Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Công ty xuất nhập khẩu nông sản An Giang

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang



GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm


CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm vốn kinh doanh
Hoạt động kinh doanh đòi hỏi cần phải có vốn đầu tư. Có thể nói rằng, vốn
là tiền đề cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Như chúng ta đã biết, trước khi
đi vào hoạt động, doanh nghiệp phải đăng ký vốn pháp định, vốn điều lệ.
Vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra các hoạt động kinh doanh. Vốn
được xem là số tiền ứng trước cho kinh doanh. Trong điều kiện hiện nay, doanh
nghiệp có thể vận dụng các hình thức huy động và đầu tư vốn khác nhau để đạt
được mức sinh lời cao nhất nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ của pháp luật.
Vốn được biểu hiện là một khoản tiền bỏ ra nhằm mục đích kiếm lời. Vốn
kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện của toàn b
ộ tài sản doanh nghiệp bỏ ra
cho hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. Vốn kinh doanh được hình
thành từ nhiều nguồn khác nhau. Hai nguồn cơ bản hình thành nên vốn kinh
doanh là: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
1.1.1.1
Vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu biểu hiện quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp đối
với các tài sản hiện có ở doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu được tạo nên từ các
nguồn:
- Số tiền đóng góp của nhà đầu tư - chủ doanh nghiệp.
- Lợi nhuận chưa phân phối - số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động kinh doanh
c
ủa doanh nghiệp.
Ngoài hai nguồn chủ yếu trên, vốn chủ sở hữu còn bao gồm chênh lệch
đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá, các quỹ dự phòng…
1.1.1.2 Nợ phải trả
Nợ phải trả bao gồm các khoản vay ngắn hạn, dài hạn, các khoản phải trả
phải nộp khác nhưng chưa đến kỳ hạn trả, nộp như: phải trả người bán, phải trả
công nhân viên, phải trả khách hàng, các khoản phải nộp cho Nhà nước.

1.1.2 Phân loại vốn

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 5
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang



GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm


Như khái niệm đã nêu, chúng ta thấy vốn có nhiều loại và tùy vào căn cứ để
chúng ta phân loại vốn:
- Căn cứ vào hình thái biểu hiện, vốn được chia làm hai loại: Vốn hữu hình
và vốn vô hình.
- Căn cứ vào phương thức luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: Vốn cố
định và vốn lưu động.
- Căn cứ vào thời hạn luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: Vốn ngắn
hạn và v
ốn dài hạn.
- Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn được hình thành từ hai nguồn cơ bản:
Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
- Căn cứ vào nội dung vật chất, vốn được chia làm hai loại: Vốn thực (còn
gọi là vốn vật tư hàng hóa) và vốn tài chính (hay còn gọi là vốn tiền tệ).
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình với các
chu kỳ được lậ
p đi lập lại, mỗi chu kỳ được chia làm nhiều giai đoạn từ chuẩn bị
sản xuất, sản xuất và tiêu thụ. Trong mỗi giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh
doanh, vốn được luân chuyển và tuần hoàn không ngừng, trên cơ sở đó nó hình
thành vốn cố định và vốn lưu động mà chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ
hơn vai trò của chúng.
1.1.2.1
Vốn cố định
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có
tư liệu lao động, đó chính là đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị… chúng giữ
vai trò là môi giới trong quá trình lao động.
Trong nền sản xuất hàng hóa, việc mua sắm hay quản lý tư liệu lao động
phải sử dụng tiền tệ. Chính vì lẽ đó, doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động kinh
doanh phải ứng trước một số tiề
n vốn nhất định về tư liệu lao động. Số vốn này
được luân chuyển theo mức hao mòn dần của tư liệu lao động. Khi tham gia vào
quá trình sản xuất, tư liệu lao động vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu và
tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, trong thời gian sử dụng chúng bị
hao mòn dần. Vì vậy, giá trị của tư liệu lao động phụ thuộc vào mức độ hao mòn
vật chất
được chuyển dịch dần từng bộ phận vào sản phẩm mới. Bộ phận giá trị
chuyển dịch của tư liệu lao động hợp thành một yếu tố chi phí sản xuất của doanh
nghiệp và được bù đắp mỗi khi sản phẩm được thực hiện. Vì có đặc điểm trong

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 6
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang



GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm


quá trình luân chuyển, hình thái vật chất của tư liệu lao động không thay đổi, còn
giá trị thì luân chuyển dần, cho nên bộ phận vốn ứng trước này là vốn cố định.
Từ những nhận định đã nêu ta thấy:
Vốn cố định của doanh nghiệp là số vốn ứng trước về những tư liệu lao
động chủ yếu mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từ
ng bộ phận giá trị
vào sản phẩm mới cho đến khi tư liệu lao động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố
định mới hoàn thành một lần luân chuyển (hoặc hoàn thành một vòng tuần hoàn).
Vốn cố định phản ánh bằng tiền bộ phận tư liệu lao động chủ yếu của doanh
nghiệp. Tư liệu lao động lại là cơ sở vật chất củ
a nền sản xuất xã hội. Chính vì
thế, vốn cố định có tác dụng rất lớn đối với việc phát triển nền sản xuất xã hội.
Tài sản cố định và vốn cố định của doanh nghiệp có sự khác nhau ở chổ: khi
bắt đầu hoạt động, doanh nghiệp có vốn cố định giá trị bằng giá trị tài sản cố
định. Về sau, giá trị của vốn cố
định thấp hơn giá trị nguyên thủy của tài sản cố
định do khoản khấu hao đã trích.
Trong quá trình luân chuyển, hình thái hiện vật của vốn cố định vẫn giữ
nguyên (đối với tài sản cố định hữu hình), nhưng hình thái giá trị của nó lại thông
qua hình thức khấu hao chuyển dần từng bộ phận thành quỹ khấu hao. Do đó,
trong công tác quản lý vốn cố định phải đảm bảo hai yêu c
ầu: một là bảo đảm
cho tài sản cố định của doanh nghiệp được toàn vẹn và nâng cao hiệu quả sử
dụng của nó; hai là phải tính chính xác số trích lập quỹ khấu hao, đồng thời phân
bổ và sử dụng quỹ này để bù đắp giá trị hao mòn, thực hiện tái sản xuất tài sản cố
định.
Sau khi đã ứng trước một số vốn cho tư liệu lao động, để tiến hành sả
n xuất
kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có đối tượng lao động và sức lao động. Đây
chính là vốn lưu động tại doanh nghiệp.
1.1.2.2
Vốn lưu động
Vốn lưu động là số vốn ứng trước về đối tượng lao động và tiền lương.
Trong thực tế vận động, chúng thể hiện thông qua hình thái tồn tại như nguyên
vật liệu ở khâu dự trữ sản xuất, sản phẩm đang chế tạo ở khâu trực tiếp sản xuất,
thành phẩm, hàng hóa, tiền tệ ở khâu lưu thông.
Đối tượng lao động ở doanh nghi
ệp biểu hiện thành hai bộ phận: một bộ
phận là vật tư dự trữ để chuẩn bị sản xuất, một bộ phận là những vật tư đang
trong quá trình chế biến (sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm tự chế). Hình

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 7
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang



GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm


thái hiện vật của hai bộ phận này là tài sản lưu động. Tài sản lưu động phục vụ
trực tiếp cho quá trình sản xuất là tài sản lưu động sản xuất.
Trong hoạt động kinh doanh, không phải lúc nào sản phẩm sản xuất ra được
tiêu thụ ngay. Thực tế cho thấy, sau khi sản phẩm hoàn thành, doanh nghiệp phải
chọn lọc, đóng gói, tích lũy thành lô hàng, thanh toán với khách hàng… nên hình
thành một số khoản vật tư
và tiền tệ (thành phẩm, vốn bằng tiền, khoản phải
trả…). Những khoản vật tư và tiền tệ phát sinh trong quá trình lưu thông gọi là
tài sản lưu thông.
Do tính chất liên tục của hoạt động kinh doanh, mọi doanh nghiệp phải có
một số vốn thỏa đáng để mua sắm tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông.
Cả hai loại tài sản này thay thế lẫn nhau vận độ
ng không ngừng để quá trình sản
xuất kinh doanh được tiến hành thuận lợi. Trong nền kinh tế hàng hóa, tài sản lưu
động sản xuất và tài sản lưu thông được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ. Số vốn
ứng trước cho những tài sản này gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Vậy vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng trước về đối tượng lao
động và ti
ền lương tồn tại dưới các hình thái nguyên vật liệu dự trữ, sản phẩm
đang chế tạo, thành phẩm, hàng hóa và tiền tệ hoặc đó là số vốn ứng trước về tài
sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông ứng ra bằng số vốn lưu động nhằm
đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thực hiện thường xuyên liên tục. Vốn
lưu độ
ng luân chuyển giá trị toàn bộ ngay trong một lần và hoàn thành một vòng
tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất.
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản
xuất kinh doanh. Do đặc điểm tuần hoàn của vốn lưu động trong cùng một lúc nó
phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau. Để tổ chức hợ
p lý sự tuần hoàn của các tài sản ở doanh nghiệp, để quá
trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục doanh nghiệp phải có đủ vốn để đầu tư
vào các hình thái khác nhau như đã nêu làm cho các hình thái này có mức tồn tại
hợp lý và đồng bộ.
Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và kiểm tra quá trình vận động của
vật tư. Trong doanh nghiệp, sự vận động của vốn phản ánh sự vận động củ
a vật
tư. Vốn lưu động nhiều hay ít phản ánh số lượng vật tư hàng hóa dự trữ ở các
khâu nhiều hay ít. Mặt khác, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm phản
ánh số lượng vật tư sử dụng có tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản
xuất và lưu thông có hợp lý hay không. Vì thế, thông qua tình hình luân chuyển

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 8
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang



GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm


vốn lưu động còn có thể kiểm tra một cách toàn diện việc cung cấp, sản xuất và
tiêu thụ của doanh nghiệp.
Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng của tài sản quốc gia. Tại doanh
nghiệp, tổng số vốn lưu động và tính chất sử dụng của nó có quan hệ chặt chẽ với
những chỉ tiêu công tác cơ bản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đảm bảo
đầy đủ,
kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất, ra sức tiết kiệm vốn, phân bổ vốn hợp lý trên
các giai đoạn luân chuyển, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thì với số vốn ít
nhất có thể đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất, tiêu
thụ sản phẩm là điều kiện để thực hiện tốt nghĩ
a vụ với ngân sách, trả nợ vay,
thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
1.1.3 Cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Cấu trúc vốn của doanh nghiệp được thể hiện trên bảng cân đối kế toán, ở
đó nó mô tả sức mạnh tài chính của doanh nghiệp: những thứ doanh nghiệp hiện
có và các thứ doanh nghiệp còn nợ tại một thời điểm.
Dựa vào bả
ng cân đối kế toán, cụ thể bên phần nguồn vốn sẽ cho ta thấy
được cấu trúc vốn của doanh nghiệp: doanh nghiệp đã sử dụng vốn chủ sở hữu
bao nhiêu, vốn vay bao nhiêu và những nguồn vốn được tài trợ từ các lĩnh vực
khác bao nhiêu.
1.1.4 Vấn đề bảo toàn vốn kinh doanh
Bước vào lĩnh vực kinh doanh là để kiếm lời, phần thu về trước hết phải bù
đắp phần v
ốn đã bỏ ra. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp bảo toàn được
vốn, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả, doanh
nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Biểu hiện trên
thực tế là quy mô của doanh nghiệp được mở rộng, đời sống nhân viên được cải
thiện, mối quan hệ với khách hàng ngày càng tốt đẹp, hoàn thành tố
t nghĩa vụ đối
với Nhà nước.
Thông qua những biểu hiện nêu trên, cho thấy doanh nghiệp đang thịnh
vượng, đang trên đà phát triển rất tốt. Một lần nữa có thể khẳng định rằng, vấn đề
bảo toàn vốn là mục tiêu phấn đấu hàng đầu của tất cả các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế.
Tóm lại, phần phân tích trên đã cho thấy khái quát các vấn đề v
ề cơ cấu vốn
ở doanh nghiệp. Phần tiếp theo chúng ta tiến hành nghiên cứu tình hình tài chính
tại doanh nghiệp.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 9
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang



GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm


1.2 PHÂN TÍCH CHUNG VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
Phân tích chung tình hình tài chính là đánh giá khái quát sự biến động cuối
năm so với đầu năm về tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, đồng thời xem
xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn nhằm rút ra những nhận xét
ban đầu về tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.2.1 Đánh giá khái quát sự biến động về tài sản và nguồn vốn
Thông tin trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, chúng ta tiến hành:
- So sánh tổng tài sả
n giữa đầu năm và cuối năm để đánh giá sự biến động
về quy mô của doanh nghiệp. So sánh giá trị và tỷ trọng các bộ phận cấu
thành tài sản giữa đầu năm và cuối năm để thấy được nguyên nhân ban
đầu ảnh hưởng đến tình hình trên.
- So sánh tổng nguồn vốn giữa đầu năm và cuối năm để đánh giá mức độ
huy động vốn đảm bảo cho quá trình s
ản xuất, kinh doanh. So sánh giá trị
và tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nguồn vốn để phát hiện nguyên
nhân ban đầu ảnh hưởng đến tình hình trên.
1.2.2 Phân tích tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
Xem xét mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, nhằm đánh giá tình hình
huy động, phân bổ và sử dụng các loại vốn và nguồn vốn.
Theo quan điểm luân chuyển vốn, xét về mặt lý thuyết vốn chủ sở
hữu đủ
trang trải các loại tài sản đảm bảo cho các hoạt động chủ yếu tại doanh nghiệp
mà không cần phải đi vay hay chiếm dụng của đơn vị khác. Do đó, ta có cân đối
sau:
B.NV = [I+II+IV+(2,3)V+VI] A.TS+[I+II+III] B.TS (1.1)
Trong đó, NV: nguồn vốn.
TS: tài sản.
Cân đối trên chỉ mang tính chất lý thuyết, thực tế cho thấy, trong quá trình
hoạt động của doanh nghiệp, cân đối (1.1) xảy ra một trong hai trường hợp sau:
Trường hợ
p1: vế trái > vế phải. Đây là trường hợp vốn chủ sở hữu sử dụng
không hết và doanh nghiệp đang bị đơn vị khác chiếm dụng vốn. Chúng ta cần
xem xét số vốn bị chiếm dụng có hợp lý hay không.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 10
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang



GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm


Trường hợp 2: vế trái < vế phải. Đây là trường hợp vốn chủ sở hữu không
đủ trang trải cho các hoạt động chủ yếu, doanh nghiệp phải đi vay hay chiếm
dụng vốn. Vấn đề đặt ra là vốn đi vay hay chiếm dụng có hợp lý hay không. Ta
có cân đối:
[(1,2)I+II] A.NV+B.NV = [I+II+IV+(2,3)V+VI] A.TS+[I+II+II] B.TS (1.2)
Cân đối (1.2) cho thấy vốn vay và vốn chủ sở hữu đủ trang trải cho các hoạt
động của doanh nghiệp, nhưng trên th
ực tế cân đối này ít xảy ra, mà chủ yếu xảy
ra một trong hai trường hợp sau:
Trường hợp 1: vế trái > vế phải. Vốn đi vay và vốn chủ sở hữu doanh
nghiệp sử dụng không hết vào các hoạt động và bị đơn vị khác chiếm dụng.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn nhỏ hơn vốn doanh
nghiệp bị chiếm dụng.
Trường h
ợp 2: vế trái < vế phải. Vốn vay và vốn chủ sử hữu không đủ
trang trải doanh nghiệp phải đi chiếm dụng vốn của đơn vị khác. Trong trường
hợp này, vốn đi chiếm dụng lớn hơn vốn bị chiếm dụng.
Vốn đi chiếm dụng Vốn bị chiếm dụng
[(3→8)I+III] A.NV [III+(1,4,5)V] A.TS+IV B.TS
Vậy, qua phân tích ta có cân đối chung thể hiện tinh thần của bảng cân đối
kế toán là:
(A + B)TS = (A + B)NV (1.3)
Sau khi đã có những nhận định ban đầu về tình hình tài chính, ta tiến hành
phân tích hiệu quả sử dụng vốn.
1.3 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn. Đó là
nhân tố quyết định cho sự tồn tại và tăng trưởng củ
a mỗi doanh nghiệp. Tính hiệu
quả của việc sử dụng vốn nói chung là tạo ra nhiều sản phẩm tăng thêm lợi nhuận
nhưng không tăng vốn; hoặc đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng
quy mô sản xuất để tăng doanh thu nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu tốc độ tăng lợi
nhuận lớn hơn tốc độ tăng vốn.
Một số chỉ tiêu cần xem xét khi phân tích hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn
kinh doanh:

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 11
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang



GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm



Doanh thu thuần
Tổng vốn sử dụng bình quân
=
Số vòng quay
toàn bộ vốn
(1.4)

Chỉ tiêu này cho thấy hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp, nghĩa là vốn
quay bao nhiêu vòng trong năm. Hệ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp sử
dụng vốn có hiệu quả.
Tỷ lệ hoàn vốn (ROI: Return On Investment)
(1.5)
Lợi nhuận sau thuế
Tổng vốn sử dụng bình quân
=
ROI

Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng vốn sử dụng bình quân trong kỳ mang về
bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy vốn sử dụng
có hiệu quả.
1.3.1 Chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận
1.3.1.1
Chỉ tiêu doanh thu
Doanh thu là toàn bộ số tiền doanh nghiệp thu về từ các hoạt động của mình
trong kỳ kinh doanh, bao gồm: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh,
doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập bất thường.
Chỉ tiêu doanh thu có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp (trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh, chỉ tiêu doanh thu luôn
đứng đầu):
- Doanh thu là nguồn chủ yếu để trang trải các khoản chi phí mà doanh
nghiệp đã bỏ ra trong kỳ kinh doanh. Đây là đi
ều kiện tiên quyết để doanh
nghiệp có thể duy trì hoạt động kinh doanh cũng như mở rộng quy mô
kinh doanh.
- Là nguồn đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà
nước.
- Ở khía cạnh nào đó chỉ tiêu doanh thu còn phản ánh “chữ tín trong kinh
doanh” của doanh nghiệp.
1.3.1.2
Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận của doanh nghiệp là số tiền dôi ra giữa tổng thu và tổng chi trong
hoạt động của mình hoặc đó là phần dôi ra của một hoạt động sau khi đã trừ chi
phí của hoạt động đó.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 12
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang



GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm


- Chỉ tiêu lợi nhuận phản ánh kết quả kinh doanh cuối cùng trong kỳ.
- Là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất xã hội.
- Lợi nhuận cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sức
mạnh và triển vọng tài chính của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu “hấp dẫn”
để thu hút vốn đầu tư.
Từ hai chỉ tiêu trên, chúng ta tính được các tỷ số về doanh lợi. Đây là chỉ
tiêu về tỷ suất lợi nhuận, phản ánh kết quả của hàng loạt các chính sách và quyết
định của doanh nghiệp, là đáp số cuối cùng về hiệu năng quản trị doanh nghiệp.
 Doanh lợi tiêu thụ (ROS: Return On Sale)
Doanh lợi tiêu thụ phản ánh mức sinh lời trên doanh thu, cứ 100 đồng doanh
thu thuần thì sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Có thể dùng nó để so
sánh với tỷ số của các năm trước hay của doanh nghiệ
p khác cùng ngành.

(1.6)

Lợi nhuận sau thuế (lợi nhuận ròng): là khoản lời còn lại của doanh nghiệp
sau khi đã trừ tổng chi phí và thuế thu nhập.
Sự thay đổi mức sinh lời phản ánh những thay đổi về hiệu quả, đường lối
sản phẩm hoặc loại khách hàng mà doanh nghiệp phục vụ.
Lợi nhuận sau thuế
Doanh Thu thuần
=
ROS
 Doanh lợi vốn tự có (ROE: Return On Equity)
Doanh lợi vốn tự có phản ánh hiệu quả của vốn tự có hay chính xác hơn là
đo lường mức sinh lời đầu tư của vốn chủ sở hữu.
(1.7)
Lợi nhuận sau thuế
Vốn tự có
=
ROE

Các nhà đầu tư rất quan tâm đến tỷ số này, bởi đây là khả năng thu nhập mà
họ có thể nhận được nếu họ quyết định đầu tư vào doanh nghiệp.
1.3.2 Hiệu quả kinh doanh
1.3.2.1
Khái niệm hiệu quả kinh doanh
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, hiệu quả luôn là vấn đề được mọi doanh
nghiệp và toàn xã hội quan tâm. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ sử dụng nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp cũng như của nền kinh
tế để thực hiện mục tiêu đề ra.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 13
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang



GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm



(1.8)

Hiệu quả chính là lợi ích tối đa thu được trên chi phí tối thiểu. Hiệu quả
kinh doanh là kết quả “đầu ra” tối đa trên chi phí “đầu vào” tối thiểu.
Vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh là toàn bộ quá trình doanh nghiệp sử
dụng hợp lý các nguồn lực sẵn có của mình: vốn, lao động, kỹ thuật… trong hoạt
động kinh doanh để đạt được kết quả mong muốn, cụ thể là lợi nhuận đượ
c tối đa
hóa.
1.3.2.2
Vai trò của hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả kinh doanh xuất
nhập khẩu nói riêng.
Hiệu quả kinh tế chính là mục tiêu hàng đầu mà mọi cá nhân, mọi tổ chức
khi tiến hành kinh doanh đều mong muốn đạt được. Hiệu quả kinh tế được thể
hiện thông qua lợi nhuận thu được tối đa trên chi phí tối thiểu, nó góp phần bổ
sung vốn kinh doanh, tăng quy mô sản xuất, tích lũy ngoại tệ, tăng thu ngân sách,
cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Hoạt động kinh doanh xu
ất nhập khẩu là lĩnh vực kinh doanh quan trọng
của đất nước. Hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu góp phần nâng cao năng lực
sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập nâng cao đời sống cho người
lao động, góp phần cũng cố cán cân thanh toán quốc tế của đất nước.
Tóm lại, mỗi đơn vị kinh doanh là một tế bào của nền kinh tế, do vậy đơn vị

hoạt động có hiệu quả thì nền kinh tế cũng đạt hiệu quả. Nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước.
1.3.3 Hiệu quả sử dụng vốn cố định
Vốn cố định biểu hiện giá trị bằng tiền của các loại tài sản cố định ở doanh
nghiệp, thể hiện quy mô c
ủa doanh nghiệp. Tài sản cố định nhiều hay ít, chất
lượng hay không chất lượng, sử dụng chúng có hiệu quả hay không đều ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. Một số chỉ tiêu cần phân tích để
đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
 Hiệu suất sử dụng vốn cố định: đo lường việc sử d
ụng vốn cố định.
(1.9)

Hiệu quả
kinh doanh
Kết quả “đầu ra”
Chi phí “đầu vào”
=
Doanh thu
Vốn cố định sử dụng bình quân
Hiệu suất sử dụng
vốn cố định
=

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét