Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

hoàn thiện chế độ pháp lý về hợp đồng lao động trong công ty TNHH ứng dụng và chuyển giao công nghệ Long Hải

động tạm thời ( 1961) thì năm 1977 Nhà nớc đã xác định HĐLĐ là một "hình
thức tuyển dụng lao động cơ bản".
Sau khi có Nghị quyết Đại hội VI của Đảng. Nhà nớc xác định rõ chính
sách phát triển kinh tế xã hội với phơng châm mở rộng quyền tự chủ cho các
đơn vị kinh tế cơ sở. Theo đó Nhà nớc ban hành Quyết định số 217/ HĐBT (14/
11/ 87) để tạo quyền chủ động về kế hoạch, tài chính, cung ứng và lao động
cho các xí nghiệp quốc doanh. Để thi hành quyết định này Bộ lao động Th-
ơng binh và xã hội ra thông t 01 LĐTB-XH (9/ 1/ 88) hớng dẫn thi hành Quyết
định 217/ HĐBT. Sau 2 năm áp dụng thí điểm đều đạt kết quả tốt đến năm 1990
Nhà nớc ban hành pháp lệnh HĐLĐ để áp dụng trong toàn quốc. Theo các văn
bản trên, việc tuyển dụng lao động vào làm việc khác đều đợc tiến hành thông
qua việc giao kết HĐLĐ. Nh vậy từ năm 1987 đến 1990 HĐLĐ đợc coi là hình
thức tuyển dụng lao động vào làm việc trong các cơ quan xí nghiệp nhà nớc và
các đơn vị sử dụng lao động khác đều đợc tiến hành thông qua việc hợp đồng
giao kết HĐLĐ. Nh vậy, từ năm 1987 đến 1990 HĐLĐ đã đợc coi là hình thức
tuyển dụng lao động chủ yếu trong các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc tất cả
các thành phần kinh tế. Trong thời gian này biên chế Nhà nớc và Hợp đồng lao
động là hai hình thức tuyển dụng lao động tồn tại song song và có vị trí ngang
nhau về mặt pháp lý. Trong đó hình thức biên chế nhà nớc vẫn là hình thức
tuyển dụng trong các cơ quan hành chính sự nghiệp và đối với một số đối tợng
trong các doanh nghiệp quốc doanh ( Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trởng
và thành viên hội đồng quản trị) còn Hợp đồng lao động là hình thức tuyển
dụng đợc sử dụng rộng rãi trong các đơn vị sử dụng lao động thuộc tất cả các
thành phần kinh tế. Một mặt HĐLĐ đợc sử dụng để tuyển lao động mới, mặt
khác nó đợc áp dụng để thay thế cho hình thức biên chế nhà nớc đối với công
nhân viên chức trớc kia trong các xí nghiệp quốc doanh .
Trên cơ sở những văn bản pháp luật đó, đến năm 1994 để thực hiện nhiệm
vụ pháp điển hoá pháp luật lao động, Nhà nớc đã cho ra đời Bộ luật lao động
( 23/ 6/ 94). Về bản chất, HĐLĐ đợc quy định trong bộ luật lao động không có
gì khác so với Hợp đồng lao động trong pháp lệnh HĐLĐ. Song về mặt hiệu lực
pháp lý nó có giá trị cao hơn so với các quy định trớc kia. Đây là cơ sở pháp lý
rất hữu hiệu để xác lập một thị trờng lao động ở ở Việt Nam. Đó là điều kiện để
phát huy nền kinh tế thị trờng và cũng là sự đòi hỏi của nền kinh tế thị trờng.
2) Vai trò điều tiết của pháp luật HĐKT trong nền kinh tế thị trờng
Bộ luật lao động ra đời đã thể hiện đờng lối đổi mới của Đảng và nhà nớc
ta về cụ thể hoá Hiến pháp 1992 và thực hiện nhiệm vụ pháp điển hoá pháp
luật lao động. Trong đó dành hẳn chơng IV về chế dịnh HĐLĐ, trong chơng
này quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của ngời lao động cũng nh của ngời sử
dụng lao động trong quan hệ hợp đồng, điều chỉnh và khuyến khích phát triển
quan hệ lao động đổi mới, ổn định và hài hoà, tăng cờng quản lý lao động bàng
pháp luật, góp phần thúc đẩy sản xuất xã hội phục vụ sự nghiệp Công nghiệp
hoá -Hiện đại hoá đất nớc, vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng
văn minh. Sự ra đời của Bộ luật lao động nói chung và chế định HĐLĐ nói
riêng, đã góp phần quan trọng trong việc điêù chỉnh các mối quan hệ lao động
giữa ngời lao động làm công ăn lơng với ngời sử dụng lao động và các quan hệ
xã hội khác có liên quan đến quan hệ lao động. Sự ra đời của HĐLĐ đã đáp ứng
đợc những yêu cầu khách quan của thị trờng lao động, phù hợp với nền kinh tế
thị trờng, tạo sơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các bên
trong quan hệ lao động đặc biệt là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngời
lao động. Đồng thời nó cũng giúp Nhà nớc quản lý, tổ chức phân công và điều
tiết lao động hợp lý hơn trên phạm vi toàn xã hội. Trong nền kinh tế thị trờng
(KTTT), HĐLĐ là một hình thức pháp lý chủ yếu để thiết lập quan hệ lao động
giữa ngời lao động và sử dụng lao động. Đồng thời qua đó nó còn đảm bảo cho
các bên quyền tự do, tự nguyện lựa chọn và cân nhắc việc làm cũng nh những
lợi ích đợc hởng khi tham gia quan hệ Hợp đồng lao động.
Chế định Hợp đồng lao động đã tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,
quản lý lao động ở nớc ta. Đây là cơ sở pháp lý không thể thiếu đợc đối với các
doanh nghiệp các cơ quan, tổ chức, cá nhân có sử dụng, cũng nh đối với ngời
làm thuê .
3) Khái niệm chung về Hợp đồng lao động
a) Khái niệm HĐLĐ
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa ngời lao động và ngời sử dụng
lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của
mỗi bên trong quan hệ lao động. Nh vậy ba nhân tố cấu thành HĐLĐ, đó là sự
cung ứng công việc sự trae công và sự phụ thuộc pháp lý. Trong đó nhân tố đặc
trng nhất là sự phụ thuộc pháp lý của ngời làm công với ngời sử dụng lao động.
Phải thấy rằng sự phụ thuộc pháp lý gắn với sự phụ thuộc kinh tế, nhng ngợc lại
sự phụ thuộc kinh tế không nhất thiết gắn với sự phụ thuộc pháp lý.
Trong nền KTTT, thông qua Hợp đồng lao động quan hệ lao động mới
chính thức đợc thiết lập. Đó là chế định quan trọng nhất của pháp luật lao động.
Nó có đặc trng sau:
+ Có bồi thờng khi vi phạm
+ Có tính chất song phơng: tiền lơng là phần trả công của một việc làm,
nếu không làm việc, kể cả khi đình công thì không đợc trả lơng.
+ Có hai bên chủ thể : một bên là ngời lao động và một bên là ngời sử
dụng lao động .
+ Có sự thoả thuận tự nguyện về việc cùng nhau thiết lập quan hệ lao
động, bên này sẵn sàng chấp nhận những điều kiện đặt ra của bên kia, không
bên nào áp đặt ý chí cho bên nào .
+ Phải đợc thực hiện liên tục và không có hiệu lực hồi tố của sự vô hiệu, đ-
ợc tạm hoãn trong những trờng hợp bất khả kháng theo pháp luật để đợc tiếp tục
thực hiện sau đó và có thể ký lại trong điều kiện mới
+ Giao kết và thực hiện trực tiếp, không đợc giao kết cho ngời khác làm
thay nếu ngời sử dụng lao động không chấp nhận, không đợc chuyển nhợng
công việc cho ngời thừa kế nếu không có chính sách u đãi của ngời sử dụng lao
động .
HĐLĐ là cơ sở pháp lý cho quan hệ lao động mà ở đó ngời lao động phải
thực hiện các nghĩa vụ lao động còn ngời sử dụng lao động phải đảm bảo điều
kiện sử dụng lao động. Mặt khác, HĐLĐ là bằng chứng về mối quan hệ đặc
biệt quan hệ mua bán sức lao động
Ngoài ra, HĐLĐ có đặc điểm là sự bình đẳng của cả hai bên trong quan hệ
hợp đồng, đợc thể hiện bằng một hợp đồng. Sự thoả thuận dợc ghi nhận dới một
trong hai hình thức : bằng văn bản hoặc bằng miệng. Nội dung của sự thoả
thuận là quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động .
HĐLĐ có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Trớc hết
nó là cơ sở để các doanh nghiệp cơ quan, tổ chức, cá nhân tuyển chọn lao động
phù hợp với yêu cầu của mình. Mặt khác Hợp đồng lao động là một trong
những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để công dân thực hiện quyền tự do làm
việc, tự nguyện lựa chọn việc làm cũng nh nơi làm việc.
- ý nghĩa pháp lý của HĐLĐ :
+ Hợp đồng lao động là cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ lao động trog nền
kinh tế thị trờng các quan hệ pháp luật lao động cụ thể đợc diễn ra trong một
khỏang thời gian nhất định dợc ấn định trớc thông qua sự thoả thuận giữa hai
bên .
+ Hợp đồng lao động là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết
tranh chấp lao động .
+ Hợp đồng lao động là công cụ pháp lý hữu hiệu để nhà nớc quản lý lao
động
+ Các chủ thể HĐLĐ chịu sự tác động của các quy phạm pháp luật lao
động hiện hành và chịu sự tác động của các quy phạm có tính nội bộ trong mỗi
doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức .
b) Đối tợng và phạm vi áp dụng
HĐLĐ đợc giao kết giữa các tổ chức, các đơn vị kinh tế, các cá nhân thuộc
mọi thành phần kinh tế có sử dụng, thuê mớn lao động với những lao động làm
công ăn lơng. Nh vậy có thể thấy đối tợng áp dụng của HĐLĐ là rất rộng lớn
bao gồm:
- Các doanh nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp t nhân, Công ty cổ phần Công
ty trách nhiệm hữu hạn, Hợp tác xã thuê lao động không phải là xã viên các cá
nhân và hộ gia đình có thuê lao động .
- Các cơ quan hành chính sự nghiệp, các đoàn thể nhân dân các tổ chức
chính trị xã hội khác sử dụng lao động không phải là công chức viên chức nhà
nớc .
- Các tổ chức kinh tế thuộc lực lợng quân đội nhân dân, công an nhân dân
sử dụng lao động không phải là sĩ quan, hạ sĩ chiến sĩ.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài theo luật đầu t nớc ngoài tại
Việt Nam, doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp cá nhân , tổ chức,
cơ quan nớc ngoài hoặc tổ chức quốc tế đóng tại Việt Nam.
- Các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Việt nam trên lãnh thổ Việt Nam
sử dụng lao động nớc ngoài, trừ trờng hợp điều ớc quốc tế mà Việt Nam ký kết
hoặc tham gia có quy định khác .
- Các tổ chức, cá nhân sử dụng lao động là ngời nghỉ hu ngời giúp việc gia
đình, công chức viên chức nhà nớc làm những công việc mà quy chế công chức
không cấm .
Những đối tợng khác do tính chất, đặc điểm và mối quan hệ lao động có
những điểm khác biệt nên không thuộc đối tợng để áp dụng Hợp đồng lao động
mà áp dụng theo những phơng thức tuyển và sử dụng lao động khác nh :
+ Công chức viên chức làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp
+ Những ngời đựơc bổ nhiệm làm giám đốc, phó giám đốc, kế toán trởng
và một số ngời khác đợc nhà nớc trả lơng từ ngân sách.
+ Đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, các cấp chuyên trách ng-
ời giữ chức vụ trong cơ quan lập pháp, hành pháp, t pháp đợc quốc hội hoặc hội
đồng nhân dân các cấp bầu hoặc cử ra theo nhiệm kỳ.
+ Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lợng quân đội nhân dân, công an
nhân dân .
+ Những ngời làm việc trong một số ngành, nghề hoặc ở địa bàn đặc biệt
thuộc Bộ quốc phòng, bộ công an do bộ bộ quốc phòng , bộ công an hớng dẫn.
Những ngời thuộc các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội
khác.
c) Các nguyên tắc của HĐLĐ
Pháp luật lao động quy định ra các nguyên tắc cơ bản khi giao kết HĐLĐ
để buộc các bên trong quan hệ lao động phải tuân thủ các nguyên tắc này nhằm
đảm bảo cho việc thực hiện Hợp đồng lao động đợc diễn ra một cách có hệu
quả
Ta đã biết chủ thể của HĐLĐ gồm : Một bên là ngời lao động đến làm
việc tại các cơ quan, tổ chức , đơn vị kinh tế ngời lao động có thể là công dân
Việt Nam hoặc cá nhân ngời nớc ngoài, trong một số trờng hợp nhất định đợc
pháp luật cho phép thì có thể là một nhóm ngời. Còn bên kia là ngời sử dụng
lao động. Có thể là các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trong nớc hoặc ngời nớc
ngoài có nhu cầu sử dụng lao động. Hai bên khi thiết lập quan hệ lao động phải
tuân thủ những nguyên tắc sau:
* HĐLĐ đợc giao kết trên cơ sở hai bên phải tự do, tự nguyện phải thể
hiện bình đẳng trong quan hệ pháp luật lao động .
Nếu việc giao kết Hợp đồng lao động không dạ trên cơ sở tự do, tự
nguyện mà bị ép buộc, lừa dối thì không có giá trị pháp lý .
* Những điều khoản thoả thuận trong hợp đồng không đợc trái với pháp
luật và thoả ớc lao động tạp thể ở những nơi có ký kết lao động tập thể, trong
mọi trờng hợp những thoả thuận trái với quy định của pháp luật, của thoả ớc lao
động đều bị coi là bất hợp pháp .
* Nhà nớc bảo đảm những quyền và lợi ích hợp pháp của hai bên đợc thể
hiện trong HĐLĐ. Đồng thời nhà nớc khuyến khích việc giao kết HĐLĐ mà
trong đó ngời lao động đực sử dụng lao động thoả thuận, cam kết các quyền lợi
cao hơn, điều kiện lao động tốt hơn cho ngời lao động so với các điều kiện, các
tiêu chuẩn lao động đợc quy định trong
d) Các loại Hợp đồng lao động
Để phù hợp với nhu cầu sản xuất- kinh doanh của ngời sử dụng lao động,
tuỳ theo thời hạn hoàn thành từng loại công việc mà HĐLĐ phải đợc giao kết
theo một trong các loại sau:
- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn: là hợp đồng không ấn định
trớc thời hạn kết thúc trong bản HĐLĐ đợc áp dụng cho những công việc có
tính chất thờng xuyên, ổn định từ một năm trở lên. Đối với lại hợp đồng này,
một trong hai bên kết thúc với bất kỳ thời điểm nào là phải tuân theo điều kiện
và thủ tục do pháp luật quy định.
- HĐLĐ xác định thời hạn từ 1 đến 3 năm là loại hợp đồng đợc ấn định tr-
ớc thời hạn một năm, hai năm hoặc ba năm trong bản Hợp đồng lao động: loại
hợp đồng này dợc áp dụng cho những công việc mà ngời sử dụng lao động đã
chủ động xác định đợc thời hạn kết thúc trong kế hoạch sản xuất kinh doanh
của mình HĐLĐ theo mùa vụ hoặc một công việc nhất định mà thời hạn dới
một năm. Đây là loại hợp đồng phổ biến, thích ứng với những công việc đòi hỏi
một lợng thời gian hoàn thnàh ngắn một vài ngày hay một vài tháng dới một
năm, hoặc những công việc có thể ở các doanh nghiệp nông nghiệp có đặc điểm
sản xuất theo mùa, vụ cũng áp dụng trong những trờng hợp chỉ tạm thời thay
thế những ngời lao động đi làm nghĩa vụ quân sự hoặc các nghĩa vụ công dân
khác do pháp luật quy định, những ngời lao động nữ nghỉ thai sản, lao động
khác đợc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao dộng theo thoả thuận với ngời sử
dụng lao động.
4) Chế độ giao kết HĐLĐ
Việc xác lập quan hệ Hợp đồng lao động đợc thực hiện bằng phơng thức
giao kết hợp đồng. Cũng nh các loại hợp đồng khác, HĐLĐ là sự thoả thuận
giữa các bên ( ngời lao động và ngời sử dụng lao động ), là kết quả của sự thoả
thuận ấy, đồng thời cũng là cơ sở cho việc thực hiện hợp đồng. HĐLĐ khác với
hợp đồng khác ở chỗ : một mặt HĐLĐ là cơ sở pháp lý cho quan hệ lao động
mà ở đó ngời lao động phải thực hiện các nghĩa vụ lao động, còn ngời sử dụng
lao động phải đảm bảo các điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động.
Mặt khác, HĐLĐ là bằng chứng về một quan hệ đặc biệt quan hệ mua bán
sức lao động mà trong đó việc mua bán sức lao động không mang tính đoạn
mại. Do đó pháp luật có những quy định riêng biệt để bảo vệ ngời lao động
không chỉ với t cách là ngời chủ sở hữu sức lao động mà cả t cách một con ngời
với quyền nhân thân đặc biệt. Bên cạnh đó pháp luật bảo vệ ngời sử dụng lao
động chỉ với một lý do khác là : Hợp đồng có ý nghĩa sản nghiệp .
a) Các nguyên tắc giao kết HĐLĐ
Theo điều9 Bộ luật lao động quy định"Quan hệ lao động giữa ngời lao
động đợc xác lập và tiến hành qua thơng lợng, thoả thuận theo nguyên tắc tự
nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nhau
thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết. Nhà nớc khuyến khích những thoả
thuận bảo đảm cho ngời lao động có những điều kiện thuận lợi hơn so với
những quy định của pháp luật lao động"
Thông qua quy định của pháp luật có thể thấy HĐLĐ đợc giao kết trên cơ
sở các nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc tự do, tự nguyện
+ Nguyên tắc bình đẳng
+ Nguyên tắc không trái pháp luật và thoả ớc lao động tập thể .
+ nguyên tắc khuyến khích những thoả thuận có lợi hơn cho ngời lao động
so với quy định chung của pháp luật lao động.
* Trên cơ sở các nguyên tắc giao kết HĐLĐ, để xác lập một mối qúan hệ
HĐLĐ cần thực hiện theo phơng thức giao kết sau:
+ Giao kết trực tiếp: HĐLĐ phải đợc giao kết trực tiếp giữa ngời lao động
với ngời thuê mớn, sử dụng lao động hoặc với ngời đại diện hợp pháp của ngời
sử dụng lao động.
+ Giao kết giữa đại của một nhóm ngời lao động với ngời sử dụng lao
động trong trờng hợp này HĐLĐ có hiệu lực nh giao kết trực tiếp. Nhng khi
giao kết HĐLĐ với ngời đại diện cho một nhóm ngời lao động thì hợp đồng
phải làm theo bản danh sách của từng ngời lao động có ghi rõ họ tên, tuổi, địa
chỉ, nghề nghiệp và cả chữ ký. Riêng đối với những HĐLĐ ký bằng miệng thì
ngời sử dụng lao động phải giao kết trực tiếp với ngời lao động. HĐLĐ đợc ký
bằng văn bản thì phải làm thành 2 bản, mỗi bên giữ một bản làm căn cứ pháp lý
theo luật định.
b) Điều kiện về chủ thể giao kết HĐLĐ
HĐLĐ đợc giao kết giữa một bên là ngời lao động và một bên là ngời chủ
thuê mớn lao động. Vì vậy, điều kiện cơ bản về chủ thể giao kết giao kết HĐLĐ
là các bên phải có năng lực pháp lý và năng lực hành vi lao động. Điều kiện cụ
thể lao động là:
+ Đối với ngời sử dụng lao động: pháp luật quy định phải là các doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức có đủ t cách pháp nhân có đủ điều kiện quy định về sử
dụng hoặc trả công lao động.
Nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuối trở lên, có đủ điều kiện thuê m-
ớn, sử dụng lao động và trả công lao động theo luật định. Ngời sử dụng lao
động phải là ngời đứng đầu hay ngời đại diện hợp pháp của một pháp nhân hoặc
chủ doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, phải có nơi c chú hợp pháp, có
khả năng đảm bảo trả công và các điều kiện làm việc trong điều kiện an toàn
lao động.
+ Đối với ngời lao động : theo quy định tại điều 6 Bộ luật lao động thì
ngời lao động phải ít nhất đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và đợc nhà
nớc thừa nhận có những quyền hạn và nghĩa vụ cụ thể trong lĩnh vực lao động
theo quy định của Bộ luật lao động. Nh vậy theo đó thì từ 15 tuổi trở lên có khả
năng lao động đều có quyền tự mình giao kết HĐLĐ.
Pháp luật lao động cũng quy định, trong trờng hợp ngời lao động cha đủ
15 tuổi thì để có thể giao kết HĐLĐ với ngời sử dụng lao động phải đợc sự
đồng ý của cha mẹ hoặc của ngời đại diện hợp pháp theo quy định của pháp
luật. Tuy nhiên, những ngời lao động dới 18 tuổi chỉ đợc giao kết HĐLĐ đối
với những công việc mà pháp luật không cấm làm, những công việc không cấm
sử dụng lao động vị thành niên.
c) Trình tự thủ tục giải quyết HĐLĐ
Việc giao kết một HĐLĐ có thể bằng phơng thức trực tiếp hoặc thông qua
uỷ quyền nhng phải thông qua các bớc sau;
Bớc 1: Đa ra lời ngỏ : Việc đa ra lời ngỏ có thể từ một phía cũng có thể từ
2 phía ngời đa ra lời ngỏ không hề có nghĩa vụ bắt buộc phải xác lập quan hệ
lao động với ngời có nhu cầu nhng phải chịu trách nhiệm về thái độ đa ra lời
ngỏ ấy cũng nh những sự hứa hẹn, cam kết trớc nếu có xác lập quan hệ lao
động.
Bớc 2: Đàm phán các nội dung: Đàm phán rồi đi đến ký kết hợp đồng là
khâu khó nhất. Nó đòi hỏi các bên phải có thông tin về nhau, tốt nhất và xử lý
một cách tốt nhất các thông tin ấy để chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc đàm phán
thoả thuận.
Về phía ngời lao động phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, giấy tờ cần thiết hoặc
sổ lao động để trình ra cho ngời sử dụng lao động xem, còn ngời sử dụng lao
động phải thông báo về tình hình sản xuất- kinh doanh và tài chính của doanh
nghiệp mình cho ngời lao động biết .
Bớc 3: Hoàn thiện sự thoả thuận : Kết thúc cuộc đàm phán, các bên hoàn
thiện hợp đồng. Dĩ nhiên việc hoàn thiện này cũng khác nhau tuỳ thuộc vào
hình thức của hợp đồng. Nếu là hợp đồng ký bằng văn bản thì các bên ghi rõ
nội dung đã đàm phán vào hợp đồng và cuối cùng các bên ký vào hợp đồng,
còn nếu hợp đồng ký bằng miệng, các bên đi dến thoả thuận cuối cùng và nếu
cần thiết thì có thể mời ngời làm chứng. Trong trờng hợp giao kết hợp đồng
bằng lời nói , các bên đơng nhiên cũng phải tuân thủ những quy định của pháp
luật,
d) Nội dung của HĐLĐ
Dới giác độ pháp lý, nội dung của HĐLĐ có thể hiểu đó là toàn bộ những
điều khoản của hợp đồng trong đó chứa đựng các quyền và nghĩa vụ của các
bên khi tham gia thiết lập quan hệ hợp đồng với những thoả thuận đã cam kết.
Tuy nhiên cần phải phân biệt:
- Các điều kiện trực tiếp do các bên tự thơng lợng thoả
- Các điều kiện gián tiếp không phải do các bên tự thoả thuận mà đợc quy
định trong luật hoặc trong văn bản quy phạm pháp luật khác. Chẳng hạn nh các
tiêu chuẩn về tiền lơng, thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động,
vệ sinh lao động Đó là những điều kiện đơng nhiên phải có trong một bản hợp
đồng. Từ các điều kiện trực tiếp và gián tiếp sẽ xuất hiện những quyền và nghĩa
vụ tơng ứng của các chủ thể pháp luật: Theo điều 29- Bộ luật lao động trong
một hợp đồng do hai bên thơng lợng thoả thuận nhất thiết phải có những nội
dung chủ yếu sau :
+ Công việc phải làm : Trong hợp đồng phải nêu rõ những hạn mục công
việc cụ thể, đặc điểm, tính chất công việc và những nhiệm vụ chủ yếu, khối l-
ợng và chất lợng bảo đảm.
+ Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi : cần phải nêu rõ số giờ làm việc
hàng ngày, hàng tuần, theo giờ hành chính hay theo ca kíp, ngày nghỉ hàng
tuần, hàng năm, ngày lễ, việc làm thêm giờ .

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét