Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Huy động Khuyến khích Tổ chức, xã hội , giáo dục

Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
I. Lý do chọn đề tài.
Công tác xã hội hoá giáo dục là chủ trơng lớn của Đảng và nhà nớc. ở
mỗi địa phơng, các cấp uỷ Đảng và chính quyền đã có những nghị quyết và giải
pháp thiết thực phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phơng. Tuy nhiên có không
ít những khó khăn trên con đờng để công tác xã hội hoá giáo dục đi vào cuộc
sống. Chính vì vậy tôi chọn đề tài: Huy động khuyến khích tổ chức sự
tham gia của xã hội cùng làm giáo dục .
II. Nội dung.
1. Cơ sở lý luận:
Xã hội hoá giáo dục là một t tởng chiến lợc, một bộ phận của đờng lối
giáo dục, một con đờng phát triển giáo dục ở nớc ta.Đại hội giáo dục cấp cơ sở
là một cách làm, một biện pháp quan trọng, một con đờng để xã hội hoá giáo
dục. Với quan điểm lấy con ngời trung tâm của sự phát triển , giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục
quốc dân dới sự quản lý của nhà nớc. Giáo dục là sự nghiệp của quần
chúng . Quá trình giáo dục thế hệ trẻ trở thành ngời lao động có tri thức, có
năng lực đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế xã hội không chỉ là trách
nhiệm của ngành giáo dục mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, phải có
sự tham gia tích cực phối hợp chặt chẽ của toàn xã hội, sự tham gia phối hợp ấy
phải đợc tiến hành có tổ chức, khoa học, liên tục mới mang lại hiệu quả. Khái
niệm xã hội hoá đợc dùng trong nhiều lĩnh vực, với nhiều ý nghĩa. Chúng ta
hiểu khái niệm xã hội hoá giáo dục với nghĩa phổ biến nhất là làm cho toàn xã
hội làm giáo dục. Tức là :- Trớc hết làm cho xã hội nhận thức đúng đắn, vị trí,
vai trò của giáo dục, thực trạng của giáo dục địa phơng, nhận thức rõ trách
nhiệm của xã hội đối với giáo dục.
- Làm cho giáo dục phù hợp với phát triển xã hội, phục vụ đắc lực sự phát
triển kinh tế xã hội ở địa phơng.
- Xã hội hoá giáo dục tạo ra nhiều nguồn để làm giáo dục, mở ra một con
đờng để chúng ta làm giáo dục không thuần tuý ở trong nhà trờng, phá
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
1
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
thế đơn độc của nhà trờng, thực hiện việc kết hợp giáo dục trong nhà tr-
ờng và ngoài nhà trờng, kết hợp các lực lợng giáo dục: nhà trờng, gia đình, xã
hội,tạo ra môi trờng giáo dục tốt, thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu giáo
dục
- Xã hội hoá giáo dục nhằm mục tiêu giáo dục cho con ngời. Quy luật
là muốn thực hiện giáo dục cho mọi ngời thì mọi ngời phải làm giáo dục.
2. Cơ sở thực tiễn:
Đại hội giáo dục cấp cơ sở làm cho xã hội hiểu rõ thực trạng của giáo dục
địa phơng thấy đợc vị trí, vai trò, lợi ích của giáo dục, hiểu sâu sắc hơn quan
điểm giáo dục của Đảng về đổi mới sự nghiệp giáo dục, qua đó nâng cao trách
nhiệm của các cấp, các ngành, của nhân dân trong xây dựng và phát triển sự
nghiệp giáo dục địa phơng. Từ đó xây dựng đợc cơ chế liên kết, hợp đồng trách
nhiệm hợp lý giữa các lực lợng xã hội, gia đình, nhà trờng trong xây dựng và
thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục địa phơng.
Đặc biệt kế hoạch huy động học sinh đến lớp, kế hoạch phổ cập ở địa phơng,
củng cố và phát huy truyền thống tốt đẹp của đồng bào địa phơng, nhất là
truyền thống hiếu học, truyền thống tôn s trọng đạo của dân tộc.
Tạo thêm nguồn cơ sở vật chất cho giáo dục, huy động đợc các tổ chức xã hội
tham gia xây dựng giáo dục. Nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ giáo
viên nhà trờng trong việc thực hiện cam kết với cha mẹ học sinh, với địa phơng,
xây dựng nền nếp, kỷ cơng học đờng, tôn vinh nghề dạy học.
3. Cách thức tiến hành:
a. Vận động mọi lực lợng xã hội tham gia công tác giáo dục dới nhiều hình
thức và mức độ khác nhau:
Xã hội hoá công tác giáo dục là một cuộc vận động quần chúng nhân dân
làm giáo dục là cách làm phát động phong trào cách mạng làm giáo dục.
Điều đó hoàn toàn đúng qua luật cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Giáo
dục là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
2
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
Đây là bài học lớn trong kinh nghiệm của lịch sử, của cách mạng và cũng
là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Bài học đó, truyền thống đó đã làm nên
thành công của cách mạng tháng 8/1945, thắng lợi của cuộc kháng chiến toàn
dân, toàn diện 9 năm, vinh quang của sự nghiệp giải phóng Miền Nam thống
nhất nớc nhà. Ngay trong lĩnh vực giáo dục, bài học về vai trò của quần chúng
và truyền thống hiếu học của nhân dân ta đã sáng tạo nên những hình thức học
tập cho nhân dân lao động từ những ngày xa xa của lịch sử dân tộc, đã tạo nên
nhng phong trào toàn dân làm bình dân học vụ, thanh toán nạn mù chữ và chống
thất học khi cách mạng tháng 8/1945 mới thành công. Phong trào quần chúng
đó duy trì suốt cuộc kháng chiến 30 năm ngay cả ở những vùng ác liệt của
chiến trờng Miền Nam. Bài học kinh nghiệm ấy là một nhân tố giải quyết nạn
mù chữ ở vùng mới giải phóng, nhiều vấn đề giáo dục trong những năm khủng
hoảng kinh tế xã hội góp phần quan trọng vào những phát triển và tiến bộ
của giáo dục - đào tạo những năm qua.Xã hội hoá công tác giáo dục trớc hết là
khơi dậy truyền thống và vận dụng những kinh nghiệm vận động quần chúng
tham gia cùng làm giáo dục trong những điều kiện cụ thể, với những đối tợng
cụ thể, tuỳ theo tính chất và yêu cầu của từng hoạt động của giáo dục và nhà tr-
ờng. Chính vì vậy mà cuộc vận động này sẽ thấy bản chất giống nhau giữa các
địa phơng cùng làm xã hội hoá công tác giáo dục, nhng về hình thức biểu hiện
và mức độ tham gia lại rất đa dạng và có khác nhau. Có những hoạt động giáo
dục mà các lực lợng tham gia cha chủ động, thậm chí thụ động, đáp ứng yêu
cầu, một đề nghị hoặc chấp hành một nghị quyết từ bên ngoài. Chẳng hạn nh
việc đóng góp các loại tiền( học phí, lệ phí ) nhân lực, vật lực, hoặc cho nhà
trờng mợn, sử dụng các cơ sở dịch vụ, tham gia dới hình thức phục vụ hoặc
tham gia đóng góp ý kiến bàn bạc về một công việc, một vấn đề nào đó của nhà
trờng ý thức của sự tham gia này thờng là sự chấp nhận một yêu cầu, là sự
nhất trí tuân theo và cũng có khi vì sức ép, đó không thật sự tự nguyện( do các
quy định, do d luận cộng đồng). ở mức độ cao hơn, là sự chủ động của các lực
lợng xã hội tham gia vào hoạt động giáo dục. Họ có thể đứng ra
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
3
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
tổ chức một hoạt động cho giáo dục với t cách là ngời hợp tác với nhà tr-
ờng, ví nh đoàn thanh niên đứng ra tổ chức các hoạt động hè cho học sinh. Họ
có thể tham gia với t cách là ngời thực hiện một trách nhiệm đợc uỷ thác. Họ có
thể tham gia với t cách là ngời đề xuất các hoạt động, hơn thế nữa là ngời xây
dựng chơng trình, kế hoạch, tổ chức thực hiện, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá
Đó là sự tham gia cùng làm giáo dục một cách chủ động biểu hiện ở mức
độ cao của tinh thần tự giác, tự nguyện cá nhân hoặc tổ chức tham gia cùng làm
giáo dục một cách có ý thức rõ ràng có sự cân nhắc, lựa chọn một cách có hiểu
biết về giáo dục, có tình cảm sâu sắc để gánh vác công việc với một ý thức trách
nhiệm đầy đủ.
Xã hội hoá công tác giáo dục trớc hết là tiến hành các hoạt động vận
động để trớc hết nâng cao ý thức của quần chúng từ chỗ còn thụ động đến mức
độ ngày càng cao hơn của tính chủ động.
Một khi quần chúng có tình cảm, có ý thức tự nguyện, tự giác thì sự sáng
tạo các hình thức tham gia cùng làm giáo dục sẽ là vô hạn. Nói dễ trăm lần
không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong không chỉ nói về sức
mạnh vật chất mà còn là sức mạnh của ý chí, của sự sáng tạo của quần chúng.
Vì thế phải tránh mọi sự ép buộc thiếu tự nguyện mệnh lệnh hoặc cha dân
chủ. Các cơ sở không thiếu những biện pháp, kinh nghiệm vận động quần
chúng, vấn đề là các cấp quản lý và lãnh đạo quan tâm đến mức nào.
* Tuỳ theo độ chủ động nói trên của các lực lợng xã hội mà nảy sinh các
mức độ khác nhau của sự tham gia, sự cộng tác, sự hợp tác của họ đối với giáo
dục và nhà trờng. sự tham gia là khái niệm chung và rộng, nhng mới ở mức
độ góp phần của mình vào một hoạt động, một tổ chức chung nào đó, cha thể
hiện hết chiều sâu của việc cùng làm giáo dục.
Sự cộng tác là cùng góp sức làm chung một công việc, nhng có thể không
thực hiện chung một trách nhiệm. Sự cộng tác đôi khi có tính chất nhất thời .
Cần tiến tới sự hợp tác.
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
4
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
Ba hình thức nói trên trong xã hội hoá công tác giáo dục có những khía
cạnh, những mức độ khác nhau tuỳ trình độ tự nguyện, tự giác, tuỳ nhận thức về
chức năng nhiệm vụ, tuỳ khả năng và điều kiện của các lực lợng xã hội và từng
tính chất của từng hoạt động giáo dục. Ngời quản lý thờng phải có ý thức về các
mức độ hình thức đó để có những cơ chế phù hợp với sự tham gia, sự cộng tác
hoặc sự hợp tác, trong quá trình điều hành. Đi vào cụ thể hơn, nhiều cơ sở đã
dùng các kiểu làm nh ký các cam kết , nhằm cụ thể hoá các nội dung công
việc tạo ra những cơ sở pháp lý những ràng buộc trách nhiệm, nhng vẫn có
phần mềm là dựa trên cơ sở của ý thức, tinh thần, đạo đức, tình cảm của mỗi
bên tham gia. Đây là kinh nghiệm thuộc cơ chế thực hiện xã hội hoá công tác
giáo dục.
Có khi chỉ cam kết của một bên là gia đình chẳng hạn, đảm bảo trớc nhà
trờng hoặc giáo viên chủ nhiệm lớp về những điều kiện tối thiểu cho con đi học(
đến trờng đều đặn và đúng giờ, có góc học tập yên tĩnh và đủ ánh sáng
Thực tế xã hội hoá công tác giáo dục ở địa phơng đã cho thấy sự xuất hiện các
hình thức liên kết giữa các lực lợng xã hội và nhà trờng trong công tác giáo dục
đợc gọi là liên kết xã hội s phạm, nó mang tính chất có tổ chức hơn với
những mối quan hệ bền vững hơn.
* Có liên kết dới dạng đỡ đầu.
* Có liên kết dới dạng phối hợp với nhau. Sự phối hợp với các đoàn thể nhân
dân, các tổ chức xã hội khác nhau mang nhiều mằu sắc tích cực cần đợc tận
dụng trong xã hội hoá công tác giáo dục. Trong sự dịch chuyển cơ chế quan lý,
dịch chuyển cơ cấu kinh tế, nhiều tổ chức xã hội mới đã ra đời, đó là những yếu
tố mới mà nhà trờng cần tranh thủ tổ chức phối hợp giáo dục.
Trong thực tiễn giáo dục, sự hợp tác song phơng hoặc đa phơng đã đợc
nảy nở, xã hội hoá công tác giáo dục cần tiến tới những hợp tác nh vậy, vì nó
biểu hiện cao( cho đến lúc này) về sự tham gia của xã hội cùng làm giáo dục.
Nó không chỉ dừng lại ở việc giải quyết những điều kiện để làm giáo dục mà
ngày càng đi vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh,
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
5
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
quá trình đào tạo và phát triển nhân lực cho công nghiệp hoá và hiện đại
hoá.Mục đích chủ yếu của công tác giáo dục, mục đích cuối cùng mà xã hội
hoá công tác giáo dục phải đạt đợc.
b. Một số nguyên tắc làm cơ sở cho việc huy động khuyến khích và tổ
chức tham gia của xã hội cùng làm giáo dục.
Các lĩnh vực nội dung cũng nh các hình thức tham gia của xã hội vào công tác
giáo dục thực sự phong phú và đa dạng.
Thực tế ở địa phơng Cao Minh chỉ ra đợc một số nguyên tắc có thể gợi ý
cho việc huy động và khuyến khích các lực lợng xã hội, đồng thời làm cơ sở
cho việc tổ chức sự tham gia của họ bằng một cơ chế hợp lý, đảm bảo tính liên
tục và bền vững của cuộc vận động xã hội hoá công tác giáo dục. Đó là :
* Nguyên tắc về lợi ích: Mỗi hoạt động hợp tác đều phải xuất phát từ nhu cầu
và lợi ích của cả hai phía, tức là mỗi bên tham gia đều tìm thấy, đều đợc thoả
mãn lợi ích của mình. Nó gồm lợi ích tập thể hoặc cá nhân, phù hợp với đáp ứng
các nhu cầu của các bên trong quan hệ song phơng hoặc đa phơng.
Nguyên tắc này tạo ra động lực cho sự tham gia và bảo đảm cho việc tiếp tục
các hoạt động phối hợp khác nhau sau này.
Nhà trờng dạy cho học sinh chất lợng thì các vị phụ huynh sẽ gắn bó và ủng hộ
nhà trờng.
Trong điều kiện hiện nay, mỗi gia đình đều tính toán một cách cụ thể lợi
ích mỗi khi cho con đi học. Họ rất chủ động trong việc lựa chọn con đờng học
tập và lập thân của con cái. Họ phải tìm thấy lợi ích từ sự học tập, từ nhà trờng.
Một khi đợc đáp ứng thì họ sẵn sàng làm tất cả vì con em họ, vì nhà trờng. Các
cơ quan, tổ chức xã hội, đều có ý thức về tính lợi ích này, bản thân nhà trờng
cũng xuất phát từ nhu cầu của mình mà làm xã hội hoá công tác giáo dục đồng
thời cũng phải phục vụ những mục tiêu kinh tế xã hội của địa phơng. ở một
khía cạnh nhất định, giáo dục phải vì phúc lợi xã hội và mang tính dịch vụ xã
hội.
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
6
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
* Nguyên tắc về tính lợi ích: Nhu cầu này gắn liền với tính hiệu quả của từng
hoạt động phối hợp. Mọi hoạt động phối hợp phải đem lại kết quả cụ thể để tạo
niềm tin cho các cuộc vận động tiếp sau, đảm bảo cho sự phối hợp đó không
phải là hình thức chủ nghĩa, làm chiếu lệ, làm một cách đối phó. Hiệu quả phối
hợp sẽ tạo thành hứng khởi và ý muốn tiếp tục hợp tác. Vì thế nhà trờng phải
biết chọn công việc, chọn hoạt động nào cần huy động cộng đồng cùng làm và
đã làm là phải có hiệu quả và chất lợng. Nh vậy phải làm từ việc nhỏ đến việc
lớn, từ dễ đến khó, làm những việc thiết thực và cụ thể. Qua công việc có hiệu
quả rõ ràng mà nâng cao nhận thức của đối tác từ chỗ lúc đầu nhiều khi thụ
động dần đi đến tự giác, chủ động, sáng tạo và mức độ cao làm chủ sự tham gia
với nhà trờng.
* Nguyên tắc về chức năng và nhiệm vụ:
Bản thân nhà trờng cũng nh các lực lợng xã hội trong cộng đồng các tổ chức có
những chức năng và trách nhiệm riêng.
Để khai thai thác phát huy, khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động
nào đó phải nhằm đúng, phát hiện đúng chức năng và trách nhiệm của đối tác,
vì để thực hiện chức năng và nhiệm vụ đó họ có thể tham gia hoạt động cùng
nhà trờng.
Đoàn thanh niên có một trong những chức năng là giáo dục thế hệ trẻ. Họ sẵn
sàng phối hợp cùng nhà trờng trong các hoạt động giáo dục và nhất là công tác
đoàn trong nhà trờng.
* Nguyên tắc luật pháp: Quá trình huy động khuyến khích có thể và cần dựa
trên cơ sở pháp lý.Đã có luật phổ cập giáo dục tiểu học và luật giáo dục còn có
những văn kiện khác liên quan đến việc học tập của thế hệ trẻ nh hiến pháp, luật
bảo vệ và chăm sóc thiếu niên nhi đồng, luật hôn nhân gia đình , còn có văn
bản dới luật nh pháp lệnh, nghị định, thông t và kể cả nghị quyết của Đảng và
Hội đồng nhân dân các cấp, kể cả quy định, điều lệ nh điều lệ hội cha mẹ học
sinh .
Những văn bản đó là cơ sở pháp lý cho sự vận động của giáo dục đối với các lực
lợng xã hội. Ngợc lại, các cơ quan tổ chức xã hội, các lực lợng xã hội
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
7
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
cũng cần có những cơ sở pháp lý mới phát huy đợc chức năng nhiệm vụ và tham
gia cùng làm giáo dục.
* Nguyên tắc truyền thống tình cảm.
Đó là việc khơi dậy và phát huy truyền thống hiếu học, tôn trọng đạo lý,
đề cao sự học, đề cao giá trị của học vấn và những tình cảm sâu sắc của thế hệ
trẻ, danh dự của cộng đồng, vinh quang của dân tộc, lòng tự tin của cá nhân, kể
cả những yếu tố của những lơng tri, của tấm lòng cao cả mà quan tâm đến việc
giáo dục trẻ một cách vô t Nhiều tr ờng hợp vì tình cảm với con cái, với nhà
trờng, với thầy cô mà sẵn lòng chăm lo cho giáo dục d ới nhiều hình thức
khác nhau. Nêu một số nguyên tắc nh vậy không có nghĩa là việc nào, hoạt
động nào cũng phải vận dụng đủ các nguyên tắc đó. Tuỳ từng đối tợng, tuỳ từng
công việc mà vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện và
hoàn cảnh cụ thể. Những nguyên tắc đó nhằm chỉ ra cách suy nghĩ tìm hớng,
tìm đối tợng để khai thác các tiềm năng làm giáo dục. Nó cũng làm cơ sở cho
mối quan hệ giữa nhà trờng và các lực lợng xã hội, các đối tợng trong cộng
đồng làm cơ sở cho sự liên kết các lực lợng của cộng đồng cùng làm giáo dục.
Vận dụng linh hoạt các nguyên tắc đó mà trờng THCS Cao Minh đã đạt đợc
những thành tựu xã hội hoá công tác giáo dục, nhất là công tác khuyến học
khuyến tài.
c.Về các mối quan hệ trong cơ chế tổ chức tham gia của xã hội cùng làm
giáo dục.
* Đảng và chính quyền giữ vai trò quyết định trong hệ thống các quan hệ quản
lý đối với cuộc vận động xã hội hoá công tác giáo dục.Muốn là xã hội hoá công
tác giáo dục, tức là công tác tổ chức và quản lý hoạt động này, cho nên cần xác
định một số quan hệ trong hệ thống quản lý, góp phần vào việc điều hành ở các
địa phơng.
* Đảng và chính quyền giữ vai trò quyết định trong hệ thống các quan hệ quản
lý đối với cuộc vận động xã hội hoá công tác giáo dục.
Một điều rõ ràng là đảng và chính quyền, nhất là bí th, chủ tịch vào cuộc thì
ở đó xã hội hoá công tác giáo dục thu nhiều kết quả tốt đẹp. Vai trò đó
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
8
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
nằm ở cơ chế chung là đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý và nhân dân làm
chủ. Xã hội hoá công tác giáo dục là một cuộc huy động toàn xã hội phát huy
sức mạnh tổng hợp của mọi nhân tố, mọi lực lợng xã hội. Chỉ có đảng mới có
thể lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, cơ cấu hành chính làm nên sức
mạnh đó. Cũng vậy, xã hội hoá công tác giáo dục thành công hay không phần
lớn phụ thuộc vào việc phải xây dựng đợc những cơ chế phối hợp các lực lợng
dới sự lãnh đạo của Đảng. Về mặt cơ chế mà nói, giáo dục là công việc nhà nớc
phải chăm lo, nhng lại không thể thiếu sự tham gia của các lực lợng xã hội, các
tổ chức quần chúng, gia đình và từng cá nhân.Giải quyết mối quan hệ này ra
sao, điều đó phụ thuộc vào việc các cấp uỷ Đảng có quán triệt những quan
điểm, đờng lối chủ trơng chính sách của Đảng đối với công tác giáo dục hay
không. Đặc biệt là ở cơ sở đó vai trò của Đảng còn mang tính quyết định vì
công tác xã hội hoá giáo dục phải quán triệt cụ thể từng địa phơng.Về vai trò có
chính quyền cần thấm nhuần nghị quyết trung ơng IV của đảng là Huy động
toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng
nền giáo dục quốc dân dới sự quản lý của nhà nớc. Nói đến quản lý nhà nớc
tức là muốn nhấn mạnh chức năng và trách nhiệm của nhà nớc đối với sự
nghiệp giáo dục nh là một lẽ đơng nhiên. Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của
Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm đầy đủ với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn
quản lý của mình. Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Điều đó không chỉ thể hiện
trong sự quản lý của nhà nớc trung ơng mà ngay cả ở chính quyền các địa ph-
ơng. Vì vậy nhà nớc ta khẳng định đầu t cho giáo dục là đầu t cho phát triển và
mặc dù có cố gắng lớn để đầu t cho giáo dục vẫn phải xác định nâng cao hơn
nữa mức đầu t nhân sách cho giáo dục. Trong thực tế giáo dục ở các địa phơng,
đâu đâu cũng có sự đầu t của nhà nớc dù nhiều hay ít, thậm chí có nơi, có lúc
chỉ ở mức độ gây men để giúp phong trào phát triển. Hơn nữa, phải nhấn
mạnh vai trò quản lý của nhà nớc của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân
các cấp trong việc huy động , và khuyến khích sự tham gia của xã hội cùng làm
giáo dục bởi chức năng quản lý nhà nớc. Đặc biệt là trong khi nhấn mạnh việc
xây dựng nhà nớc
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
9
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc phát huy hiệu lực quản lý của
chính quyền là hết sức quan trọng, nó đảm bảo trọng lợng pháp lý, việc phát
huy chức năng nhiệm vụ của các cơ quan, các ngành cho công cuộc xã hội hoá
công tác giáo dục nh đã trình bày ở các nguyên tắc . Mặt khác, xã hội hoá
công tác giáo dục là một cuộc vận động.
Tất nhiên phải vận dụng các cơ chế của quản lý phong trào , nhng sẽ
không có hiệu quả nếu vận động các phơng thức của quản lý nhà nớc.Sự kết hợp
các cơ chế, phơng thức quản lý đó vừa phát triển đợc vận động, vừa đảm bảo
cho cuộc vận động đi đúng hớng mà Đảng đã chỉ ra.
Bằng chức năng quản lý của mình, chính quyền không chỉ huy động,
khuyến khích mà còn tổ chức và điều hành sự phối hợp hoạt động của các lực l-
ợng xã hội tham gia công tác giáo dục .đây ta chỉ nói về vai trò của Đảng và
chính quyền trong hệ thống quản lý đối với công cuộc xã hội hoá công tác giáo
dục.
* Nhà trờng phải giữ vai trò chủ động, trung tâm và nòng cốt trong công cuộc
xã hội hoá công tác giáo dục và trong hệ thống các mối quan hệ của cơ chế tổ
chức sự tham gia của xã hội cùng làm giáo dục.
Với t cách là cơ quan chuyên môn, giáo dục và nhà trờng hiểu rõ hơn ai hết
những nhu cầu của mình về hoạt động nhằm thực hiện mục đích, nội dung, ph-
ơng pháp và việc tổ chức việc giáo dục. Xã hội hoá công tác giáo dục chính là
nhằm đáp ứng những nhu cầu đó của giáo dục vì mục đích chung là sự phát
triển kinh tế xã hội. Vì vậy nhà trờng phải giữ vai trò chủ động. Chủ động
trong việc phát hiện các nhu cầu giáo dục, trong việc xây dựng các chơng trình ,
kế hoạch, phơng án giải quyết các nhu cầu các vấn đề đó. Chủ động trong việc
đề xuất với các lực lợng xã hội. Đó là cách làm quen thuộc của các thủ trởng
ngành ở các cấp và lãnh đạo các nhà trờng bằng cách làm tốt việc tham m u
với cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân .biến nhu cầu đó
thành các nghị quyết, chủ trơng của Đảng và chính quyền tạo ra cơ sở pháp lý
và tranh thủ sự lãnh đạo, quản lý tổ chức trong thực tế hoạt động. Nói chung,
nhà trờng không thể ỷ lại, trông chờ ngời khác
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
10
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
nghĩ hộ mình và làm hộ mình. Ta nói nôm na rằng: xã hội hoá công tác giáo
dục là chuyển những lo toan của mình thành lo toan của xã hội ! Đó chỉ cách
nói nói bóng nhng là cách nghĩ một chiều, dễ dẫn đến sự hạn chế vai trò chủ
động của giáo dục và nhà trờng. Xã hội có thể cần phải san sẻ những lo toan của
giáo dục, nhng lo toan cái gì và lo toan nh thế nào thì lại là sự chủ động, sáng
tạo trớc hết từ các cơ quan giáo dục và nhà trờng . Và không chỉ đề xuất các
nhu cầu, giải pháp mà còn phải chủ động trong cách tổ chức thực hiện. Đã là
hoạt động giáo dục thì những nhà chuyên môn phải đảm đơng trách nhiệm.
Ngay cả việc huy động góp tài chính, nhng nếu không có cách làm đúng tính
chất của một cơ quan giáo dục thì rất có thể ảnh hởng đến uy tín của nhà trờng
hay việc xây dựng một phòng học rõ ràng khác hẳn xây dựng một phòng họp
hay một căn nhà ở, phải có con mắt của nhà s phạm. Nhà trờng phải đóng vai
trò trung tâm trong các hệ thống các mối quan hệ về tổ chức sự tham gia của
các lực lợng xã hội. Trong xã hội hoá công tác giáo dục, khâu quan trọng là tạo
ra cơ chế chi phối giữa các lực lợng xã hội . Nói về cơ chế tức là nói về sự vận
hành của các phần tử một cách chủ động trong hệ thống các mối quan hệ giữa
các phần tử và theo quy luật nhất định. Yếu tố tạo nên sự vận hành ấy phải là
nhà trờng. Nhà trờng không tự thân vận động thì không cũng không tạo ra sự
vận động của các thành tố khác, tức là lực lợng xã hội. Cho nên trong hệ thống
các mối quan hệ về tổ chức các lực lợng xã hội phải nhấn mạnh vai trò trung
tâm của nhà trờng. Ta nói tới các hình thức tham gia của xã hội nh cộng tác,
hợp tác, phối hợp . Trong mọi hình thức đó, nhà tr ờng phải giữ vai trò trung
tâm. Trong các liên kết xã hội s phạm, nhà trờng phải giữ vai trò đầu mối
tiếp hợp vì không có quan hệ này thì không có tổ chức đợc sự tham gia của các
lực lợng xã hội có hiệu quả. Nhà trờng còn phải làm tốt vai trò nòng cốt, với
nghĩa là hạt nhân của các tổ chức và là ngời thực sự tổ chức thực hiện chính
những chủ trơng giải pháp do chính mình đề xuất. Nói nh vậy xã hội hoá công
tác giáo dục không chỉ có một mặt là sự tham gia của xã hội với nhà trờng trong
hoạt động giáo dục mà còn một mặt nữa là giáo dục và nhà trờng phải thực sự
đóp
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
11
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
góp vào sự phát triển xã hội thông qua việc thực hiện chức năng chủ yếu là đào
tạo con ngời và chức năng xã hội hoá khác.
4. Kết quả.
Trong quá trình làm công tác xã hội hoá trờng THCS Cao Minh đã nhận
thức đợc tầm quan trọng của xã hội hoá công tác giáo dục, trên cơ sở sức mạnh
của lòng dân. Công tác xã hội hoá giáo dục đã giúp nhà trờng có những cách
nhìn nhận sát với thực tế cuộc sống hơn, từ đó ngày càng có xu hớng xây dựng
cơ chế làm việc lấy hiệu quả - chất lợng làm thớc đo. Trong xã hội hoá công tác
giáo dục, thì công tác khuyến học khuyến tài đợc coi trọng. Đảng uỷ có nghị
quyết về khuyến học khuyến tài, liên chi bộ của các làng, khu dân c có nghị
quyết về khuyến học khuyến tài. Trên cơ sở đó các làng và khu dân c thành
lập ban khuyến học khuyến tài và tổ chức vận động quyên góp. Kết quả làng
Hội Am quyên góp đợc trên 50 triệu đồng, làng Liễu Điện quyên góp 25 triệu
đồng, làng Tây Am quyên góp 10 triệu đồng, khu dân c Hợp Thành, Tân Lập
quỹ khuyến học có từ 3 đến 5 triệu đồng( Làng Hội Am thành lập quỹ 3 năm
nay, làng Liễu Điện và Tây Am thành lập quỹ 1 năm nay, Hợp Thành, Tân Lập
thành lập quỹ 2 năm nay). Tối mồng 3 tết hàng năm các làng tổ chức tuyên d-
ơng thầy cô giáo dạy giỏi, học sinh giỏi từ cấp trờng đến cấp huyện, cấp
thành phố và học sinh thi đỗ đại học. Do địa phơng có truyền thống hiếu học từ
xa. Hiện nay địa phơng có 03 phó giáo s, 7 tiến sĩ, 2 nhà giáo u tú, 1 thầy thuốc
u tú, hàng chục thạc sĩ, hàng trăm kỹ s, bác sĩ. Hằng năm địa phơng có số học
sinh thi đỗ vào các trờng đại học và học sinh giỏi các cấp tăng và dần dần đi vào
chất lợng. Năm học 2007 -2008, xã Cao Minh có 111 em thi đỗ đại học cao
đẳng, trung cấp. Trong đó 51 em đỗ đại học, 42 em đỗ cao đẳng và 8 em đỗ
trung cấp. Năm học 2007 -2008 trờng THCS Cao Minh có 53 giải học sinh giỏi
cấp huyện các loại (tính cả lớp 6,7,8) và 7 giải cấp thành phố. Chất lợng giải
học sinh giỏi thuộc vào loại cao của huyện. Đó chính là kết quả của xã hội hoá
giáo dục ở xã Cao Minh nói chung và ở trờng THCS Cao Minh nói riêng. Điều
đó cũng khẳng định : Dù cơ sở vật chất có khó khăn, nhng chúng
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
12
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
ta vẫn có thể đảm bảo chất lợng giáo dục, nếu ngời cán bộ quản lý có ý
thức về công tác xã hội hoá giáo dục ở địa bàn mình công tác (nhất là công tác
bồi dỡng học sinh giỏi).
Xây dựng và củng cố mối quan hệ giữ nhà trờng và các lực lợng xã hội
trong việc tổ chức sự tham gia cùng làm giáo dục.Mối quan hệ nhà trờng và gia
đình là mối quan hệ cơ bản nhất.
Để tổ chức thực sự tham gia của các lực lợng xã hội cùng làm giáo dục,
cần tuỳ tính chất và tiềm năng, tuỳ chức năng và nhiệm vụ của các tổ chức xã
hội, các đối tác, mà xác định các mối quan hệ với nhà trờng trong đó tổ chức
hoạt động. Việc duy trì và củng cố có những mối quan hệ đó cần dựa trên
những quy định có tính nguyên tắc đảm bảo sự bền vững lâu dài. Có thể phân
loại ra các nhóm đối tợng :
+ Các cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.
+ Các ngành chức năng thuộc Uỷ ban nhân dân.
+ Các tổ chức đoàn thể nhân dân.
+Các tổ chức xã hội.
+ Các cơ sở, tổ chức sản xuất.
+ Các tổ chức và cá nhân.
+ Gia đình.
Trên tinh thần chung đó, cần đặc biệt xây dựng và củng cố mối quan hệ
giữa nhà trờng và gia đình học sinh. Đây là mối quan hệ cơ bản nhất vì nó quán
triệt đầy đủ các nguyên tắc về mối quan hệ trong tổ chức sự tham gia cùng làm
giáo dục đã nói ở trên.
Gia đình là một tế bào của xã hội , một thiết chế cơ bản của xã hội thực
hiện một trong chức năng của nó là chức năng giáo dục. đây là điểm gặp gỡ
quan trọng giữa nhà trờng và gia đình. Giáo dục gia đình có những chỗ mạnh
đáng kể đó là tình cảm, tính linh hoạt, tính thiết thực, tính thích ứng nhanh nhạy
giữa đối tợng (con cái) và yêu cầu của cuộc sống .(ở đây ch a đề cập đến mặt
yếu của giáo dục gia đình).
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
13
Sáng kiến kinh nghiệm :Huy động Khuyến khích- Tổ chức sự tham gia
của xã hội cùng làm giáo dục.
Những mặt mạnh đó bổ sung cho giáo dục nhà trờng, góp phần hoàn
thiện quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Giữa gia đình
và nhà tròng có sự thống nhất với nhau về một nhu cầu, lợi ích chung là vì tơng
lai thế hệ trẻ. Đó là thuận lợi cơ bản để đi đến thống nhất với nhau về mục đích,
nội dung, phơng pháp giáo dục trẻ em. Nhà trờng và gia đình trong giáo dục đã
và sẽ có những cơ sở pháp lý để thực hiện sự phối hợp. Những điều quan trọng
chính là tình cảm gia đình đối với con cái và đối với nhà trờng. Con ngời và các
gia đình Việt Nam dốc cả tâm sức tình cảm và cuộc đời cho con cái. Cũng vì
vậy cần giữ vững truyền thống hiếu học, quý trọng và biết ơn thầy cô giáo.
+ Củng cố và phát huy vai trò của gia đình trong xã hội hoá công tác giáo dục là
chăm lo xây dựng, củng cố, phát huy vai trò của hội cha mẹ học sinh.
Nó giúp cho gia đình tham gia công tác giáo dục một cách có tổ chức và
có sức mạnh, làm cho tiếng nói gia đình đối với nhà trờng thêm tăng trọng lợng.
Và bản thân cha mẹ học sinh cũng có một sức mạnh tập thể đi tham gia giáo
dục
III.Kết luận.
Ngời viết: Phạm Ngọc Kiều Tr ờng THCS Cao Minh
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét