu có
thì biên độ bị coi là phá giá là không đáng kể (dưới 2%). Đồng thời có thể thương lượng
với cơ quan đưa ra phán quyết của nước này nhằm đạt được thỏa thuận về hạn chế định
lượng hoặc chấp nhận một mức giá tối thiểu thay vì áp đặt thuế chống phá giá.
Tám là trong điều kiện có thể hãy thuyết phục các Công ty nhập khấu của nước
ngoài cùng lên tiến trước các cơ quan điều tra rằng thực sự không có tổn hại đáng kể.
Kết luận:
Như vậy trong thời gian vừa qua Việt Nam đã phải đón nhận một số vụ kiện chống
bán phá giá từ một số quốc gia mà chúng ta xuất khẩu hàng hóa sang nước đó. Vấn đề này
chúng ta đã gặp phải từ rất lâu nhưng do chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề
cho nên chưa có sự chuẩn bị chu đáo đối với các vụ kiện. Mặt khác chúng ta còn ít kinh
nghiệm trong vấn đề chống bán phá giá cùng với sự áp đặt của những nước lớn, những
nước mà đang nhập khẩu hàng hóa của chúng ta dẫn đến chúng ta gặp phải những bất lợi
lớn. Hàng hóa của chúng ta có chi phí sản xuất thấp dẫn đến giá bán thấp nhưng vẫn bị cho
là bán phá giá và chịu thuế xuất cao. Điều này dẫn đến giảm kim ngạch xuất khẩu và ảnh
hưởng đến sản xuất trong nước. Trong thới gian tới chúng ta có thể sẽ phải gặp những vụ
kiện bán phá giá mới, cho nên cần phải có những tìm hiểu đúc rút kinh nghiệm và có
phương án giải quyết vấn đề một cách tốt nhất.
Quản Trị Doanh Nghiệp
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét